Tình hình kinh tế nông nghiệp miền Nam Việt Nam 1955 – 1975(tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử – chuyên ngành Lịch sử Việt Nam Cận-Hiện đại)

Bìa Luận văn

Bìa Luận văn

STT

Mở đầu

Trang

1

Lý do chọn đề tài

1

2

Tình hình nghiên cứu

2

2.1 Các công trình nghiên cứu của giới sử học cách mạng

2

2.1.1 Các nghiên cứu thời kỳ 1954-1975

2

2.1.2 Các nghiên cứu thời kỳ 1975-1985

3

2.1.3 Các nghiên cứu thời kỳ từ 1986 đến nay

5

2.2 Những nghiên cứu của các tác giả miền Nam sống dưới thời chế độ VNCH

7

2.3 Sách nghiên cứu, hồi ký của các nhà nghiên nước ngoài và người Việt Nam ở hải ngoại

10

3

Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ của Luận văn

11

4

Nguồn tài liệu & Phương pháp nghiên cứu

12

5

Bố cục Luận văn

12

Chương I

Sơ lược về nông nghiệp miền Nam trước năm 1975

14

I.1 Những nét chính về nông nghiệp-nông dân-nông thôn miền Nam Việt Nam trước 1954

14

I.1.1 Khí hậu, đất đai và nhân lực

14

I.1.2 Vài nét về nông nghiệp-nông dân-nông thôn miền Nam Việt Nam trước 1954

16

I.1.2.1 Người Pháp và mối lợi nông nghiệp ở miền Nam Việt Nam trước 1945.

16

I.1.2.2 Những nét cơ bản về nông nghiệp-nông dân-nông thôn  miền Nam Việt Nam giai đoạn 1945-1954.

19

I.2 Khái quát về nông nghiệp-nông dân-nông thôn miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955-1975

23

I.2.1 Sơ lược về hệ thống cơ quan phụ trách nông nghiệp của chính quyền VNCH

23

I.2.2 Khái quát các giai đoạn chính của nông nghiệp-nông dân-nông thôn miền Nam thời kỳ 1955-1975

25

I.2.2.1 Giai đoạn 1955–1959

25

I.2.2.2 Giai đoạn 1960–1964

27

I.2.2.3 Giai đoạn 1965–1968

29

I.2.2.4 Giai đoạn 1969–1975

31

Chương II

Các chính sách chủ yếu về phát triển nông nghiệp

của chính quyền VNCH 1955-1975

34

II.1 Chính sách cải cách điền địa

34

II.1.1 Thời kỳ Ngô Đình Diệm(1954-1963)

34

II.1.2 Thời kỳ 1963-1967

38

II.1.3 Luật “NCCR” thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu(1967-1975)

40

II.2 Chính sách KHKT và công nghiệp h tr nông nghiệp

42

II.2.1 Giống cây trồng

42

II.2.2 Phân bón hoá học

44

II.2.3 Cơ giới hoá nông nghiệp

45

II.2.4 Thuỷ lợi hoá

47

II.2.5 Công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp

49

II.3

Chính sách giáo dục đào tạo, sử dụng nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp

54

II.4 Chính sách tiền tệ, tín dụng, điều hành thị trường nông nghiệp

58

II.4.1 Tiền tệ

58

II.4.2 Tín dụng nông nghiệp

59

II.4.3 Vai trò điều hành thị trường nông nghiệp của chính quyền VNCH

61

II.5 Một số chính sách quy hoạch kiểm soát nông dân-nông thôn- nông nghiệp của chính quyền VNCH

63

II.5.1 Dinh điền

63

II.5.2 Khu trù mật

70

II.5.3 Ấp chiến lược- Ấp Tân sinh- Ấp Đời mới

74

II.5.4 Hợp tác xã

81

II.5.5 Hiệp hội nông dân

91

Chương III

Một số biến đổi trong nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam

thời kỳ 1955-1975

96

III.1 Biến đổi về sở hữu ruộng đất, cơ cấu giai cấp

96

III.2 Sự biến đổi về phương thức sản xuất-kinh doanh và cơ cấu ngành nghề tại nông thôn miền Nam

104

III.3 Sự gia tăng của các yếu tố KHKT trong sản xuất nông nghiệp

108

III.3.1 Giống cây trồng

108

III.3.2 Phân bón hoá học

110

III.3.3 Cơ giới hoá

111

III.4 Những biến động của một số loại nông sản chủ đạo tại miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1975

117

III.4.1 Lúa gạo

117

III.4.2 Diện tích-sản lượng một số loại cây lương thực khác

121

III.4.3 Cao su

123

III.4.4 Tình hình một số loại cây công nghiệp khác

125

Kết luận

130

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Mở đầu

1- Lý do chọn đề tài:

Vùng đất phía Nam Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục tìm hiểu, làm  rõ.

Thời kỳ lịch sử 1954-1975 khi miền Nam Việt Nam còn tạm thời bị đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, các nhà nghiên cứu mới chỉ chú trọng tìm hiểu lịch sử chiến tranh-quân sự-chính trị, chưa có điều kiện phản ánh các khía cạnh lịch sử khác như kinh tế, xã hội, văn hoá.v.v. của vùng này. Trong đó, lịch sử kinh tế nông nghiệp dù đã và đang được nghiên cứu, vẫn còn có nhiều “khoảng trống”.

Là một bộ phận không thể chia cắt của đất nước Việt Nam, nghiên cứu vùng đất phía Nam nói chung, nghiên cứu kinh tế nông nghiệp miền Nam giai đoạn 1954-1975 nói riêng, có ý nghĩa to lớn, góp phần phản ánh ngày càng sát đúng hơn về bức tranh lịch sử kinh tế nông nghiệp, làm sáng rõ thêm những vấn đề của lịch sử của nước nhà nói chung, đặc biệt là trong giai đoạn trước đây khi đất nước còn tạm thời bị chia cắt.

Từ việc nghiên cứu lịch sử kinh tế nông nghiệp miền Nam thời kỳ 1955-1975, chúng tôi cũng hy vọng có thể gợi mở được nhiều điểm mới trong việc tìm tòi những kinh nghiệm-bài học cho công cuộc xây dựng, phát triển nông nghiệp-nông dân-nông thôn, một lĩnh vực đã và đang được Đảng-Nhà nước Việt Nam rất quan tâm hiện nay.

2- Tình hình nghiên cứu

2.1- Các công trình của giới sử học cách mạng:

2.1.1-Các nghiên cứu thời kỳ 1954-1975:

Các bài báo của các nhà nhiên cứu thuộc các cơ quan Viện Sử học, Viện Kinh tế.v.v.đăng trên các tạp chí NCLS, NCKT, Học tập.v.v.

* Các sách nghiên cứu:

- Phạm Thành Vinh, Kinh tế miền Nam, Nxb ST, H, 1957.

- Trần Phương(chủ biên), Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam, Nxb KHXH, H, 1968

* “Tài liệu tham khảo về tình hình kinh tế miền Nam”: xuất hiện nhiều nhất ở giai đoạn những năm 70, chủ yếu là các báo cáo của các nhà nghiên cứu thuộc Viện kinh tế Việt Nam, một số là tài liệu học tập-nghiên cứu ở Trường Nguyễn Ái Quốc TW.

* Bên cạnh các nghiên cứu nêu trên, thời kỳ này giới sử học cách mạng còn có nhiều nghiên cứu trên các lĩnh vực khác ít nhiều có đề cập đến nông nghiệp-nông dân-nông thôn miền Nam.

2.1.2-Các nghiên cứu thời kỳ 1975-1985:

Báo cáo của Viện kinh tế học như:

- Lê Khoa (Ban kinh tế học-Viện KHXH tpHCM) với công trình “Tình hình kinh tế miền Nam 1955-1975(tháng 4) qua các chỉ tiêu thống kê” năm 1978;

- Ban kinh tế học-Viện KHXH tpHCM, Tình hình kinh tế miền Nam (1955-1975)-quyển 2(lưu trữ Học viện CT&HCQG Hồ Chí Minh);

- Vụ Tuyên truyền nông nghiệp, Tình hình và nhiệm vụ nông nghiệp miền Bắc và miền Nam nước ta(Báo cáo của đồng chí Hoàng Anh tại lớp Trung-Cao khoá 7, ngày 4/7/1975), H, 1975(lưu trữ Học viện CT&HCQG Hồ Chí Minh)…

* Các bài báo trên các tạp chí: Học tập, NCLS, NCKT như:

- Cao Văn Lượng, Chính sách ruộng đất của Mỹ-Nguỵ, NCLS số 5/1976.

- Nguyễn Văn Nhật, Tầng lớp trung nông đồng bằng Nam bộ trước ngày giải phóng, NCLS số 1/1983.

* Các sách xuất bản:

- Tiêu biểu nhất ở thời kỳ này là công trình “Kinh tế miền Nam 1954-1975”, H, 1976( đánh máy, lưu trữ tại Viện Kinh tế Việt Nam) của tác giả Lê Nguyên.

- Nguyễn Trần Trọng, Những vấn đề về công tác cải tạo và xây dựng nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam, Nxb Nông nghiệp, H, 1980.

- Lâm Quang Huyên, Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam, Nxb KHXH, H, 1985.

Nhìn chung, các nghiên cứu có đề cập nông nghiệp miền Nam 1954-1975 của các nhà nghiên cứu cách mạng giai đoạn trước “đổi mới”(1986) thể hiện quan điểm phê phán nền nông nghiệp miền Nam dưới chế độ Mỹ-Nguỵ, phục vụ công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, phục vụ công cuộc cải tạo XHCN đối với nông nghiệp miền Nam sau ngày thống nhất.

2.1.3- Các nghiên cứu thời kỳ từ 1986 đến nay:

Một số công trình tiêu biểu như:

- Các nghiên cứu của tác giả Đặng Phong(và các tác giả thuộc Viện kinh tế Việt Nam), gồm: “21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam”, Nxb Viện nghiên cứu khoa học thị trường-giá cả, H, 1991; “Kinh tế miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954-1975”, Nxb KHXH, H, 2004; “Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000”, Nxb KHXH, H, 2005.

- Trần Hữu Đính, Quá trình biến đổi về chế độ sở hữu ruộng đất và cơ cấu giai cấp ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long(1969-1975), Nxb KHXH, H, 1994.

- Trần Văn Thọ(chủ biên), Kinh tế Việt Nam 1955-2000 tính toán mới-phân tích mới, Nxb Thống kê, H, 2000.

- Võ Văn Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam(1954-1975), Nxb ĐHQG, tpHCM, 2005.

Nhìn chung trong các công trình ở giai đoạn đổi mới, nông nghiệp miền Nam thường chỉ là một bộ phận, hoặc chỉ được phản ánh gián tiếp qua các lĩnh vực khác. Đặc điểm nổi bật của các nghiên cứu này là đã có một sự thay đổi trong cách nhìn-quan điểm đánh giá, bớt “phê phán nặng nề” và có sự “gạn lọc”, trong đó có sự công nhận đối với một số thành tựu của nông nghiệp miền Nam giai đoạn 1954-1975.

2.2-Những nghiên cứu của các tác giả miền Nam sống dưới thời  chế độ VNCH:

*Một số công trình mà chúng tôi được tiếp cận là:

- Lê Khoa, Tình hình kinh tế Việt Nam(thử bàn đến một kế hoạch phát triển kinh tế tương lai).

- Nguyễn Anh Tuấn, Chính sách tiền tệ Việt Nam, S, 1968.

- Lê Linh, Những vấn đề kinh tế Việt Nam, Nxb Khai Trí, S, 1966.

* Báo chí giai đoạn 1955-1975 tại Sài Gòn cũ, là một kênh thông tin quan trọng đăng tải các ý kiến liên quan đến thực trạng đương thời của kinh tế  nông nghiệp miền Nam Việt Nam. Tiêu biểu là các tờ báo-tạp chí như: Chấn hưng kinh tế; Kinh tế tập san, Tập san quốc phòng, Việt Nam thông tấn xã, Tin kinh tế, Tạp chí kinh tế nông nghiệp, Tin tức đầu tư, Cải tiến nông nghiệp.v.v.).

* Trong quá trình sưu tầm tư liệu, chúng tôi được tiếp cận với hệ thống một số luận văn của các sinh viên dưới sự “bảo trợ” của các giáo sư Học viện QGHC Sài Gòn cũ, trong số đó có những công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau của nền kinh tế nông nghiệp VNCH. Nhìn chung hệ thống các luận văn này có giá trị do các tác giả được tiếp cận trực tiếp với các tư liệu của chính quyền VNCH, một số đông tác giả-học viên là viên chức của các cơ quan chính quyền VNCH. Cũng thông qua hệ thống luận văn này, chúng tôi phần nào nắm được ý kiến, tư tưởng của các nhà nghiên cứu, các giáo sư làm việc dưới chế độ Sài Gòn cũ về kinh tế nông nghiệp miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1975.

2.3- Sách, hồi ký của các nhà nghiên nước ngoài và người Việt ở hải ngoại:

* Một số sách nghiên cứu quan trọng như:

- Stanford Research Institute, Land reform in Vietnam, Menlo Park, California-USA, 1968.

- Douglas C. Dacy, Foreign aid, war, and economic development South Vietnam, Cambridge University press, 1986.

- Lilienthal, Kế hoạch phát triển kinh tế miền Nam Việt Nam 10 năm sau chiến tranh(bản dịch tiếng Việt), Bộ Ngoại thương, H, 1971.

* Một số tài liệu tham khảo khác:

- William Colby, Một chiến thắng bị bỏ lỡ, Nxb CAND, H, 2007(tác giả nguyên là Giám đốc CIA tại Sài gòn).

- Hoành Linh, Hồi ký Đỗ Mậu, Website Việt Nam thư quán(Tác giả nguyên là Giám đốc Nha An ninh quân đội VNCH).

- Nguyễn Tiến Hưng, Khi đồng minh tháo chạy, Website Việt Nam thư quán(Tác giả nguyên là “Phụ tá Tổng thống” Thiệu, “Tổng trưởng Kế hoạch” chính quyền VNCH cũ).v.v.

Tóm lại, lịch sử nông nghiệp miền Nam Việt Nam 1955-1975 đã và đang được quan tâm, song vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ. Những thành tựu nghiên cứu của các tác giả thuộc nhiều phía từ trước đến nay, đã tạo nền tảng rất quan trọng cho việc tiếp tục nghiên cứu đề tài này.

3-Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ của Luận văn

3.1- Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài có đối tượng nghiên cứu là nền kinh tế nông nghiệp(trồng trọt) ở miền Nam Việt Nam.

3.2- Phạm vi:

- Về thời gian: Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là giai đoạn 1955 – 1975; ngoài ra có mở rộng để làm rõ thêm.

- Không gian: là địa bàn miền Nam Việt Nam(theo quy định tạm thời của Hiệp nghị Giơ-ne-vơ trong lịch sử, là vùng chính quyền VNCH cũ kiểm soát).

3.3- Nhiệm vụ:

Đề tài xác định có nhiệm vụ giải đáp một số vấn đề cơ bản sau đây:

- Tìm hiểu khái quát về điều kiện tự nhiên, nhân lực, những nét cơ bản của nền nông nghiệp trước 1975 và tìm hiểu sơ lược về hệ thống các cơ quan phụ trách kinh tế nông nghiệp của chính quyền VNCH cũ.

- Tìm hiểu, đánh giá các nhóm chính sách phát triển nông nghiệp của chính quyền Sài Gòn giai đoạn 1955-1975.

- Tìm hiểu về những biến đổi chủ yếu trong nền nông nghiệp trồng trọt miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955-1975.

4- Nguồn tài liệu & Phương pháp nghiên cứu

4.1- Nguồn  tài  liệu

* Tư liệu gốc:

Gồm các loại văn bản như: Báo cáo, Sắc lệnh, Dụ, Luật, Kế hoạch,.v.v. của chính quyền Việt Nam cộng hoà cũ(lưu trữ chủ yếu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II –thành phố Hồ Chí Minh).

* Tài liệu tham khảo:

- Luận văn của các sinh viên “Học viện Hành chính Quốc gia” Sài Gòn cũ.

- Các sách báo được phát hành tại Sài Gòn giai đoạn 1954-1975.

- Hồi ký của các nhân vật tham gia chính quyền VNCH cũ.

- Nghiên cứu của các tác giả người nước ngoài(chủ yếu là người Mỹ).

- Các tài liệu có liên quan đến kinh tế nông nghiệp miền Nam từ 1954 đến 1975(lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, Viện kinh tế, Viện Sử học Việt Nam, Học viện Chính trị & Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh…).

4.2- Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và logic, kết hợp với phương pháp nghiên cứu liên ngành.

5- Bố cục Luận văn

Luận văn bao gồm 3 chương:

Chương I: Sơ lược về nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Chương II: Các chính sách chủ yếu về nông nghiệp của chính quyền VNCH(1955-1975).

Chương III: Một số biến đổi trong nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954-1975.

Chương I

Sơ lược về nông nghiệp Miền Nam Việt Nam

trước năm 1975.

I.1-Những nét chính về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Miền Nam Việt Nam trước 1954

I.1.1-Khí hậu, đất đai và nhân lực

Trong bối cảnh lịch sử 1954-1975, miền Nam Việt Nam được hiểu theo sự phân chia chia tạm thời của Hiệp định Genève, là vùng đất từ vĩ tuyến 17 trên sông Bến Hải(Quảng Trị) cho đến Mũi Cà Mau.

Về khí hậu, nhìn chung, điều kiện thời tiết khí hậu miền Nam thuận lợi hơn so với miền Bắc và Bắc Trung bộ trong việc phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới với sự đa dạng và phong phú về nông sản.

Về đất đai, tổng diện tích đất các loại của miền Nam Việt Nam vào khoảng 17 triệu héc-ta(ha). Trong đó diện tích nông nghiệp chiếm khoảng 6 triệu ha; diện tích đất trồng cây công nghiệp có khoảng 2 triệu ha.

Hệ thống sông ngòi kinh rạch dày đặc ở Nam bộ là điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.

Tuy nhiên, về điều kiện tự nhiên, nền nông nghiệp miền Nam cũng gặp phải một số khó khăn nhất định.

Về dân cư, tại thời điểm năm 1954-1955, tổng dân số toàn miền khoảng 13 triệu người(bao gồm cả gần 1 triệu dân mới di cư từ miền Bắc vào). Sau 20 năm, dân số miền Nam tăng thêm khoảng 60%(thêm khoảng 10 triệu người). Dân số đông vừa thuận lợi vì có nhiều sức lao động trong nền nông nghiệp thô sơ, nhưng cũng là áp lực lớn cho nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng, chủ yếu là vấn đề an ninh lương thực. Qua quá trình hàng trăm năm mở đất, khai phá miền Nam, người nông dân đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, đa số nông dân miền Nam trước ngày Cách mạng tháng Tám, chủ yếu là những tá điền, đời sống rất khổ cực và thiếu thốn, việc học hành càng khó có điều kiện phát triển, đó cũng là những hạn chế đáng kể tác động trực tiếp và sâu sắc đến đời sống người nông dân-xã hội nông thôn và nền nông nghiệp miền Nam. Việc giải quyết tốt hay không tốt các hạn chế về nhân lực nói riêng, và các trở ngại của nền nông nghiệp nói chung, sẽ quyết định quan trọng đến sự phát triển của cả nền kinh tế nông nghiệp, cho dù là trong bất cứ hoàn cảnh lịch sử nào!

I.1.2- Vài nét về nông nghiệp-nông dân-nông thôn miền Nam Việt Nam trước 1954

I.1.2.1-Người Pháp và mối lợi nông nghiệp ở miền Nam Việt Nam trước 1945.

Thực dân Pháp, thấy được nguồn lợi to lớn mà nền nông nghiệp ở đây có thể đem lại trong “cuộc khai thác thuộc địa”, đã dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt và ngày càng tích tụ nhiều diện tích RĐ lớn. Đến 1930 thực dân Pháp đã chiếm khoảng 600.000ha. Các đồn điền của người Pháp không ngừng hình thành. Thực dân Pháp chủ yếu để phát triển kinh doanh lúa gạo. Phương thức kinh doanh chủ yếu của đa số chủ điền thực dân Pháp giai đoạn  trước chiến tranh thế giới I không khác gì các địa chủ phong kiến Việt Nam, phát canh thu tô, đồng thời cho vay nặng lãi. Ở giai đoạn khai thác thuộc địa lần 2, phần nhiều chủ đồn điền Pháp trồng lúa vẫn kinh doanh lối cũ, đồng thời một số khá đông bắt đầu bỏ nhiều vốn hơn thực hiện kinh doanh theo lối tư bản ở các đồn điền cây công nghiệp(cao su, cà phê, trà); lượng máy móc nông nghiệp và phân bón được các chủ đồn điền Pháp nhập vào nhiều hơn.

Những bằng chứng trên chứng tỏ miền Nam Việt Nam có thế mạnh về nông nghiệp và  thực dân Pháp đã sớm nhận ra điều đó, ngày càng đầu tư khai thác nhiều với phương thức kinh doanh đem lại lợi nhận cao nhất cho họ(mức địa tô phổ biến là từ 50%). Mặc dù thu được rất nhiều lợi nhuận từ nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam nhưng cách “khai thác” kiểu “thực dân” của người Pháp hầu như đã không hề giúp cho nền nông nghiệp, đời sống nông dân và  bộ  mặt nông thôn “thuộc địa” phát triển gì. Tuy nhiên, về khách quan, đây cũng là thời kỳ đầu tiên nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam được tiếp cận bước đầu với các yếu tố KHKT(máy móc, phân bón hoá học); công tác thuỷ lợi cũng có bước tiến đáng kể. Điểm nổi bật là nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam giai đoạn này liên tục giữ được mức xuất khẩu lớn, riêng cao su thì càng ngày càng tăng.

I.1.2.2- Những nét cơ bản về nông nghiệp-nông dân-nông thôn  miền Nam Việt Nam giai đoạn 1945-1954.

Trong hoàn cảnh kháng chiến suốt 9 năm, sản xuất nông nghiệp của miền Nam bị sa sút. Cho dù vậy, trong chừng mực nào đó, nông nghiệp miền Nam Việt Nam vẫn có hướng đi lên nếu căn cứ vào số nông sản xuất khẩu. Điều đó chứng tỏ chiến tranh không phải là yếu tố duy nhất quyết định sự tăng-giảm của ngành nông nghiệp. Một trong những nguyên nhân quan trọng khác góp phần duy trì năng lực sản xuất của nền nông nghiệp miền Nam trong suốt giai đoạn này là do tác động của những chính sách ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của Mặt trận Việt Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà. “Tính chung từ Liên khu V vào đến Nam Bộ, trong kháng chiến chống Pháp, nông dân được chia cấp và tạm giao trên 750.000ha ruộng đất các loại, địa tô phong kiến phổ biến giảm còn từ 25% trở xuống”[22; 25].

Việc quyết liệt thực hiện chính sách ruộng đất cho nông dân miền Nam của Chính phủ cách mạng ngay trong kháng chiến chống Pháp đã tạo dựng được niềm tin, sự ủng hộ quan trọng của người nông dân, tạo ra địa bàn đứng chân chiến lược vững chắc tại các vùng nông thôn cho cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước về sau.

I.2-Khái quát về nông nghiệp, nông dân, nông thôn miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955-1975

I.2.1- Sơ lược về hệ thống cơ quan phụ trách nông nghiệp của chính quyền VNCH

Về cơ quan chuyên trách, ở TW, thời Ngô Đình Diệm, có “Bộ canh nông”[7; 11]; giai đoạn 1961-1963 là “Bộ cải tiến nông thôn”; giai đoạn 1963-1967 gọi là “Bộ canh nông”; thời Nguyễn Văn Thiệu là “Bộ Cải cách điền địa và phát triển nông ngư mục”[37; 118-119)]. Bên cạnh đó, tuỳ theo chức năng mà các Bộ, Phủ trong bộ máy chính quyền VNCH đều gián tiếp có trách nhiệm đối với nền nông nghiệp.

Trung gian giữa TW với tỉnh là các “Phần”, có “Toà đại biểu chánh phủ” phụ trách chung, thường do chỉ huy quân sự các Vùng chiến thuật nắm .

Cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn là các Ty, trong đó có ty phụ trách về nông nghiệp, tên gọi tương ứng với tên Bộ ở TW, cấp Quận cơ quan là “Chi cuộc”.

Bên cạnh đó, tùy thời điểm, chính quyền Sài Gòn lại tổ chức ra các cơ quan mang tính “thời vụ”(kiêm nhiệm)để “dốc sức” giải quyết một vấn đề nào đó, như: Uỷ ban lúa gạo, Tổng cuộc tiếp tế, Uỷ ban phân bón.v.v.

Thực trạng nền kinh tế nông nghiệp miền Nam Việt Nam sẽ phản ánh năng lực của hệ thống các cơ quan phụ trách nông nghiệp nói riêng, quyết định sự tồn vong chính quyền VNCH nói chung.

I.2.2-Khái quát các giai đoạn chính của nông nghiệp, nông dân, nông thôn miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955-1975

I.2.2.1- Giai đoạn 1955–1959

Nền kinh tế nông nghiệp Miền Nam Việt Nam giai đoạn này có những thuận lợi để phát triển: hoà bình tạm  thời, hầu như chưa có chiến sự; viện trợ Mỹ cho VNCH tương đối nhiều, bước đầu có máy móc nông cơ và phân bón hoá học. Miền Nam Việt Nam thời kỳ này vẫn có gạo xuất khẩu, nhưng khối lượng đã giảm nhiều. Ngành cao su tiếp tục có sự tăng trưởng về diện tích, duy trì lượng mủ xuất cảng, diện tích cao su được mở rộng.v.v. Nhìn chung, có thể coi giai đoạn 1955-1959 là giai đoạn “phục hưng” của nền sản xuất nông nghiệp miền Nam Việt Nam kể từ sau 9 năm chống Pháp.

Cuối giai đoạn này, do nhiều nguyên nhân, nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam bắt đầu mất đi sự ổn định tạm thời nêu trên. Nói chung, các chính sách nông nghiệp-nông dân-nông thôn của Ngô Đình Diệm đã tạo nên một làn sóng chống đối ngầm trong số đông nông dân miền Nam chỉ chờ cơ hội và có lãnh đạo là họ bùng nổ.

I.2.2.2- Giai đoạn 1960–1964

Sự gia tăng của chiến sự, sự khủng hoảng của chính quyền Sài Gòn, cuộc đấu tranh của nông dân đã tác động đến kinh tế nông nghiệp, đẩy nó theo hướng ngày càng sa sút mạnh. Chính sách CCĐĐ điền địa của Ngô Đình Diệm coi như phá sản từ khi bùng nổ Đồng Khởi; nhiều nông dân tại các vùng nông thôn lại được phía cách mạng chia cấp ruộng đất. Đến năm 1965, phía cách mạng đã kiểm soát quá nửa dân số và đất đai nông thôn miền Nam. Các kế hoạch khu trù mật, ấp chiến lược của VNCH chủ yếu nhằm các mục tiêu chính trị, nên nhanh chóng thất bại; để lại hậu quả nghiêm trọng, gây mất nhân tâm trong nông dân, xáo trộn đời sống nông thôn. Chiến sự mặc dù đã gia tăng, nhưng nguyên nhân chính của sự “xuống dốc” của nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam thời kỳ này bắt nguồn từ các chính sách sai lầm về nông nghiệp-nông dân-nông thôn của chính quyền Diệm. Cũng từ đây nền nông nghiệp miền Nam bước vào giai đoạn suy sụt trầm trọng; cuối giai đoạn này miền Nam hầu như không còn gạo để xuất khẩu.

I.2.2.3- Giai đoạn 1965–1968

Về kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1965-1968, thể hiện sự suy sụp trầm trọng về nhiều mặt. Chiến tranh đạt đến độ khốc liệt nhất, là một trong những nguyên nhân chính phá hoại sản xuất nông nghiệp. Đây là giai đoạn mà chính quyền VNCH phải thực hiện nhập khẩu gạo liên tiếp với số lượng lớn, có năm gần 1 triệu tấn. Việc gia tăng “bắt lính” của chính quyền VNCH khiến lực lượng lao động ở nông thôn bị sụt giảm trầm trọng; chiến sự tăng cường buộc hàng triệu nông dân phải di tản khỏi các vùng nông thôn, chạy vào các đô thị, càng làm sụt giảm lực lượng sản xuất nông nghiệp. Chiến tranh quân sự trở thành “mối bận tâm” nhất của chính quyền VNCH, mọi nỗ lực đều tập trung vào quân sự, do đó nông nghiệp không được coi trọng đầu tư, ít nhất là không được đầu tư một cách “lành mạnh”.

I.2.2.4- Giai đoạn 1969–4/1975

Về nông nghiệp-nông dân-nông thôn miền Nam từ sau 1968, tranh thủ thời gian “yên tĩnh” trên chiến trường, chính quyền Sài Gòn đổ người, đổ tiền nhằm bình định nông thôn. Với sự yểm trợ lớn về tài chính của Mỹ, chính quyền VNCH thực hiện Luật NCCR, tăng cường nhập lượng phân bón và nông cơ, hòng thực hiện “cuộc cách mạng xanh” với các giống lúa IR(Thần Nông). Trong bối cảnh đó, ngành trồng lúa miền Nam Việt Nam có được sự phục hồi khá nhanh, đạt và vượt mức sản lượng lúa thời Ngô Đình Diệm, “vãn hồi” được một phần an ninh lương thực; tuy nhiên chính quyền VNCH vẫn phải nhập cảng nhiều gạo. Ngoại trừ sự phục hồi một phần của ngành trồng lúa, cơ bản nền nông nghiệp miền Nam vẫn duy trì tình trạng đình trệ và hậu quả tàn phá của chiến tranh cho đến ngày 30/4/1975.

Cuộc chiến tranh 1954-1975 trải qua nhiều giai đoạn nhằm “thí nghiệm” hàng loạt chiến lược chiến tranh của Mỹ, là cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử Việt Nam. Nông nghiệp-nông dân-nông thôn miền Nam Việt Nam là đối tượng phải chịu đựng sự tàn phá của chiến tranh. Tuy nhiên suốt 20 năm, nông nghiệp miền Nam không chỉ toàn bị tàn phá, toàn đi xuống hay toàn hạn chế, mà ở những giai đoạn nào đó, về mặt nào đó, vẫn có những sự chuyển biến tích cực. Do đó, chiến tranh không phải là nguyên nhân duy nhất quy định những biến đổi trong nông nghiệp-nông dân-nông thôn miền Nam, mà còn có nhiều nhân tố khác góp phần tạo nên những thăng trầm theo năm tháng.

Chương II

Các chính sách chủ yếu về phát triển nông nghiệp

của chính quyền VNCH (1955-1975)

II.1.-Chính sách “cải cách điền địa”

II..1.1- Thời kỳ Ngô Đình Diệm(1954-1963)

Nội dung của “Luật lệ CCĐĐ” thời Diệm thể hiện chủ yếu qua 3 đạo dụ:

“Dụ số 2 ngày 8 tháng 1 năm 1955 sửa  đổi dụ số 20 ấn định quy chế tá điền”[5; 84-90] có nội dung cơ bản “sao y” Dụ số 20 năm 1953 do Bảo Đại ký; nhưng cho phép mức địa tô có thể dao động từ 15 lên đến 25%(Bảo Đại quy định địa tô nhất loạt 15%); quy định thêm về: thời hạn “khế ước” tối thiểu 5 năm; lập “Khế ước loại A” đối với loại ruộng “thục”(hiện canh).v.v.

“Dụ số 7 ngày 5 tháng 2 năm 1955 ấn định điều kiện khai thác lại các ruộng đất bỏ hoang không canh tác”[5, 91-95]: đối tượng áp dụng là “tất cả những ruộng đất nào không được trồng tỉa trong vụ mùa vừa qua”; chủ điền có thể ký với tá điền khế ước loại A(theo Dụ số 2) hoặc khế ước loại B(theo Dụ 7); nếu điền chủ vắng mặt, thì ruộng đất ấy được cấp theo thứ tự ưu tiên sau: tá điền đã khai thác ruộng này; những người di cư; gia đình thương binh tử sĩ của quân đội VNCH; cựu chiến binh; những người muốn tự mình canh tác(5 đối tượng trên được ký kết trong vòng 3 năm theo khế ước tá điền loại C, được miễn thuế điền thổ và thuế phụ trong thời hạn 3 năm, miễn địa tô năm đầu, năm thứ 2 trả 1/2, năm thứ 3 trả 3/4). Sau 3 năm theo khế ước C trên mà chủ điền vẫn vắng mặt thì khế ước trên được gia hạn theo Dụ 2, phải đóng mọi thứ thuế. Địa chủ có thể trở về bất cứ khi nào để khai nhận lại đất và thực hiện tiếp khế ước. Ruộng đất công của làng phát canh theo khế ước loại C..v.v.

“Dụ số 57 ngày 22 tháng 10 năm 1956 quy định việc cải cách điền địa”[5; 155-161]: đối tượng của Dụ là “đất tư, đất hoang thích hợp cho sự cấy lúa và cho ruộng đất canh tác quá số tối đa mà các địa chủ có quyền sở hữu”. Điều 3 quy định: địa chủ được giữ tối đa 100ha, được phép trực canh không quá 30 mẫu tây. Điều 12 quy định thứ tự ưu tiên cấp đất: tá điền, lãnh canh hay làm công đã được trên 2 năm; cha mẹ-vợ chồng-con cái những thương binh tử sĩ của quân đội; người di cư-hồi cư; những người thất nghiệp; tiểu điền chủ có trên 5 con và dưới 5 mẫu đất; những người không có đất ruộng. Người được cấp ruộng phải trả góp tiền cho chính phủ trong 6 năm(ruộng vẫn thuộc sở hữu chính phủ), cấm bán, cầm cố trong vòng 10 năm.v.v.

Cuộc CCĐĐ của Ngô Đình Diệm được tiến hành một cách chậm chạp, nhỏ giọt, hiệu quả “hữu sản hoá” tá điền rất kém; đồng thời hậu  quả  chính  trị do chính sách CCĐĐ gây nên, cùng với các chính sách sai lầm về  tố cộng-diệt cộng, phân biệt tôn giáo.v.v. đã gây xáo trộn lớn trong đời sống nông dân-nông thôn nói riêng, miền Nam nói chung, là một nguyên nhân quan trọng khiến chính quyền này bị lật đổ.

II.1.2- Thời kỳ 1963-1967

Chính quyền Sài Gòn rơi vào khủng hoảng chính trị triền miên, đảo chính diễn ra liên tiếp, không quan tâm xây dựng chính sách mới, tiếp tục thực hiện “di sách” CCĐĐ của Ngô Đình Diệm, thêm một vài sửa đổi cho có vẻ “mềm dẻo”:

Ngày 2/10/1964 Dương Văn Minh ký hai sắc luật: “Sắc luật số 007-CT/LĐQGQL/SL”[69; 13-14] quy định khế ước đã ký muốn giải trừ phải để cho tá điền canh tác hết 5 năm(thời Diệm là 3 năm); “Sắc luật số 008-CT/LĐQGQL/SL”[69; 15-16] cho phép tá điền trả tiền mua ruộng trong 12 năm. Ngày 8/10/1965, Nguyễn Văn Thiệu ký “Sắc lệnh số 020/65 về việc cấp quyền sở hữu “thiệt thọ” cho nông dân mua ruộng truất hữu”[69; 17].

Những thay đổi tiếp theo trong CCĐĐ giai đoạn này của chánh quyền VNCH thể hiện chủ yếu trong “Chương trình hoạt động ngắn hạn về cải cách điền địa”[68; ?]: bãi bỏ đấu giá các công điền công thổ, phát canh trực tiếp tới nông dân với diện tích 3 mẫu ở miền Trung và 5 mẫu ở Nam bộ trong thời hạn 5 năm với địa tô không đổi 15-25%; từ năm thứ 2 trở đi mới phải trả tiền mua ruộng; miễn thuế điền suốt thời hạn 12 năm trả tiền đất; cấp ngay chứng nhận quyền sở hữu RĐ; thí điểm cấp bán RĐ mua lại của Pháp kiều cho nông dân; cấp “chứng khoán” sử dụng đất tại các địa điểm dinh điền.v.v. Nguyễn Văn Thiệu ký “Sắc luật số 047/67 ngày 30/10/1967”[68; 10-11] cho “cựu quân nhân” vào diện “ưu tiên 2” cấp bán ruộng, ấn định trong 6 năm từ ngày nhận ruộng cấm chuyển nhượng, mua bán, ngoại trừ cầm cố cho chính quyền.

Nhận xét chung về chính sách CCĐĐ của chính quyền VNCH cho đến trước 1970, chúng tôi xin trích dẫn phát ngôn của cơ quan “Bộ CCĐĐ” VNCH(năm 1968), rằng: “Công cuộc cải cách điền địa, tuy đã được thi hành từ 13 năm nay, nhưng vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn và mới tư hữu hoá được non 150.000 nông dân, vì chương trình áp dụng còn quá rụt rè và nặng về kỹ thuật”[87; 70].

Như vậy, chương trình CCĐĐ mà chính quyền VNCH thực hiện trong giai đoạn 1963-1967, thực chất là sự tiếp nối cuộc CCĐĐ của Ngô Đình Diệm, cố gắng giữ lấy những gì Diệm đã làm, chưa có được một chính sách CCĐĐ mới hòng vượt qua cuộc khủng hoảng chính trị-kinh tế-xã hội.v.v. ngày một trầm trọng. Điều đó cho phép kết luận: chính sách CCĐĐ của Diệm và “theo kiểu Diệm” đến đây thất bại hoàn toàn; cuộc CCĐĐ cuối cùng ở VNCH sẽ buộc phải xoay theo một hướng khác.

II.1.3-Luật “NCCR” thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu(1967-1975)

Ngày 26/3/1970 tại Cần Thơ, Nguyễn Văn Thiệu ký quyết định công bố “Luật số 003/70 ấn định chính sách Người cày có ruộng”[72; 1-5]. Luật “NCCR” gồm 6 chương 22 điều, với những nội dung chủ yếu như: hữu sản hóa nông dân, tạo cơ hội thăng tiến đồng đều cho mọi nông dân; truất hữu có bồi thường ruộng đất không do điền chủ trực canh và cấp phát “vô thường” cho nông dân; bãi bỏ chế độ tá canh và nạn trung gian bao tá; phân cấp công điền; các điền chủ được phép giữ lại 15ha đang trực canh ở Nam bộ, 5ha ở Trung bộ và 5ha đất hương hoả; các tá điền được cấp phát tối đa đến 3ha ở Nam phần và 1 ha ở Trung phần; địa chủ bị truất hữu được trả trước 20% tiền mặt, còn 80% trả bằng trái phiếu trong 8 năm với lãi suất 10%; người được cấp phát đất không phải trả tiền và trong 15 cấm bán hoặc cấm cố nếu không được cho phép; thứ tự ưu tiên cấp đất là: nông dân(tá điền) hiện canh; cha mẹ, vợ con tử sĩ; quân nhân, công chức, cán bộ giải ngũ hồi hưu; quân nhân công chức cán bộ phải bỏ canh tác vì chiến tranh nếu có đơn xin cho gia đình trực canh; công nhân nông nghiệp nếu có đơn xin trực canh; những người mua đất theo dụ 57 chưa trả hết tiền thì được miễn phần còn lại.v.v.

Về lý thuyết, so với chính sách ruộng đất tại Dụ 57, Luật 003/70 tỏ ra có bước tiến hơn hẳn: người bị truất hữu và tá điền cùng lợi hơn. Tuy nhiên, luật NCCR mang nặng tính chất của một biện pháp kinh tế hòng đạt đến mục đích chính trị là nhằm khiến “công cuộc đấu tranh để chiến thắng cộng sản sẽ được thúc đẩy nhanh chóng và hữu hiệu hơn”[72; 06].

Tóm lại, cả chính sách ruộng đất thời Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu đều không tạo được nhiều động lực mới mẻ cho sự phát triển nông nghiệp miền Nam Việt Nam, thậm chí còn tạo nên mâu thuẫn, tranh chấp gay gắt tại nông thôn. Các chính sách đó ra đời đều trong thế bị động nên không thể trở thành một thứ động lực chủ động thúc đẩy nông nghiệp.

II.2.- Chính sách KHKT và công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp

II.2.1- Giống cây trồng

Những năm trước “Đồng Khởi”, chính quyền VNCH do có nhiều viện trợ, khá quan tâm xây dựng cơ sở vật chất phục vụ công tác giống nông nghiệp, nhất là việc thiết lập các trung tâm nghiên cứu thực nghiệm về nông-lâm-mục. Tuy nhiên hiệu năng hoạt động của các trung tâm rất thấp, công tác chuyên môn mới chỉ dừng ở việc nghiên cứu, thực nghiệm tại chỗ. Khi chiến sự gia tăng, hoạt động của các trung tâm ngày càng thu hẹp, ít được quan tâm hơn. Do đó, về năng lực sản xuất giống trong xứ, tiêu biểu như lúa, đến tận những năm 1970, nhưng “các chương trình sản xuất lúa giống hiện nay của Sở Túc mễ chỉ nhằm thoả mãn 1/4 nhu cầu thực sự của nông dân(25.000 tấn-LĐT)”[27; 8]. Trước đó, từ khoảng 1965, trong tình cảnh yếu kém của công tác nghiên cứu, sản xuất giống trong xứ, chính quyền VNCH đã thực hiện chính sách nhập cảng các loại giống phục vụ sản xuất nông nghiệp, ví dụ như nhập các giống lúa IR-5, IR-8.v.v. đưa thẳng vào sản xuất, nhằm nhanh chóng thoát khỏi sức ép về lương thực.

II.2.2- Phân bón hoá học

Suốt 20 năm, chính sách phân bón chủ yếu của chính quyền VNCH là nhập cảng và trợ giá nhập cảng ở những thời điểm mà nguồn viện trợ còn dồi dào. Việc nhập cảng, phân phối phân bón dưới chính quyền VNCH rất nhiều hạn chế và tiêu cực, thậm chí bị sử dụng cho mục đích chính trị. Tuy nhiên, về khách quan, chính sách nhập cảng phân bón hoá học đã góp một phần vào việc tăng năng suất cây trồng của nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1975.

II.2.3- Cơ giới hoá nông nghiệp

Nhằm bù đắp lại thực trạng thiếu sức lao động nông nghiệp, chính quyền VNCH đã có những chính sách “cơ giới hoá” nhằm duy trì nền nông nghiệp. Chính sách này mỗi giai đoạn mỗi khác nhau, tuỳ thuộc vào số lượng và cơ cấu viện trợ của Mỹ, tuỳ thuộc vào cường độ “bình định nông thôn” của chính quyền VNCH.

Từ đầu cho đến hết 1970, chính quyền VNCH chỉ có một chính sách là “nhập khẩu nông cơ”; khoảng 10 năm đầu(giai đoạn Ngô Đình Diệm), số nông cơ nhập cảng ít; chính quyền VNCH chỉ nhập cảng nông cơ với số lượng nhiều xung quanh thời điểm Nguyễn Văn Thiệu ban hành Luật NCCR.

Nét mới là từ giữa 1971, trong chiến lược đẩy mạnh khôi phục nông nghiệp-tranh thủ bình định nông thôn, trọng tâm là ngành trồng lúa, trong bối cảnh viện trợ giảm, chính quyền VNCH tiến hành “nội địa hoá nông cơ”. Các nhà máy như: Vikyno(quốc doanh), Vinappro(tư nhân) được thành lập trong khu kỹ nghệ Biên Hoà.

Bên cạnh những hạn chế, về khách quan, “chính sách nhập cảng nông-ngư cơ” và “nội hoá nông-ngư cơ” của chính quyền VNCH cũng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp ở miền Nam, giúp phục hồi đáng kể sản xuất nông nghiệp, đồng thời khách quan đã tạo thêm một số việc làm mới như: dịch vụ sửa chữa máy kéo, máy cày; kinh doanh cày thuê.v.v. góp phần tạo tiền đề cho việc hình thành và phát triển kiểu quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp-nông thôn.

II.2.4- Thuỷ lợi hoá

Theo phúc trình “Dự án thuỷ nông” thuộc “Chương trình yểm trợ phát triển nông-ngư nghiệp” trong “Kế hoạch phát triển nông-ngư nghiệp 1971-1975” của VNCH, tính đến năm 1970 toàn bộ miền Nam Việt Nam mới có “332.000 ha được trang bị điều thuỷ theo một mức độ nào đó, trên tổng số ruộng canh tác năm 1969 là 2.840.000 ha, như vậy chỉ đạt tỷ lệ 11,7%. Riêng về lúa, có tỷ lệ 13,7% còn quá thấp so với 30% năm 1962 tại Thái Lan, 40% năm 1966 tại Mã Lai, 74% năm 1967 tại Trung Hoa Quốc Gia(Đài Loan), 83% năm 1965 tại Đại Hàn dân quốc và gần 100% tại Nhậtt Bản. Tỷ lệ trung bình năm 1965 cho các quốc gia Đông Nam Á là 35%”[74; 141]. Với quan niệm “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, con số tỷ lệ 13,7% diện tích trồng lúa được điều thuỷ tại miền Nam Việt Nam là biểu hiện sự yếu kém của chính sách thuỷ nông dưới chính quyền VNCH, thể hiện sự thiếu đồng bộ trong hệ thống chính sách nông nghiệp.

II.2.5-Công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp

Về nhóm kỹ nghệ hỗ trợ nông nghiệp, chủ yếu là các ngành như: sản xuất phân bón, nông cơ, giao thông vận tải.v.v.

Về cái gọi là “ngành công nghiệp phân bón trong nước dưới chế độ VNCH có thể hình dung một cách “hài hước” chỉ có mỗi một việc là “trộn phân” để bán; cái gọi là “Tổ hợp kỹ nghệ phân bón Việt Nam” [82; ?] thực chất chỉ là “tổ hợp các nhà trộn phân” VNCH. Chính quyền VNCH cũng muốn phát triển công nghiệp sản xuất phân bón trong xứ, nhưng do nhiều hạn chế về nguyên liệu, công nghệ khai thác, chế biến.v.v. và điều kiện chiến tranh, nên không thực hiện được ý đồ này.

Đối với công nghiệp sản xuất nông cơ của VNCH, chỉ được quan tâm triển khai khi người Mỹ chuyển sang “Việt Nam hoá”, cắt giảm viện trợ, nhằm gấp rút bình định nông thôn. Các nhà máy nông cơ Vikyno(quốc doanh) và Vinappro(tư nhân) được thành lập như nói trên. Trong số này, Vikyno là nhà máy tiêu biểu nhất vì nó là “con đẻ” của chính quyền VNCH, bắt đầu hoạt động từ nửa sau 1971, với việc nhập các các linh kiện rời từ Nhật Bản(máy cày Kubota) đem về lắp ráp. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nạn lạm phát, sự phá giá đồng tiền của chính phủ VNCH, khiến giá thành nông cơ tăng vọt; hàng hoá ế ẩm vì nông dân không đủ tiền mua; nợ ngân hàng đe doạ; sản xuất đình trệ ngay từ 1972.

Về giao thông vận tải, giai đoạn 1954-1975, do khách quan mà miền Nam Việt Nam có sự phát triển vượt trội các trong lĩnh vực đường bộ(quốc lộ & tỉnh lộ), hàng không, đường thuỷ. Tuy nhiên, hệ thống đường cấp huyện, đường liên xã, ấp thì lại trái ngược hoàn toàn, rất yếu kém, thậm chí không thể so với miền Bắc cùng thời. Rất nhiều nhiều trung tâm huyện lỵ không có đường ô tô đi tới. Nhiều xã ấp gần như sống trong cảnh biệt lập về giao thông liên lạc với bên ngoài. Sự hạn chế về hệ thống giao thông nông thôn chính là một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp-nông thôn-nông dân, làm gia tăng khoảng cách mọi mặt giữa nông thôn với các đô thị; người ta có thể thấy rõ hậu quả đó qua khung cảnh đối lập: một bên là Sài Gòn và các đô thị sống trong phồn hoa(dù là phồn vinh giả tạo), với một bên là sự tăm tối, nghèo nàn, lạc hậu của phần lớn nông thôn miền Nam.

Về các ngành công nghiệp phát triển dựa trên nền tảng nông nghiệp, tiêu biểu như: xay xát, tàng trữ gạo; chế biến mía đường; trà.v.v. cũng bộc lộ nhiều hạn chế, một phần do hoàn cảnh chiến tranh và ngoại viện chi phối, một phần chính là do xuất phát từ sự thiếu đồng bộ, thiếu quan tâm về mặt chính sách của chính quyền Sài Gòn, nên đã tác động tiêu cực thêm đối với nền sản xuất nông nghiệp.

Nhìn chung, trong 20 năm KHKT và công nghiệp yểm trợ nông nghiệp ít được chính quyền VNCH quan tâm đúng mức. Sự thiếu đồng bộ và yếu kém đó đã dẫn đến tình trạng thăng trầm của nền nông nghiệp.

II.3- Chính sách giáo dục đào tạo, sử dụng nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp

Cho đến hết năm học 1967-1968, cả miền Nam Việt Nam có 03 trường Trung học Nông-Lâm-Súc Huế, Bảo Lộc và Cần Thơ và 01 trường cao đẳng nông-lâm-súc Sài Gòn. Từ năm học 1969-1970 cả miền Nam có 12 trường trung học và cao đẳng nông-lâm-súc. Bên cạnh việc đào tạo trong xứ, còn có các du học sinh theo ngành nông-lâm-súc, nhưng số lượng rất ít. Số người theo học ngành nông-lâm-súc luôn rất ít so với các ngành khác(Luật, Y, Dược, Văn khoa.v.v.).

Tình hình đó cho thấy miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 cũng đã bị rơi vào bài toán nan giải về sự bất cập trong giáo dục đào tạo nói chung, mất cân đối nghiêm trọng giữa đào tạo ngành nông-lâm-súc nói riêng so với các ngành nghề khác trong hệ thống đào tạo THCN-Cao đẳng-Đại học. Nguyên nhân của sự lệch lạc của nền giáo dục VNCH nêu trên có nhiều: do yếu tố chiến tranh chi phối, do tâm lý truyền thống của người dân Việt Nam và những hạn chế nội tại của ngành giáo dục cũng như chính sách đào tạo-sử dụng của chính quyền VNCH.

II.4- Chính sách tiền tệ, tín dụng, điều hành thị trường nông nghiệp:

II.4.1- Tiền tệ

Năm 1955, chính quyền VNCH phát hành đồng tiền riêng, tính hối suất theo đồng đô-la Mĩ(35 đồng miền Nam = 1 đô-la). Hối suất này không phản ánh đúng trị giá thực của đồng bạc và sức mạnh của nền kinh tế miền Nam Việt Nam, do đó không thể duy trì lâu. Các vụ phá giá đã phải diễn ra, ảnh hưởng không lớn đến đời sống người nông dân và sản xuất nông nghiệp(các vụ phá giá 18/6/1966, 07/6/1971…). Chính sách tiền tệ không hợp lý đã không khuyến khích sản xuất nông nghiệp, thậm chí gián tiếp làm đình trệ và phá hoại nó.

II.4.2- Tín dụng nông nghiệp

Tháng 4/1957 Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh thành lập “Quốc gia nông tín cuộc”[49; 22], một ngân hàng phát triển nông nghiệp; tính sơ bộ suốt thời Ngô Đình Diệm cầm quyền, QGNTC cho vay khoảng trên 3,4 tỷ $VN. Nhìn chung QGNTC không thực hiện được khẩu hiệu “đúng người, đúng việc, đúng lúc”[49; 56].

Năm 1967 chính quyền cho thành lập “Ngân hàng phát triển nông nghiệp”; Tính từ năm 1967 đến 1972, ngân hàng này đã cho vay trên 46 tỷ đồng với trên 700.000 lượt người vay. Đến 1969, để mở rộng nguồn vốn cho nông nghiệp, chính quyền VNCH cho thành lập hệ thống ngân hàng nông thôn có tính chất tư nhân. Mặc dù công tác tín dụng nông nghiệp của hệ thống ngân hàng phát triển nông nghiệp và ngân hàng nông thôn từ 1967 trở đi có tiến bộ so với QGNTC(1957-1966), nhưng vẫn chỉ đáp ứng được khoảng 10% nhu cầu vốn vay.

II.4.3- Vai trò điều hành thị trường nông nghiệp của chính quyền VNCH

VNCH ngay từ đầu theo đuổi chính sách thị trường tự do. Nhìn chung trong suốt giai đoạn 1954-1975, luôn diễn ra một “cuộc chiến vô hình” giữa chính quyền VNCH và cơ chế thị trường tự do, khi chính quyền thắng, sản xuất nông nghiệp được điều hòa hoặc thị trường bị bóp chặt; khi thị trường thắng, nền sản xuất tự vận động theo cơ chế thị trường tự do hoặc bị lũng đoạn. Trong “cuộc chiến 20 năm này”, chính quyền VNCH phần nhiều bị rơi vào thế bị động trước những diễn biến bất ổn của thị trường, bị động trước sự thao túng của hệ thống thương nhân và các tổ chức độc quyền, bị động trước sự biến động của thị trường ngoài xứ. Sự bị động, thất bại của chính quyền VNCH trước cơ chế thị trường trong 20 năm đó đã lý giải thêm về những hạn chế của nền kinh tế nông nghiệp miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975.

II.5- Một số chính sách quy hoạch kiểm soát nông dân, nông thôn, nông nghiệp của chính quyền VNCH.

II.5.1- Dinh điền

Nhìn chung, giai đoạn 1957-1960, do có sự đầu tư lớn nên công tác dinh điền có sự tiến triển. Từ cuối 1959 đầu 1960 trở đi, do sự bùng nổ và lan rộng của phong trào Đồng Khởi, do những yếu kém trong việc xây dựng, duy trì.v.v.tình hình dinh điền ngày càng kém. Tình hình ngày càng tồi tệ khi Diệm bị lật đổ, “Phủ Tổng uỷ dinh điền đã giải tán 22 địa điểm vì lý do an ninh hoặc đồng bào đã bỏ đi hết”[70; 253]. Trước thực trạng ấy, từ 1964 chính quyền VNCH buộc phải  “giải tán các cơ cấu dinh điền”. Như vậy, về mặt chính sách và quản lý nhà nước, từ 1964 không còn cái gọi là “dinh điền” vì chính quyền TW Sài Gòn không còn tổ chức bộ máy quản lý; toàn bộ các dinh điền cũ được giao cho các tỉnh, thực tế dinh điền bị bắt buộc phải trở thành các ấp, xóm, xã.v.v.của các tỉnh. Chính sách dinh điền coi như thất bại hoàn toàn. Sau năm 1970, chính quyền VNCH cũng có ý định khôi phục mô hình này nhưng không làm nổi.

II.5.2-Khu trù mật

Sau chương trình “dinh điền” khoảng 2 năm, Ngô Đình Diệm tiếp tục triển khai chương trình “khu trù mật, đối tượng chủ yếu là nông dân đồng bằng Nam bộ. Do nhiều yếu kém trong suốt quá trình xây dựng, do đặt nặng mục tiêu chính trị kiểm soát dân chúng, chương trình “khu trù mật” ngay từ đầu đã không được nông dân miền Nam Việt Nam ủng hộ, nên nó nhanh chóng tan vỡ. W.Colby, nguyên Giám đốc CIA Đông Nam Á tại Sài Gòn, người cận kề với Diệm-Nhu, thú nhận: “Một thất bại khác là chương trình những “khu trù mật” của Diệm, đưa ra vào giữa năm 1959…họ chỉ biết có tống dân ra khỏi nhà cũ của họ một cách tàn nhẫn rồi để bắt dân phải di chuyển đến chỗ ở mới, những chỗ do những người phụ trách kế hoạch vạch ra. Cùng với thời gian, những khu trù mật và những lời hứa hẹn mà nó mang theo đã dần dần tan rã và người nông dân lại trở về với căn nhà tre lá dựng ven các kênh rạch của họ”[112; 94-95].

II.5.3- Ấp chiến lược- Ấp Tân sinh- Ấp Đời mới

Mục tiêu của chính quyền Diệm-Nhu là phải thiết lập ACL trên toàn miền Nam(khoảng 17.000 ấp) trong giai đoạn 1962-1963, nhưng thực tế chỉ lập được khoảng 1/2 số đó. Thực trạng các ACL, theo lời một viên tướng VNCH phụ trách xây dựng nông thôn, thì: “Trong năm 1964, 4.900 Ấp chiến lược quy tụ 4,7 triệu dân trong số 8.500 Ấp hoàn thành tới ngày 31-10-1963 đã được khai báo là lọt vào tay Việt Cộng”[86; 111].

Sau đảo chính 1963, các chính quyền Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, “Nội các chiến tranh”, chính quyền Thiệu, vẫn tiếp tục “quốc sách”, chỉ thay cho nó những cái tên mới: Ấp Tân sinh, Ấp đời mới, với cách làm “nhẹ nhàng”, “khéo léo” hơn. Từ cuối 1963 đến hết 1966, các chính quyền nỗ lực bình định nhằm giữ và biến khoảng 4000 ACL thành ATS. Nhưng sự phát triển mạnh mẽ của phía cách mạng trong những năm này khiến các chính quyền đó không thể kiểm soát được nông thôn, nên năm 1965 Mỹ buộc phải nhảy vào để cứu lấy chính quyền VNCH. Trước sự yếu kém của hệ thống ATS, sang năm 1967, chính quyền VNCH dường như có sự thay đổi quan điểm trong công tác này. Từ khoảng tháng 4/1968, chính quyền VNCH lại phát động trở lại việc lập AĐM, cho quân đội, cảnh sát tràn ngập lãnh thổ nhằm bình  định “cấp tốc”. Sự thất bại tạm thời của lực lượng cách mạng sau Mậu Thân đã tạo cơ hội cho chính quyền Sài Gòn chiếm được nhiều vùng nông thôn. Cùng với việc triển khai Luật NCCR, chính quyền VNCH chuyển sang bình định và tái thiết nông thôn ở quy mô cấp xã với chương trình “tự túc phát triển xã”.

II.5.4-Hợp tác xã

Thực trạng phát triển và chất lượng các HTX ở miền Nam Việt Nam thời kỳ này, như sau: năm 1959, trong số 353 HTX chỉ có 257 HTX là hoạt động; năm 1960, trong số 371 HTX thì có đến 123 HTX bị xếp vào diện đề nghị xem xét cho giải tán, 50 HTX hoạt động khá(hạng A), 178 HTX(65%) hoạt động thua lỗ(hạng B) và 45(17%) HTX hầu như không có hoạt động(hạng C); năm 1961 có 285 HTX thì mới có 54 HTX lập xong nội quy, 7 HTX bị giải thể, xếp hạng A có 61 HTX(21%), hạng B có 155 HTX(53%), hạng C có 69 HTX(26%); năm 1962 có 292 HTX, hạng A có 71, hạng B có 140, hạng C có 50 và hạng D có 35.v.v. Đến năm 1974 có 750 HTX thì có đến 386 HTX(51,5%) không còn hoạt động.

II.5.5-Hiệp hội nông dân

Tình hình tổ chức HHND dưới chế độ VNCH như sau: đến năm 1963 có: “7 Hiệp hội nông dân tỉnh, 107 hiệp hội nông dân quận, 798 hiệp hội nông dân xã, 10.032 chi hội, gồm có 285.043 hội viên với 23.835.993$ cổ phần và 5.707.127 tiền gia nhập phí và niên liễm”[47; 27]; “Tình hình tổ chức Hiệp hội nông dân đến 31-12-1965: Số Hiệp hội nông dân Tỉnh 1, Quận 59, Xã 803, số Chi hiệp hội nông dân 8.537, số Hội viên 244.157, Tiền cổ phần 25.683.429$, Tiền gia nhập và nguyệt liễm 5.308.833$”[62; 246]; “Từ tháng 11-1966, Hiệp hội nông dân trung ương đã được thành lập”[95; 211]… “Tình hình tổ chức các Hiệp hội nông dân đến cuối năm 1971 được ghi nhận: 01 Hiệp hội Nông dân Trung ương; 01 Tỉnh Hội(Thừa Thiên); 01 Thị Hội(Vũng Tàu); 82 Quận Hội hoạt động trên số 134 đã thành lập tại 29 tỉnh; 421 Xã hội(kể cả 7 Xã hội biệt lập) đang hoạt động trên số 639 Xã hội đã thành lập; 3.391 Chi hội đang hoạt động, trên số 7.352 Chi hội đã thành lập; 95.415 Hội viên nông dân đang hoạt động trên số 210.385 Hội viên đã kết nạp; Số vốn cổ phần do Hội viên đóng góp là 24.871.550 $”[18; 45]. Trong “Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế nông thôn”(1971-1975), chính quyền VNCH dự kiến đến năm 1975 “sẽ có 1 hệ thống gồm độ 150 Hiệp Hội Nông Dân Quận”[74; 23], nhưng không thể trở thành hiện thực.

Suốt giai đoạn 1955-1975, tự đặt cho mình sứ mạng cai quản miền Nam Việt Nam, chính quyền Sài Gòn qua các thời kỳ đều tỏ ra “rất quan tâm” đến vấn đề nông dân-nông thôn-nông nghiệp. Thông qua các chính sách, sự đầu tư nhân-vật lực cho công cuộc “bình định” xuyên suốt 20 năm lịch sử, có thể nói lĩnh vực nông dân-nông thôn-nông nghiệp được chính quyền VNCH coi trọng đến mức chỉ đứng sau  lĩnh vực quân sự. Tuy nhiên dễ dàng nhận thấy tất cả các chính sách đó, dù cho có ở lĩnh vực gì, được thực hiện dưới hình thức nào, sự đầu tư về nhân-vật lực-thời gian ra sao.v.v. đều nhắm tới điểm chung nhất: bình định nông thôn-kiểm soát nông dâ; mục tiêu phát triển nông nghiệp càng về sau càng bị đặt xuống hàng thứ yếu.

Chương III

Một số biến đổi trong nền nông nghiệp

miền Nam Việt Nam  thời kỳ 1955-1975

Trải qua 20 năm, với sự tác động của nhiều yếu tố liên quan trong khung cảnh đặc biệt của thời kỳ 1955-1975, cùng với vai trò tự chủ, nỗ lực, sáng tạo của người nông dân, nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam đã có những biến đổi:

III.1- Biến đổi về sở hữu ruộng đất, cơ cấu giai cấp.

Kết quả CCĐĐ của Ngô Đình Diệm: ký kết 733.055 khế ước trên một diện tích đất là 1.386.093ha, “tiểu điền chủ hoá” 115.381 tá điền với 246.576ha ruộng đất cấp bán, được các nhà nghiên cứu phía cách mạng thống nhất đánh giá rằng: “chính quyền…Ngô Đình Diệm tiến hành cái gọi là “cải cách điền địa” nhằm xoá bỏ thành quả ruộng đất mà chính quyền cách mạng đã đem lại cho nông dân, khôi phục lại giai cấp địa chủ và chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến…đã cướp 80-90% ruộng đất mà chính quyền cách mạng đã chia cho nông dân miền Nam trong những năm kháng chiến. Hàng vạn nông dân lại mất ruộng đất và trở thành những người lao động làm thuê. Là đối tượng của sự phân hoá, cho nên cùng với việc tái lập giai cấp địa chủ, việc tăng cường đội ngũ những người nông dân không ruộng, là việc giảm đi một cách rõ rệt của tầng lớp trung nông.”[40; 15-16].

Tuy nhiên, trong giai đoạn từ “Đồng Khởi”(1959-1960) đến “Mậu Thân”(1968), với sự kiểm soát nông thôn và sự thực thi chính sách RĐ của phía cách mạng ở đó, giai cấp địa chủ gần như không còn tồn tại ở nông thôn miền Nam, tầng lớp trung nông đã được phục hồi và phát triển trở lại ngày một mạnh mẽ do chính sách RĐ của phía cách mạng.

Trong tình thế trên, việc tiếp tục giải quyết vấn đề RĐ cho nông dân là một việc không thể không làm. Do đó, với sự trợ giúp mọi mặt của người Mỹ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã thực hiện Luật NCCR. Căn cứ theo báo cáo của chính quyền Thiệu tính cho đến những ngày cuối cùng của “quốc gia” này vào tháng 3/1975 có: “1.119.703 nông dân được cấp phát … một diện tích ruộng đất là 1.304.522 mẫu; trong đó 1.049.359 chứng khoán tương ứng 1.169.654 mẫu đất đã cấp phát”[4; 19-20].

Qua nghiên cứu, thấy rằng Luật NCCR thể hiện rõ tính hai mặt: Một mặt, so với các chính sách CCĐĐ trước đó, Luật NCCR thể hiện rõ bước tiến. Mặt khác, thấy rằng Luật NCCR và quá trình thực thi luật này ẩn chứa và bộc lộ nhiều hạn chế. Ở góc độ giai cấp, luật NCCR của Nguyễn Văn Thiệu khách quan đã (cùng với chính sách của phía cách mạng thực hiện trước đó ở nông thôn) xoá bỏ hình thức sở hữu RĐ và quan hệ sản xuất phong kiến tại nông thôn miền Nam; góp phần xoá bỏ giai cấp địa chủ và tạo nên sự thắng thế của tầng lớp trung nông đông đảo ở nông thôn.

Do đó, nhìn chung cho đến trước ngày thống nhất đất nước, căn bản giai cấp địa chủ đã bị xoá bỏ tại miền Nam Việt Nam, tầng lớp trung nông  ngày càng phát triển. “Kết quả của cuộc điều tra năm 1978 cho thấy, ở ĐBSCL tầng lớp trung nông chiếm 70% dân số nông thôn, 74,5% lao động, 80% ruộng đất, 60% tổng năng lượng cơ khí, trên 70% máy móc cơ khí nhỏ, 93% sức kéo trâu bò”[13; 108]. Những con số trên đây cho thấy, một mặt cơ cấu giai cấp tại nông thôn miền Nam có một sự biến đổi mạnh mẽ trong giai đoạn 1954-1975, giai cấp địa chủ và tá điền bị xoá bỏ, mặt khác biểu hiện sự lớn mạnh về vai trò kinh tế của tầng lớp trung nông tại đây. Sự lớn mạnh của tầng lớp trung nông là một trong những nhân tố quyết định sự biến đổi về phương thức sản xuất và cơ cấu ngành nghề trong nông nghiệp-nông thôn miền Nam trước ngày thống nhất.

III.2- Sự biến đổi về phương thức sản xuất-kinh doanh và cơ cấu ngành nghề tại nông thôn miền Nam

Sự xâm nhập của quan hệ thị trường tự do vào nông thôn miền Nam được tạo tiền đề từ chính sách RĐ, đồng thời ngày càng được thúc đẩy mạnh bởi sự xâm nhập của các yếu tố: tín dụng; sự nhập lượng và tăng cường sử dụng phân bón, máy móc kỹ thuật phục vụ sản xuất-kinh doanh; hệ thống các đại lý buôn bán nguyên vật liệu và thu mua nông sản; sự thiết lập các nông trại làm ăn theo lối tư bản với quy mô và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại.v.v. Sự phát triển của tầng lớp trung nông miền Nam trước ngày thống nhất đất nước chính là một nét biến đổi tiêu biểu nhất về cơ cấu giai cấp, đồng thời chứng tỏ quan hệ thị trường tự do đã bước đầu xâm nhập mạnh vào nông thôn-nông nghiệp miền Nam Việt Nam, thể hiện rõ đường hướng phát triển của kiểu quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp-nông thôn miền Nam.

Cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp-nông thôn cũng biến đổi theo hướng phân công hoá và chuyên môn hoá rõ rệt hơn; đây cũng là một biến đổi quan trọng của nền nông nghiệp miền Nam giai đoạn 1954-1975. Số các hộ nông dân phi nông nghiệp có xu hướng ngày một tăng lên ở các ngành thương mại, dịch vụ và tiểu công nghệ.

Sự biến đổi trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn miền Nam Việt Nam còn biểu hiện ở sự phân công-chuyên môn hoá trong nội tại ngành nông nghiệp truyền thống, tức là có sự phân công-chuyên môn hoá giữa trồng trọt với chăn nuôi(miền Nam gọi là nông nghiệp và mục súc).

Sự biến đổi trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp miền Nam giai đoạn 1954-1975 còn thể hiện rõ trong sự phát triển đa dạng của cơ cấu cây trồng.

Như vậy đến những năm 60-70, đã có một sự chuyển dịch quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn tại miền Nam Việt Nam gắn liền với sự phát triển ngày càng mạnh của quan hệ sản xuất kinh doanh theo lối thị trường tự do; người nông dân tại nhiều vùng nông thôn miền Nam không còn bó mình thuần tuý trong nền sản xuất “tự cấp tự túc” khép kín, với bản tính năng động của mình, họ đã bước vào “sân chơi” chung của một nền kinh tế sản xuất hàng hoá năng động. Đây là một “cái vốn rất quý” cho sự phát triển kinh tế đất nước về sau.

III.3- Sự gia tăng của các yếu tố KHKT trong sản xuất nông nghiệp

Trong 20 năm (1954-1975), chính quyền VNCH đã có những chính sách đổi mới về KHKT trong sản xuất nông nghiệp.

III.3.1-Về giống cây trồng

Nếu so sánh, thấy rằng thời kỳ Ngô Đình Diệm làm “Tổng thống”, chính quyền VNCH có nhiều đầu tư cho việc sưu tầm, chọn lọc, lai tạo, nhân giống… phục vụ sản xuất, hơn thời Nguyễn Văn Thiệu. Tuy vậy, tất cả mọi việc chủ yếu vẫn mới chỉ dừng ở giai đoạn “thực nghiệm”, chính vì thế chưa tạo nên được một sự “đột biến” nào về năng suất, sản lượng cây trồng. Từ 1966-1967 Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền, trước thực trạng áp lực nhập cảng gạo ngày càng lớn của một xứ chuyên trồng lúa, chính quyền VNCH đã tiến hành nhập khẩu các giống lúa mới có năng suất cao: IR-5, 8, 20, 22, 3.v.v. đó là một giải pháp tốt, giúp giảm bớt áp lực nhập cảng gạo.

III.3.2-Phân bón hoá học

Suốt thời kỳ Ngô Đình Diệm, việc sử dụng phân bón hoá học vẫn còn rất mới mẻ đối với ngành trồng trọt. Phân bón nhập cảng hàng năm chủ yếu dùng “yểm trợ” cho kế hoạch dinh điền. Từ sau 1969-1970, chính quyền VNCH phát triển mạnh lúa Thần Nông và triển khai chương trình NCCR, lượng phân bón hoá học nhập cảng đã tăng mạnh. Dẫu còn những hạn chế, nhưng với chính sách nhập cảng phân bón của chính quyền VNCH, và sự cố gắng đầu tư cho sản xuất của người nông dân, việc sử dụng phân bón trong nông nghiệp trồng trọt ngày càng có chiều hướng phát triển; đó là một sự biến đổi quan trọng trong việc đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp ở miền Nam giai đoạn này. Phân bón cùng với giống mới, đã góp phần tạo nên sự biến đổi quan trọng về năng suất-sản lượng cây trồng, chủ yếu là lúa, tại miền Nam Việt Nam.

III.3.3-Cơ giới hoá

Cho đến hết năm năm 1970, chính quyền VNCH chỉ có một chính sách là “nhập khẩu nông-ngư cơ”; Trong giai đoạn Ngô Đình Diệm cầm quyền, nông-ngư cơ nhập cảng còn ít; chính quyền VNCH chỉ nhập cảng nông cơ với số lượng nhiều ở thời điểm Nguyễn Văn Thiệu ban hành Luật NCCR. Từ năm 1971, chính quyền VNCH tiến hành “nội hoá nông-ngư cơ”. Các nhà máy như: Vikyno(quốc doanh), Vinappro(tư nhân)…được thành lập, thực hiện lắp ráp máy nông cơ bằng các thiết bị nhập khẩu từ Nhật sản xuất. Do đó, số máy nông cơ giai đoạn này khá nhiều.

Tuy nhiên, có một sự lệch lạc, thiếu đồng bộ trong thực hiện “cơ giới hoá nông nghiệp” tại VNCH. Chính quyền VNCH thời điểm 1971-1972 thừa nhận sự lệch lạc, phiến diện trong công cuộc “cơ giới hoá nông nghiệp” rằng: “cho đến những năm gần đây, còn có một số viên chức cao cấp quan niệm rằng chỉ cần nhập cảng nhiều máy cày(máy kéo)là đã cơ giới hoá nông thôn rồi! Vấn đề không chỉ phải đơn giản như vậy”[74; ?].

Cho dù vậy, với quan điểm tích cực, chúng tôi vẫn thừa nhận, chính sách nhập cảng nông cơ và “nội địa hoá nông cơ” đã có một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy “quá trình cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp” ở miền Nam Việt Nam giai đoạn này. Đó là một bước tiến quan trọng, một sự biến đổi trong ngành nông nghiệp. Máy móc gia tăng cũng là một tiền đề tạo nên sự biến đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và giai cấp tại nông thôn miền Nam như đã nêu ở phần trên.

III.4- Những biến động của một số loại nông sản chủ đạo tại miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1975

III.4.1-Lúa gạo

Nền sản xuất lúa gạo của miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1964, tuy có những thăng trầm song vẫn có gạo để xuất cảng, góp phần đem về một lượng ngoại tệ đáng kể cho ngân sách. Tuy nhiên từ 1965 trở đi tình hình khác hẳn, miền Nam từ chỗ là “vựa lúa” xuất cảng trở thành “cái bồ” đựng gạo nhập cảng, với số lượng nhập gấp khoảng 3 lần số xuất trước đó(1.356.650 tấn xuất; so với 3.906.880 tấn nhập trong cùng một khoảng thời gian tương ứng 9-10 năm); có giai đoạn phải nhập cấp tốc, ồ ạt với số lượng lớn như những năm từ 1966 – 1970, đặc biệt là trong hai năm 1967-1968. Như vậy, trước khi thất bại hoàn toàn về quân sự-chính trị vào 30/4/1975, chính quyền VNCH đã thất bại trước đó trong cuộc chiến kinh tế nông nghiệp-nông dân-nông thôn nói chung, cuộc chiến lúa gạo nói riêng. Sự thất bại trong cuộc chiến tranh trên mặt trận nông nghiệp- nông dân- nông thôn đã thể hiện tính thất bại tất yếu nói chung.

III.4.2-Diện tích-sản lượng một số loại cây lương thực khác

Bên cạnh cây lương thực quan trọng bậc nhất là lúa-gạo, miền Nam Việt Nam còn có nhiều điều kiện tiềm năng và nhu cầu về phát triển các loại cây lương thực khác như ngô, khoai, sắn, lạc.v.v. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh phá hoại, do sự ảnh hưởng của ngoại viện(viện trợ thực phẩm và các hàng hoá nhập cảng có nguồn gốc chế biến từ nông sản), một phần do sự thiếu quan tâm của chính quyền VNCH.v.v.nên trong suốt giai đoạn 1955-1975, nhìn chung diện tích, sản lượng các loại cây lương thực phụ ở miền Nam Việt Nam đều không có sự phát triển tương xứng với tiềm năng và nhu cầu, không ổn định, năng suất thấp. Trong giai đoạn cuối, 1965-1975, khi lúa gạo luôn phải nhập cảng, các ngành cây trồng nêu trên cũng không có sự vươn lên. Sự yếu kém đó không những hạn chế việc giải quyết nhu cầu lương thực cho người, mà còn ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác.

III.4.3- Cao su

Ngành cao su trong 20 năm, thể hiện rõ hai giai đoạn phát triển: Giai đoạn 1955-1963, qua con số gia tăng dần của diện tích, sản ngạch có thể kết luận đây là thời kỳ hưng thịnh nhất của ngành trồng và xuất cảng cao su miền Nam. Diện tích cao su thời kỳ này tăng đều;  tỷ trọng % giá trị ngoại tệ thu hồi từ xuất cảng cao su luôn cao, trung bình chiếm từ 60% trở lên. Đó là nguyên nhân kinh tế lý giải vì sao Ngô Đình Diệm rất coi trọng đầu tư cho kế hoạch dinh điền. Các chính quyền VNCH sau 1963 đều nhận thấy nguồn lợi từ cao su, do đó vẫn có ý định khôi phục các dinh điền, nhất là sau những năm 1969-1970, nhưng kết cục không thực hiện được

III.4.4-Tình hình một số loại cây công nghiệp khác

Bên cạnh cao su, miền Nam Việt Nam còn nhu cầu và có nhiều tiềm năng để phát triển một số loại cây công nghiệp khác như mía, đay, dâu tằm, ki-náp, cà-phê, trà, dừa, thuốc lá, bông vải.v.v. Tuy nhiên, cũng như tình trạng chung của một số loại cây lương thực đã nêu trên, do chiến tranh, do ảnh hưởng tiêu cực của ngoại viện, do thiếu chính sách đồng bộ của chính quyền.v.v.mà các ngành cây công nghiệp này của miền Nam Việt Minh từ 1955 đến 1975 đa số dần rơi vào chiều hướng đi xuống, có những ngành gần như mất hẳn(như ngành trồng bông vải…), kéo theo đó là tình cảnh cuộc sống ngày càng trở nên khó khăn của những người nông dân, những vùng nông thôn vốn chuyên trồng trọt các loại cây này.

Có thể nói, nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1955-1975 mặc dù có những đình trệ, song vẫn có những yếu tố đổi mới quan trọng. Người nông dân miền Nam Việt Nam, sống trong một nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường tự do, với sự xâm nhập ngày càng sâu của các yếu tố tiền tệ, KHKT, một xã hội tương đối cởi mở nên người nông dân miền Nam trở nên năng động, tiếp thu được các kiến thức mới, học tập được lối tư duy sản xuất kinh doanh tiến bộ. Sự biến đổi về cách nghĩ-cách làm của người nông dân trong 20 năm lịch sử này chính là biểu hiện và động lực cho sự biến đổi trong nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam.

Kết luận

Trong nền kinh tế miền Nam nói riêng, nông nghiệp và kinh tế Việt Nam nói chung, nông nghiệp miền Nam luôn có vai trò quan trọng, dù trước đây trong thời Pháp thuộc hay trong 20 năm đấu tranh thống nhất đất nước và ngay trong thời kỳ hiện tại.

Thời Pháp thuộc, dù còn bị duy trì trong quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, nhưng nền nông nghiệp miền Nam vẫn luôn đem lại lợi nhuận lớn cho công cuộc khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân; ngay trong thời kỳ 1945-1954, nông nghiệp vẫn cho phép xuất khẩu đem lại nguồn thu khá quan trọng.

Bước vào giai đoạn 1954-1975, đất nước tạm thời bị chia cắt, nền nông nghiệp miền Nam có nhiều biến đổi theo cả chiều hướng tiêu cực và tích cực. Chiến tranh và viện trợ nước ngoài, chủ yếu là của Mỹ, chính sách của chính quyền VNCH cũ, chính sách ruộng đất và đấu tranh kinh tế của phía cách mạng, vai trò nỗ lực của người nông dân miền Nam.v.v.là những nhân tố chủ yếu tác động đến nền nông nghiệp-nông dân-nông thôn miền Nam Việt Nam.

Nông thôn miền Nam Việt Nam là địa bàn những người cách mạng có cơ sở vững chắc từ trước cách mạng tháng Tám, trưởng thành qua 9 năm chống Pháp, phát triển mạnh mẽ theo chiều dài 20 năm chiến tranh. Chính quyền VNCH ra đời trên cơ sở tiếp nối chính quyền do thực dân Pháp dựng lên trước ngày thất bại,  với sự viện trợ mọi mặt của Mỹ để thực hiện chiến lược của họ tại Việt Nam. Chính quyền VNCH ngay từ đầu đã có rất ít ảnh hưởng tại nông thôn và trong nông dân, số địa chủ mà chính quyền này dựa vào trong buổi ban đầu thực tế trong những năm chống Pháp đã bị suy yếu nhiều về kinh tế và chính trị tại nông thôn, chủ yếu do chính sách kinh tế-ruộng đất của phía cách mạng, do đó các chính quyền VNCH, nhất là thời Ngô Đình Diệm đã cố gắng bảo vệ quyền lợi cho họ, thông qua việc trì hoãn thực hiện một chính sách RĐ tiến bộ, nhằm phục hồi cơ sở kinh tế-xã hội cho chính quyền trung ương. Tuy nhiên, sự phát triển của phong trào cách mạng tại nông thôn mà một trong những nguyên nhân là từ sự thực hiện chính sách RĐ tiến bộ của phía cách mạng, khiến cho chính quyền VNCH ngày càng phải thu hẹp phạm vi ảnh hưởng về các đô thị; giai cấp địa chủ được phục hồi lại tiếp tục bị xoá bỏ, mất hẳn ảnh hưởng tại nông thôn, không còn là chỗ dựa cho chính quyền trung ương; trong hoàn cảnh ấy, chính quyền VNCH cuối cùng cũng phải thực hiện một chính sách RĐ mới là luật NCCR, nhằm gây dựng nên một cơ sở xã hội mới, tìm kiếm một chỗ dựa trong tầng lớp nông dân-nông thôn đang chuyển mình sản xuất kinh doanh nông nghiệp trong một nền kinh tế thị trường tự do, nhưng quá muộn. Có thể nói, xuyên suốt 20 năm tồn tại, chính quyền VNCH với sự viện trợ mọi mặt của Mỹ và đồng minh, đã đổ tiền, đổ của, đổ người về các vùng nông thôn thực hiện cuộc chiến giành giật nông dân-nông thôn-nông nghiệp với phía cách mạng; nhiều biện pháp trên mọi lĩnh vực đã được ban hành, thử nghiệm, áp dụng; phía cách mạng cũng dồn mọi nỗ lực cao nhất có thể về nông thôn. Nông thôn miền Nam trở thành địa bàn chiến lược, là trung tâm của sự tranh giành, là chiến trường chiếm phần lớn thời gian suốt cuộc chiến. Điều đó càng làm nổi bật mức độ tác động, sự ảnh hưởng sâu đậm của chiến tranh đến nông nghiệp-nông dân-nông thôn.

Có thể gọi cuộc chiến 20 năm ấy là cuộc chiến tranh nông nghiệp-nông dân-nông thôn. Sự thắng bại trong cuộc chiến này là một trong những thành tố góp phần quyết định thắng bại cuối cùng của mỗi bên, bởi mỗi bên đều cần nông dân ủng hộ để huy động quân lính, đều cần nông nghiệp để lấy lương ăn. Dù rằng mọi cuộc chiến cuối cùng đều phải kết thúc bằng sức mạnh của trận quyết định trên chiến trường, bằng quân lính và sắt thép, nhưng sức mạnh ấy trước đó đã phải được quyết định từ nông dân-nông nghiệp-nông thôn. Do đó, nông nghiệp-nông dân-nông thôn là lĩnh vực mà cả hai bên tham chiến, cách mạng và chính quyền Sài Gòn, cùng coi trọng trong suốt 20 năm. Do đó, mọi biểu hiện tốt-xấu, tích cực-tiêu cực, xây dựng-phá hoại.v.v.của chiến tranh đều dồn vào nông nghiệp-nông dân-nông thôn. Nghiên cứu nền kinh tế nông nghiệp miền Nam giai đoạn 1954-1975 là nghiên cứu nó trong điều kiện chiến tranh.

Chiến tranh đã làm cho sức sản xuất của nền nông nghiệp miền Nam bị phá hoại nghiêm trọng; diện tích sản xuất nông nghiệp sụt giảm, khó gia tăng và bị hoang hoá nhiều do bom đạn, do chất diệt cỏ, do hệ thống thuỷ lợi bị phá huỷ; chiến tranh khiến cho hàng triệu nông dân phải di cư tỵ nạn, huy động một phần lớn thanh niên phải tham gia vào cuộc chiến(cho cả 2 phía), gây nên tình trạng thiếu lao động trong nông nghiệp tại nông thôn, tạo ra nạn thừa người tại đô thị, gia tăng áp lực đối với nền nông nghiệp vì một số đông tách khỏi sản xuất trực tiếp mà vẫn tiêu dùng.v.v. Năng suất, sản lượng diện tích của đa số nông sản trong nền nông nghiệp miền Nam bị sụt giảm nghiêm trọng; Nông thôn bị tàn phá; Đời sống một bộ phận lớn nông dân bấp bênh theo diễn biến cường độ, quy mô chiến sự; Nền nông nghiệp ngày càng không đủ khả năng đảm bảo nhu cầu trong xứ, đưa đến tình trạng phải nhập cảng với số lượng ngày càng nhiều.

Viện trợ nước ngoài (xem thêm Phụ lục) xuất hiện tại miền Nam khi Mỹ và các đồng minh muốn thực hiện chiến lược của họ tại đây; Viện trợ được tăng cường khi nền kinh tế miền Nam, trong đó có nông nghiệp, bị sụt giảm nghiêm trọng. Sự sụt giảm của ngành nông nghiệp, tới lượt nó, càng làm cho mức độ phụ thuộc ngoại viện của nền kinh tế miền Nam gia tăng.

Trong suốt 20 năm chiến tranh, chính quyền VNCH đã nghiên cứu, ban hành và thực thi nhiều chính sách liên quan không chỉ đến nông nghiệp mà còn áp dụng đối với cả nông dân và nông thôn miền Nam Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu các nhóm chính sách của chính quyền VNCH thấy rằng không phải chính quyền VNCH không quan tâm đến phát triển nông nghiệp; trái lại, vì phục vụ mục tiêu tranh giành nông dân-nông thôn trong cuộc đối đầu với phía cách mạng, chính quyền này với sự trợ giúp mọi mặt của người Mỹ, đã “cực kỳ quan tâm” đến kinh tế nông nghiệp miền Nam. Hệ thống các chính sách do họ ban hành không phải là ít. Có những chính sách đã phát huy tác động góp phần vào những biến đổi tích cực trong nền nông nghiệp miền Nam giai đoạn này; Nhưng rất nhiều chính sách vì quá đặt nặng mục tiêu chính trị, hoặc được ban hành để thực thi theo các mục tiêu mà viện trợ đề ra, thậm chí là một số chính sách ban hành thể hiện rõ tính áp đặt đối với nông nghiệp-nông dân-nông thôn phục vụ cho mục tiêu chiến tranh.v.v. đã không những hạn chế đi hiệu quả mà bản thân chính sách muốn đạt tới, mà còn gây nên những sự xáo trộn lớn, phá hoại nghiêm trọng sức sản xuất nông nghiệp của nông dân trong nông thôn miền Nam. Những hiệu quả đem lại cho nông nghiệp-nông dân-nông thôn từ sự thực thi các chính sách của chính quyền này là có, nhưng không bù đắp nổi những mất mát mà nó phải gánh chịu. Bên cạnh đó cũng dễ dàng nhận thấy, các chính sách nông nghiệp-nông dân-nông thôn của chính quyền VNCH, một mặt ngay từ khi xây dựng đã có sẵn những hạn chế của nó, do khả năng của những người lập kế hoạch, sự chi phối của kẻ tài trợ tài chính để thực thi kế hoạch đó, sự thiếu đồng bộ và nhiều hạn chế; đồng thời chiến tranh cũng là yếu tố khiến cho các chính sách này “biến dạng”.

Xu hướng nổi bật của nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam trong suốt chiều dài 20 năm chiến tranh là đi xuống, nhưng cũng có những biến đổi quan trọng tạo tiền đề cho một sự phát triển mạnh mẽ về sau.

Bước vào thời kỳ đổi mới xây dựng đất nước, nhiều bài học, kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển lĩnh vực nông nghiệp-nông dân-nông thôn miền Nam giai đoạn 1955-1975 và giai đoạn từ sau “thống nhất” đến trước “đổi mới”, đã được Đảng-Chính phủ Việt Nam rút ra. Những sáng tạo-dũng cảm của nông dân-nông thôn-nông nghiệp miền Nam đã góp phần khơi nguồn “đổi mới”, góp phần làm sáng rõ con đường quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam. ĐCSVN đã xác định: “Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế – xã hội;… Nông – lâm – ngư nghiệp phát triển theo hướng kinh tế hàng hóa, gắn với công nghiệp chế biến, đáp ứng nhu cầu trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu… Phát triển kinh tế gắn với xây dựng nông thôn mới. Phát huy tối đa tiềm năng của kinh tế hộ nông dân, kết hợp với hoạt động có hiệu quả của các tổ chức kinh tế hợp tác thu hút phần lớn số hộ ở nông thôn và liên kết bằng nhiều hình thức với kinh tế quốc doanh”[12; ?]. Sự đổi mới kịp thời của ĐCSVN đã khơi lại và phát huy mạnh mẽ những tư duy sáng tạo và mọi nguồn lực trong nông dân, đưa nông nghiệp-nông dân-nông thôn miền Nam đi đúng con đường phát triển phù hợp. Nông nghiệp miền Nam đã lấy lại được vị trí vốn có trong nền kinh tế của một nước Việt Nam thống nhất, giành lại được vị thế quan trọng trên thị trường xuất khẩu nông sản thế giới.

Thực tế phát triển của nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam, áp lực sẽ luôn luôn đặt ra, những khó khăn mang tính chất thuần tuý kinh tế đã từng diễn ra trong lịch sử 20 năm chiến tranh hoàn toàn có thể lặp lại. Những vấn đề hiện đang nổi cộm như: thị trường đầu ra cho nông sản; vấn đề thuỷ lợi; vấn đề thị trường giá cả phân bón, thuốc trừ sâu.v.v. đều đã từng xuất hiện. Bên cạnh đó, sau 20-30 năm chiến tranh khốc liệt với nhiều đóng góp cho sự nghiệp giải phóng-thống nhất đất nước và hơn 20 năm đổi mới, tiến hành CNH-HĐH đất nước, nông thôn-nông dân-nông nghiệp miền Nam nói riêng, vẫn phải chịu những tụt hậu, thiệt thòi. Chúng tôi hy vọng rằng chủ trương của Nghị quyết “Về nông nghiệp-nông dân-nông thôn” của Hội nghị VII(khoá X)BCHTW ĐCSVN, tháng 7/2008, đặc biệt là đề án “Tam nông” đang được thảo luận, sẽ sớm được đi vào thực tiễn, góp phần thúc đẩy “nông nghiệp-nông dân-nông thôn” miền Nam nói riêng, cả nước nói chung. “Hiện nay, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đang có nhiều thời cơ thuận lợi, nhưng cũng phải đối phó với không ít khó khăn, thách thức cả trong nước và từ quốc tế. Vấn đề đặt ra là phải giải quyết đồng bộ và có hiệu quả cao, khắc phục yếu kém, khó khăn, nắm bắt thời cơ, vượt qua thử thách, đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn phát triển nhanh, phấn đấu đạt đến mục tiêu : nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, đặc biệt, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn, nông dân có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực, đủ bản lĩnh chính trị, thực sự làm chủ nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ, nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công – nông – trí, tạo nền tảng kinh tế – xã hội và chính trị vững chắc, bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[32; ?].

**************

Tài liệu tham khảo:

  1. Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ-cứu nước-thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, H, 1995.
  2. BCHTW đảng Dân chủ(VNCH), Bài nói của chủ tịch đảng Dân chủ tại hội thảo 1/73 ngày 30/4/1973, S, ?.
  3. Hoàng Văn Bình, Chính sách nông dân tại Việt Nam cộng hoà, Luận văn tốt nghiệp Ban Đốc sự khoá XIX(1971-1974)Học viện QGHC Sài Gòn, S, 1974.
  4. Bộ Dân vận và Chiêu hồi(VNCH), Thành quả 5 năm thi hành chương trình Người cày có ruộng, S, 1975.
  5. Bộ Điền thổ và Cải cách điền địa(VNCH), Luật lệ cải cách điền địa, 1960.
  6. Công báo VNCH số 1/1955
  7. Công báo VNCH, ngày 29/10/1955.
  8. Nguyễn Đức Cung, Từ Ấp chiến lược đến biến cố tết Mậu Thân, những hệ luỵ lịch sử trong chiến tranh Việt Nam, Website Việt Nam thư quán.
  9. Tạ Ngọc Cường, Công cuộc bình định-xây dựng và phát triển của Việt Nam cộng hoà, Luận văn tốt nghiệp Ban đốc sự khoá XVI(1970-1973)HvQGHC Sài Gòn.

10. Lê Duẩn, Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam, Nxb ST, H, 1965.

11. Dư luận báo chí Thái Lan đối với Việt Nam cộng hoà (10/1960-10/1961)

12. Nguyễn Khắc Đạm, Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam, Nxb Văn Sử Địa, H, 1958.

13. Trần Hữu Đính, Quá trình biến đổi về chế độ sở hữu ruộng đất và cơ cấu giai cấp ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long 1969-1975, Nxb KHXH, H, 1994.

14. Nguyễn Kiến Giang, Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước cách mạng tháng Tám, Nxb ST, H, 1959.

15. Võ Nguyên Giáp, Mỹ-Diệm liên tục và trắng trợn vi phạm Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, Nxb QĐND, H, 1962.

16. Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng(tập I), Nxb KHXH, H, 1964.

17. Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng(tập II), Nxb KHXH, H, 1966.

18. Nguyễn Thị Hai, Vai trò Hợp tác xã-Hiệp hội nông dân, Luận văn tốt nghiệp Ban đốc sự khoá XVII(1969-1972)HvQGHC Sài Gòn.

19. Hồ Chí Minh, Tuyển tập(tập I), Nxb ST, H, 1980.

20. Hồ Chí Minh, Tuyển tập(tập II), Nxb ST, H, 1980.

21. Nguyễn Văn Huy, Kỹ nghệ ráp máy tại Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp Ban Đốc sự khoá XVII(1969-1972)HvQGHC Sài Gòn, S, 1972.

22. Lâm Quang Huyên, Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam, Nxb KHXH, H, 1985.

23. Nguyễn Tiến Hưng, Khi đồng minh tháo chạy, Website Việt Nam thư quán.

24. Phan Khánh, Nam Bộ 300 năm làm thuỷ lợi(tái bản lần 1 có bổ sung), Nxb Nông nghiệp, tpHCM, 2005.

25. Lê Khoa(và một số cộng tác viên Ban kinh tế học-Viện KHXH thành phố Hồ Chí Minh), Tình hình kinh tế miền Nam 1955-1975 qua các chỉ tiêu thống kê, tpHCM, 1979(Tài liệu lưu trữ Học viện Chính trị và hành chính quốc gia Hồ Chí Minh).

26. Đặng Thị Lang, Vai trò Hợp tác xã Đồng Tiến trong việc phát triển chăn nuôi tại Bình Dương, Luận văn tốt nghiệp Ban đốc sự khoá XVII(1969-1972)HvQGHC Sài Gòn.

27. Lê Ngọc Lang, Vấn đề sản xuất và tiêu thụ gạo tại Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp Ban Đốc sự khoá 17(1969-1972)Học viện HCQG, S, 1972.

28. Larry Berman, Điệp viên hoàn hảo, Nxb Thông tấn, H, 2007.

29. Trần Huy Liệu, Vấn đề ruộng đất trong cách mạng Việt Nam, Tập san Văn-Sử-Địa, số 2/1954.

30. Lilienthal, Sự phát triển sau chiến tranh của Cộng hoà Việt Nam(Bộ ngoại thương dịch), H, 1969.

31. Hoành Linh, Hồi  ký  Đỗ  Mậu, Website Việt Nam thư quán.

32. Nông Đức Mạnh(Tổng Bí thư BCHTW ĐCSVN), Bài Phát biểu Bế mạc Hội nghị lần thứ 7 BCHTW ĐCSVN(khoá X)(17/7/2008), Website Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

33. Michael D.Sallah-Mitch Weiss-Joe Mahr, Bí mật chôn vùi-Sự thật tàn bạo, Nxb Trẻ, H, 2006.

34. Đỗ Văn Minh, Vấn đề cao su Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp Ban đốc sự khoá XVI(1968-1971)HvQGHC Sài Gòn.

35. Niên giám thống kê nông nghiệp(VNCH)1962

36. Lê Nguyên, Kinh tế miền Nam 1954-1975, H, 1976(tài liệu lưu trữ Viện kinh tế Việt Nam).

37. Nha báo chí Phủ thủ tướng(VNCH), Diễn văn của thủ tướng Trần Thiện Khiêm, S, 1972.

38. Nha chiến tranh tâm lý(Bộ quốc phòng VNCH), 1963 Quốc sách ACL trong cuộc chiến tranh tư tưởng, S, 1963.

39. Nha khảo cứu và sưu tầm nông lâm súc(Bộ CCĐĐ VNCH), Trung tâm thực nghiệm nông sản Bảo Lộc, S, 1960.

40. Nguyễn Văn Nhật, Tìm hiểu về tầng lớp trung nông ở đồng bằng Nam Bộ trước ngày giải phóng, NCLS, số 1/1983.

41. Đặng Phong, Kinh tế miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955-1975, Nxb KHXH, H, 2004.

42. Phủ Tổng uỷ Dinh điền trực thuộc Phủ Tổng thống(VNCH), Công cuộc dinh điền tại Việt Nam đến 30.6.1959, S, 1959.

43. Phủ Tổng uỷ HTX và Nông tín(VNCH), Phong trào Hợp Tác Xã tại Việt Nam(đến 30.6.1960), S, 1960.

44. Phủ Tổng uý HTX và Nông tín(VNCH), Báo cáo hoạt động 1959.

45. Phủ Tổng uỷ HTX và Nông tín(VNCH), Báo cáo hoạt động 1960.

46. Phủ Tổng uỷ HTX và Nông tín(VNCH), Báo cáo hoạt động 1961.

47. Phủ Tổng uỷ HTX và Nông tín(VNCH), Báo cáo hoạt động 1963.

48. Phủ Tổng uỷ HTX và NT(VNCH), Báo cáo hoạt động 1962.

49. Phủ Tổng uỷ HTX và NT(VNCH), Tín dụng nông nghiệp tại Việt Nam, S, 1959.

50. Trần Phương(chủ biên), Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam, Nxb KHXH, H, 1968.

51. Quốc hội nước CHXHCNVN, Văn kiện quốc hội toàn tập(tập II) Website Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

52. Nguyễn Hữu Quý, Hội đồng văn hoá giáo dục, Luận văn tốt nghiệp Ban đốc sự khoá XVII(1969-1972)HvQGHC Sài Gòn.

53. Trương Hữu Quýnh…(chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam(toàn tập), Nxb GD, H, 2005.

54. Ralph W.MC Gehee, 25 năm tôi làm việc ở CIA-Sự lừa dối kinh khủng, Nxb CAND, H, 2002.

55. Võ Văn Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam 1954-1975, Nxb ĐHQG, tpHCM, 2005.

56. Sở Thống kê và kinh tế nông nghiệp(Bộ cải tiến nông thôn-VNCH), Niên giám thống kê nông nghiệp năm 1962.

57. Lý Hồng Sơn, Phân tích phê bình chính sách bình định và phát triển nông thôn căn bản hiện tại của chánh phủ, Luận văn tốt nghiệp Ban đốc sự khoá XV(1967-1970)HvQGHC Sài Gòn.

58. Lê Quốc Sử, Một số vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam, Nxb CTQG, H, 1998.

59. Tài liệu nghiên cứu Địa lý kinh tế các tỉnh miền Nam năm 1969.

60. Tài liệu TTLTQG II, phông Phủ thủ tướng(VNCH), Hồ sơ số 22198.

61. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 125.

62. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 140.

63. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 21340.

64. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ thủ tướng(VNCH), Hss 21991.

65. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 22210.

66. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 22212.

67. Tài liệu TTLTQG II, Phông Phủ thủ tướng(VNCH), Hss 22213.

68. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ thủ tướng(VNCH), Hss 22351.

69. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 22354.

70. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ Tướng(VNCH), Hss 230.

71. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 243.

72. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ thủ tướng(VNCH), Hss 24866.

73. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 25470.

74. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 25770.

75. Tài liệu TTLTQG II, Phông Phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 25911.

76. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 27720.

77. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 27817.

78. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 28177.

79. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 28210.

80. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 28212.

81. Tài liệu TTLTQG II, Phông Phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 28246.

82. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ thủ tướng(VNCH), Hss 28975.

83. Tài liệu TTLTQG II, Phông Phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 29065.

84. Tài liệu TTLTQG II, Phông Phủ thủ tướng(VNCH), Hss 29075.

85. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ thủ tướng(VNCH), Hss 29080.

86. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ Thủ tướng(VNCH), Hss 439.

87. Tài liệu TTLTQG II, Phông phủ thủ tướng(VNCH), Hss 542.

88. Tài liệu TTLTQG II, Phông Thủ tướng(VNCH), Hss 26194.

89. Tài liệu TTLTQG II, Phông Thủ tướng(VNCH), Hss 328.

90. Tiểu sử-quan niệm và tổ chức trung tâm HL/CBXDNT TW Vũng Tàu, S, ?.

91. Nguyễn Anh Tuấn, Chính sách tiền tệ Việt Nam, S, 1968.

92. Thái Anh Tuấn, Nền giáo dục kỹ thuật tại Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp Ban đốc sự khoá XV(1967-1970)HvQGHC Sài Gòn.

93. Hà Vĩnh Tường, Vai trò của Hợp tác xã trong công cuộc phát triển xã hội tại Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp Ban Đốc sự khóa XVII(1969-1972) Học viện quốc gia hành chánh Sài Gòn, S, 1972.

94. Phạm Xuân Thành, Hiệp hội nông dân, Luận văn tốt nghiệp Ban đốc sự khoá XVI(1968-1971)HvQGHC Sài Gòn.

95. Thành tích hoạt động của nội các chiến tranh(19-6-1965 đến 19-6-1967)(VNCH), S, ?.

96. Vũ Thị Thuý, Hợp tác xã Tín dụng và Tiết kiệm tại Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp Ban Đốc sự khoá XVII(1969-1972) Học viện QGHC Sài Gòn, S, 1972.

97. Trần Văn Trà, Hoà bình hay chiến tranh, Nxb QĐND, H, 2003.

98. Trường Chinh, Tình hình hiện tại và nhiệm vụ công tác trước mắt, BCHTW Đảng(LĐVN)xuất bản, H, 1955.

99. Trường Nguyễn Ái Quốc trung ương, Quyền lợi kinh tế, văn hoá Pháp ở miền Nam Việt Nam, H, 1968.

  1. Uyn-phrết Bớc-sét, Hồi ký, Nxb TTLL, H, 1987.
  2. Nguyễn Hồng Vân, Tín dụng nông nghiệp tại Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp Ban đốc sự khoá XVIII(1970-1973)HvQGHC Sài Gòn.
  3. Viện Lịch sử Đảng, Những sự kiện lịch sử Đảng(tập III-Về kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 7/1954-5/1975), Nxb TTLL, H, 1985.
  4. Viện Quốc gia thống kê, Niên giám thống kê Việt Nam 1972, S, 1972.
  5. Viện Quốc gia thống kê, Niên giám thống kê VNCH 1970.
  6. Viện quốc gia thống kê, Việt Nam niên giám thống kê 1962, S, 1964.
  7. Viện thống kê và khảo cứu kinh tế, Sự tiến triển của kinh tế Việt Nam trong năm 1955, S, 1956.
  8. Việt Nam 1967-1971 trên đường kiến tạo hoà bình và thịnh vượng, S, ?.
  9. Việt Nam cộng hoà, Cuộc cách mạng ngày 1/11/1963 và Cuộc chỉnh lý nội bộ ngày 30/1/1964, S, 1964.
  10. Phạm Thành Vinh, Kinh tế miền Nam, Nxb Sự Thật, H, 1957.
  11. Trần Vịnh, Hệ thống ngân hàng nông thôn và phát triển địa phương, Luận văn tốt nghiệp Ban kinh tế-khoá Cao học VIII(1972-1974), HvQGHC Sài Gòn, S.
  12. Vụ Biên soạn Ban tuyên huấn TW, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, H, 1978.
  13. William Colby, Một chiến thắng bị bỏ lỡ, Nxb CAND, H, 2007.
  14. William J.Lederer, Kẻ thù tệ hại nhất của chúng ta, Nxb Harvard Univesity, 1968.

* Tài liệu tiếng Anh:

114.    Douglas C. Dacy, Foreign aid, war, and economic development South Vietnam 1955-1975, Cambridge University press, New York(USA), 1986.

115.    Stanford Research Institute, Land reform in Vietnam, Menlo Park, California(USA), 1968.

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: