<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	xmlns:georss="http://www.georss.org/georss" xmlns:geo="http://www.w3.org/2003/01/geo/wgs84_pos#" xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
	>

<channel>
	<title>CheVietnam&#039;s Blog</title>
	<atom:link href="http://chevietnam.wordpress.com/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://chevietnam.wordpress.com</link>
	<description>Just another WordPress.com weblog</description>
	<lastBuildDate>Thu, 11 Mar 2010 12:01:53 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.com/</generator>
<cloud domain='chevietnam.wordpress.com' port='80' path='/?rsscloud=notify' registerProcedure='' protocol='http-post' />
<image>
		<url>http://s2.wp.com/i/buttonw-com.png</url>
		<title>CheVietnam&#039;s Blog</title>
		<link>http://chevietnam.wordpress.com</link>
	</image>
	<atom:link rel="search" type="application/opensearchdescription+xml" href="http://chevietnam.wordpress.com/osd.xml" title="CheVietnam&#039;s Blog" />
	<atom:link rel='hub' href='http://chevietnam.wordpress.com/?pushpress=hub'/>
		<item>
		<title>Lịch sử Việt Nam 1954 – 1975</title>
		<link>http://chevietnam.wordpress.com/2010/03/11/l%e1%bb%8bch-s%e1%bb%ad-vi%e1%bb%87t-nam-1954-%e2%80%93-1975/</link>
		<comments>http://chevietnam.wordpress.com/2010/03/11/l%e1%bb%8bch-s%e1%bb%ad-vi%e1%bb%87t-nam-1954-%e2%80%93-1975/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 11 Mar 2010 12:01:53 +0000</pubDate>
		<dc:creator>chevietnam</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử Việt Nam 1954 – 1975]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://chevietnam.wordpress.com/?p=199</guid>
		<description><![CDATA[Chương 1. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mĩ &#8211; Ngụy ở miền Nam (1954 &#8211; 1965) (24 tiết) &#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212; I. Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ 1954 và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới (2 tiết) 1. Tình hình Việt Nam sau Hiệp [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=199&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Chương 1.</strong></p>
<p><strong>Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc </strong></p>
<p><strong>và đấu tranh chống Mĩ &#8211; Ngụy ở miền Nam (1954 &#8211; 1965)</strong></p>
<p>(<em>24 tiết</em>)<strong> </strong></p>
<p><strong>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;</strong></p>
<p><strong>I</strong>. <strong>Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ 1954 và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới</strong> (<em>2 tiết</em>)</p>
<p><strong>1. Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ 1954:</strong></p>
<p>Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954) về Đông Dương được kí kết đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đối với 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Đây là một <span style="text-decoration:underline;">thắng lợi</span><sup>*</sup> to lớn của nhân dân 3 nước Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng sau 9 năm kháng chiến gian khổ. Ngoài việc thủ tiêu ách thống trị của thực dân Pháp gần 1 thế kỷ trên đất nước ta, thắng lợi này còn là một đòn mạnh đánh vào <span style="text-decoration:underline;">âm mưu mở rộng và kéo dài chiến tranh<sup>*</sup> Đông Dương của đế quốc Mĩ</span>.</p>
<p>Theo Hiệp định Giơnevơ, việc ngừng bắn, tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực được thi hành trong vòng 300 ngày, kể từ ngày 21/7/1954. Tuy nhiên, ngay từ những ngày đầu, đế quốc Mĩ, bọn phản động Pháp và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã tìm mọi cách gây khó khăn và phá hoại việc thi hành các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ, như cố tình khiêu khích, trì hoãn việc ngừng bắn trên các chiến trường; tiến hành dụ dỗ và cưỡng bức gần 1 triệu đồng bào miền Bắc, chủ yếu là đồng bào Thiên Chúa giáo, di cư vào Nam; tháo dỡ, mang đi hoặc phá hoại máy móc, dụng cụ, tài sản công cộng nhằm làm tê liệt và gây khó khăn cho ta trong việc tiếp quản vùng giải phóng ở miền Bắc; cài lại hàng ngàn gián điệp, hàng trăm nhóm phản động cùng với các toán biệt kích được tung ra miền Bắc phá hoại các cơ sở kinh tế, các công trình công cộng. Các phần tử tay sai, các đảng phái phản động lén lút kích động quần chúng, gây bạo loạn ở một số địa phương, tung truyền đơn, tài liệu xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhằm lung lạc quần chúng, gây hoang mang, dao động trong nhân dân.</p>
<p>Về phía Việt Nam, với chủ trương nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ, ngày 22/7/1954, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh cho các lực lượng vũ trang ngừng bắn trên chiến trường toàn quốc (Bắc Bộ ngày 27/7; Trung Bộ ngày 1/8; Nam Bộ ngày 11/8/1954); mặt khác, Chính phủ và nhân dân ta kiên quyết đấu tranh đòi đối phương cũng phải nghiêm túc thi hành Hiệp định. Kết quả, các điều khoản về việc ngừng bắn, tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực đã được thực hiện đúng quy định. Ngày 10/10/1954, quân ta tiếp quản Thủ đô Hà Nội trong sự đón chào nồng nhiệt của nhân dân thành phố. Ngày 1/1/1955, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, một cuộc mít tinh trọng thể được tổ chức để chào mừng, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Thủ đô với sự tham gia của hàng chục vạn nhân dân thành phố. Sự kiện lịch sử này đã gây ấn tượng sâu sắc và có ý nghĩa chính trị to lớn đối với đồng bào cả nước.</p>
<p>Ngày 13/5/1955, tên lính viễn chinh cuối cùng của quân đội thực dân Pháp đã rút khỏi Hải Phòng và đến ngày 16/5/1955 thì rút khỏi đảo Cát Bà. Miền Bắc Việt Nam đã sạch bóng quân xâm lược.</p>
<p>Ở miền Nam Việt Nam, theo quy định của Hiệp định Giơnevơ, thực dân Pháp tạm thời nắm quyền kiểm soát trong 2 năm. Suốt thời gian này, thực dân Pháp luôn gây cản trở và phá hoại các điều khoản của Hiệp định. Tuy nhiên, một mặt do sự đấu tranh kiên quyết của nhân dân ta, mặt khác do âm mưu của Mĩ muốn gạt Pháp để độc chiếm miền Nam, nên quân đội Pháp đã từng bước rút khỏi miền Nam Việt Nam. Ngày 14/4/1956, Chính phủ Pháp gửi Thông điệp cho 2 Chủ tịch Hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông Dương thông báo về việc quân viễn chinh Pháp ở miền Nam Việt Nam đã rút hết về nước.</p>
<p>Quân đội Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam trong khi còn những điều khoản của Hiệp định liên quan đến trách nhiệm của họ chưa được thi hành, trong đó có điều khoản về việc tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử hai miền Nam &#8211; Bắc. Tập đoàn Mĩ &#8211; Diệm, kẻ kế tục thực dân Pháp ở miền Nam, sẵn có âm mưu từ trước đã trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ.</p>
<p>Miền Nam từ chỗ có chính quyền, có quân đội, có vùng giải phóng, giờ đây phần lớn cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc, toàn bộ hoạt động của cách mạng phải chuyển sang phương thức vừa hợp pháp, vừa không hợp pháp, vừa công khai, vừa bí mật. Đó là một sự đảo lộn lớn, một tình thế nguy hiểm đối với cách mạng ở miền Nam. Sự thay đổi đó tác động mạnh đến tâm tư, tình cảm đồng bào, đồng chí hai miền Nam &#8211; Bắc và đặt ra cho cách mạng Việt Nam những nhiệm vụ mới vô cùng khó khăn.</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>2. Nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới:</strong></p>
<p>Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam <span style="text-decoration:underline;">xuất phát từ tình hình cụ thể của đất nước sau Hiệp định Giơnevơ 1954</span> như đã đề cập trên; đồng thời cũng <span style="text-decoration:underline;">xuất phát từ chính sách của Mĩ đi từ can thiệp đến xâm lược Việt Nam nói chung, miền Nam nói riêng</span>.</p>
<p>Khu vực châu Á – Thái Bình Dương được Mĩ đặc biệt quan tâm. Vì đây là một hướng chiến lược quan trọng nhằm bao vây các nước xã hội chủ nghĩa (trước hết là Liên Xô và Trung Quốc) từ hướng Đông và chống lại các trào lưu cách mạng ở khu vực Đông Nam Á. Đây là vùng được thiên nhiên ưu đãi, có dư thừa các tiền đề vật chất (tài nguyên và nhân lực), chứa đựng một tiềm năng phát triển to lớn chưa thể lường trước được. Đây còn là nơi có các tuyến đường hàng hải (Bắc – Nam và Tây &#8211; Đông) vận chuyển phần lớn hàng hoá của “<em>thế giới tự do</em>” mà Mĩ cần phải bảo vệ.</p>
<p>Vì vậy, ngay khi cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của Pháp (1945 &#8211; 1954) đang diễn ra, Mĩ đã bằng mọi cách giúp Pháp tránh được thất bại. Theo nhãn quan của các nhà chiến lược Mĩ, cuộc kháng chiến của Việt Nam đang uy hiếp trực tiếp quyền lợi của chủ nghĩa đế quốc ở vùng Đông Nam Á. Tổng thống Mĩ Aixenhao (Eisenhower) đã lập luận rằng, nếu để Việt Nam và Đông Dương rơi vào tay cộng sản thì không chỉ Đông Nam Á mà “<em>chuỗi đảo phòng thủ gồm Nhật Bản, Đài Loan, Philipin và hướng về phía Nam, nó chuyển sang…cả Úc và Tân Tây Lan</em>” đều bị đe doạ. Mặt khác, Mĩ còn coi Việt Nam và Đông Dương có một vị trí quan trọng ở châu Á. Theo giới cầm quyền Mĩ, nếu coi Đông Nam Á là cái ổ khoá để mở cửa đi vào lục địa châu Á từ phía Nam, thì Việt Nam và Đông Dương là cái chìa khoá mở cửa vào gần nhất. Việt Nam là cầu nối hệ thống xã hội chủ nghĩa với vùng Đông Nam Á đang sục sôi cách mạng; sau khi đánh thắng thực dân Pháp, Việt Nam là ngọn cờ cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên khắp các lục địa Á, Phi, Mĩ La Tinh.</p>
<p>Từ cách nhìn trên đây, chính quyền Aixenhao đã không ngừng tăng viện trợ cho thực dân Pháp, từ 150 triệu đô la năm 1950 lên tới 1 tỷ đô la vào năm 1954, chiếm gần tới 80% toàn bộ chiến phí của Pháp ở Đông Dương. Tuy nhiên, sự chi viện to lớn của Mĩ vẫn không tài nào ngăn chặn được sự thất bại hoàn toàn của Pháp. Ngày 7/5/1954, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ của quân và dân ta toàn thắng, Mĩ tăng cường chuẩn bị thế lực thay thực dân Pháp ở Việt Nam. Bằng sức ép của Mĩ đối với Pháp và bằng nhiều cuộc vận động khác, ngày 16/6/1954, bù nhìn Bảo Đại cùng một lúc kí 2 Sắc lệnh: một chấp nhận đơn “<em>từ chức</em>” Thủ tướng của Bửu Lộc; một chỉ định Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng “<em>Quốc gia Việt Nam</em>”. Ngày 7/7/1954, Ngô Đình Diệm chính thức lập Chính phủ bù nhìn tại Sài Gòn, mở đầu chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm tại miền Nam. Tiếp theo, Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954) được kí kết, khách quan tạo cơ hội để Mĩ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam thông qua chủ nghĩa thực dân mới. Đế quốc Mĩ đã chuyển từ vai trò một kẻ can thiệp sang kẻ xâm lược; và Việt Nam từ đây giữ một vai trò quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mĩ. Ngày 23/7/1954, hai ngày sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, Ngoại trưởng Mĩ Đa-lét (Dulles) tuyên bố: “<em>Từ nay về sau, vấn đề bức thiết không phải là than tiếc dĩ vãng, mà là lợi dụng thời cơ để việc thất thủ miền Bắc Việt Nam không mở đường cho chủ nghĩa cộng sản bành trướng ở Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương</em>”.</p>
<p>Ngày 3/8/1954, Hội đồng An ninh Quốc gia Mĩ cho rằng: “<em>Hiệp định Giơnevơ 1954 là một thảm hoạ, đã hoàn thành bước quan trọng của chủ nghĩa cộng sản, có thể dẫn tới mất cả Đông Nam Á</em>”.</p>
<p>Tháng 9/1954, Mĩ lôi kéo một số nước (Anh, Pháp, Niu Di Lân, Ôtxtrâylia, Philipin, Thái Lan và Pakitxtan) lập ra khối “<em>Liên minh quân sự Đông Nam Á</em>” (SEATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này.</p>
<p>Như thế, miền Nam Việt Nam từ sau khi kí kết Hiệp định Giơnevơ, tồn tại ba lực lượng chính trị, quân sự chủ yếu là: Pháp (và các thế lực thân Pháp), Mĩ (và các thế lực thân Mĩ) và các lực lượng cách mạng miền Nam. Pháp và các lực lượng thân Pháp nhanh chóng bị gạt bỏ; còn lại hai lực lượng đối lập nhau gay gắt là Mĩ &#8211; Diệm và nhân dân miền Nam.</p>
<p>Phía Việt Nam, ngay sau khi Hội nghị Giơnevơ đang đi vào hồi kết, ngày 17/7/1954, Hội nghị BCHTW Đảng (khoá II) họp ở Việt Bắc. Hội nghị đã thảo luận và nhất trí với đường lối và chủ trương mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra. Hội nghị nhận định: “<em>Đế quốc Mĩ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương…và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương</em>”. Hội nghị quyết định: “<em>Thay đổi phương châm, chính sách và sách lược đấu tranh cốt để thực hiện một cách thuận lợi mục đích trước mắt. Đây là một sự thay đổi quan trọng về phương châm và sách lược cách mạng, nhưng mục đích của cách mạng vẫn là một</em>”.</p>
<p>Đầu tháng 9/1954, Bộ Chính trị đã kịp thời ra Nghị quyết về “<em>Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách của Đảng</em>”, nêu rõ cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã bước vào một giai đoạn mới với nhiệm vụ là: “<em>Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đề phòng và khắc phục mọi âm mưu phá Hiệp định đình chiến để củng cố hoà bình; ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc; giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam nhằm củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc</em>”.</p>
<p>Sau 300 ngày thi hành Hiệp định Giơnevơ, Việt Nam tạm thời chia cắt làm 2 miền. Miền Bắc được giải phóng, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về cơ bản đã hoàn thành; trong lúc đó, miền Nam đang nằm dưới ách thống trị của Mĩ &#8211; Diệm. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đến đây vẫn chưa hoàn thành.</p>
<p>Vì vậy, cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, hoà bình chưa kết thúc; cuộc đấu tranh đó còn phải được tiếp tục dưới nhiều hình thức và bằng những phương pháp thích hợp. Trong cuộc đấu tranh này, Đảng đã lãnh đạo nhân dân hai miền Bắc – Nam tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau: miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, tiến tới hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất nước nhà. Hội nghị BCHTW lần thứ 8 (khoá II) tháng 8/1955 khẳng định: “<em>Điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam… Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình thế nào, miền Bắc cũng phải được củng cố</em>”.</p>
<p>Nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng của mỗi miền xét cho cùng cũng là nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng cả nước là đấu tranh chống đế quốc Mĩ và tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.</p>
<p>Mỗi chiến lược cách mạng nhằm giải quyết những yêu cầu cụ thể riêng của từng miền, nhưng có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ, khăng khít, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển. Cách mạng XHCN ở miền Bắc không chỉ có mục tiêu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, mà còn nhằm giải phóng miền Nam, đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước sau khi đất nước thống nhất. Cách mạng DTDCND miền Nam vừa có nhiệm vụ giải phóng miền Nam, vừa có nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc. Phải dùng sức mạnh của cả nước để giải phóng miền Nam, đồng thời cũng phải sử dụng sức mạnh của cả nước để bảo vệ và xây dựng miền Bắc đi lên CNXH. Mối quan hệ giữa 2 chiến lược cách mạng đồng thời cũng là mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến. Thắng lợi giành được ở mỗi miền là thắng lợi chung của sự nghiệp chống Mĩ cứu nước của toàn dân tộc. Đây là đặc điểm lớn nhất và cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta trong giai đoạn lịch sử 1954 – 1975.</p>
<p>Như vậy, về phía Mĩ, do yêu cầu chiến lược phải ngăn chặn bằng được lực lượng cách mạng ở Đông Nam Á, chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mĩ đã chọn Việt Nam làm điểm then chốt; còn một bên là các lực lượng cách mạng mà nhân dân Việt Nam là đội xung kích, cần phải đẩy lùi CNĐQ ra khỏi vị trí chiến lược này để đưa cách mạng tiến lên. Hai lực lượng đối kháng, đại diện cho cách mạng và phản cách mạng đã gặp nhau ở đây, tất yếu dẫn đến cuộc đụng đầu lịch sử. Từ thực tế đó, Việt Nam đã trở thành “<em>một điểm trung tâm, một chặng đường trong quá trình phát triển lâu dài của cách mạng thế giới. Đây là sự đụng đầu tiêu biểu giữa những lực lượng đối lập tiêu biểu của thời đại</em>”. Nói cụ thể hơn, cuộc chiến đấu của dân tộc ta trong giai đoạn lịch sử 1954 – 1975 chống Mĩ xâm lược không phải là một ngẫu nhiên, mà là một cuộc đụng đầu lịch sử trong thời đại chúng ta.</p>
<p><strong>II. Miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất (1954 &#8211; 1960)</strong> (5 tiết).</p>
<p><strong>1. Thực trạng kinh tế -  xã hội miền Bắc sau năm 1954.</strong></p>
<p>Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, miền Bắc có thêm những điều kiện chính trị &#8211; xã hội thuận lợi. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, những khó khăn là không ít, nhất là về kinh tế &#8211; xã hội do hậu quả của cuộc chiến tranh để lại.</p>
<p><span style="text-decoration:underline;">Trong các vùng nông thôn mới được giải phóng</span>, hậu quả của các cuộc càn quét theo chính sách “<em>tam quang</em>” (đốt sạch, giết sạch, phá sạch), dồn dân lập “<em>vành đai trắng</em>” của địch, hàng vạn hécta đất bị bỏ hoang, đê đập bị phá hoại. Nhân công, nông cụ và sức kéo đều thiếu nghiêm trọng. Kĩ thuật canh tác lạc hậu, đời sống nhân dân thấp kém.</p>
<p><span style="text-decoration:underline;">Các thành thị</span> trong thời kì Pháp chiếm đóng mang nặng tính chất tiêu thụ, sự phồn vinh chỉ là giả tạo. Hàng ngoại tràn ngập thị trường làm cho công nghiệp dân tộc không thể phát triển được. Tiểu thủ công nghiệp bị chèn ép, sa sút hoặc phá sản. Ở những cơ sở công nghiệp lớn do thực dân Pháp nắm giữ, như mỏ than Hòn Gai, nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy dệt Nam Định, nhà máy điện Hà Nội…bị địch tháo dỡ thiết bị hoặc phá hoại trước lúc rút lui nên không hoạt động được, hoặc chỉ hoạt động cầm chừng. Vì thế, nhiều công nhân thất nghiệp, đời sống gặp khó khăn.</p>
<p><span style="text-decoration:underline;">Tại các vùng tự do cũ</span>, tuy nông nghiệp và công nghiệp được chú ý phát triển, nhưng quy mô nhỏ bé, kĩ thuật lạc hậu. Do đó, năng suất thấp, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống ngày càng tăng lên trong thời bình. Cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu từ năm 1953 cũng chỉ mới thực hiện ở một số địa phương thuộc vùng tự do. Chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến vẫn tồn tại. Giai cấp nông dân tuy được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân, nhưng vẫn còn bị giai cấp địa chủ bóc lột, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất.</p>
<p>Sau khi hoà bình lập lại, <span style="text-decoration:underline;">nhiều vấn đề xã hội nóng bỏng đặt ra</span>. Số người mù chữ rất đông. Hệ thống y tế nhỏ bé, lạc hậu. Các bệnh xã hội như lao phổi, hoa liễu, sốt rét..hoành hành. Các tệ nạn mại dâm, nghiện hút, cướp giật, cờ bạc…phổ biến khắp nơi. Hàng trăm ngàn người thất nghiệp, lâm vào cảnh đói kém. 240.000 tề ngụy rã đám chưa qua cải tạo. 11.000 thổ phỉ vẫn tác oai tác quái ở vùng cao…</p>
<p>Một tình hình nghiêm trọng hơn là <span style="text-decoration:underline;">địch cưỡng ép, dụ dỗ đồng bào miền Bắc, chủ yếu là tín đồ Thiên Chúa giáo di cư vào Nam</span>. Thực ra, âm mưu này của Mĩ đã có từ trước: “<em>Ngay từ khi vấn đề chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương còn đang đàm phán, Tổng thống Mĩ Aixenhao đã lớn tiếng hô hào: Nếu Hội nghị Giơnevơ đi đến kí kết, sẽ tổ chức một cuộc di cư có kế hoạch người Việt Nam từ Bắc vào Nam</em>”.</p>
<p>Để gây hoang mang và thúc ép đồng bào bỏ nhà cửa, tài sản di cư vào Nam, Mĩ – Pháp cho tay sai tung tin bịa đặt, tuyên truyền luận điệu rằng Chính phủ Việt Minh cấm đạo, Chúa đã vào Nam, là con chiên ngoan đạo thì phải theo Chúa để được yên phần xác lẫn phần hồn, ở lại với cộng sản sẽ bị mất linh hồn… Chúng còn đe doạ chiến tranh sẽ trở lại, Mĩ sẽ ném bom nguyên tử xuống Hà Nội, Đồng Hới, Vĩnh Linh… Mặt khác, Mĩ cung cấp phương tiện chuyên chở, “<em>Mĩ đã đưa một đoàn 19 máy bay và một đoàn 41 tàu thuỷ để chuyên chở những người bị cưỡng ép di cư này vào Nam</em>”.</p>
<p>Tính đến tháng 7/1955, tổng số người bị địch dụ dỗ, cưỡng ép di cư vào Nam là 887.895 người, trong đó tín đồ Thiên Chúa giáo là 754.710 người (Phật giáo và Tin Lành là 133.185 người) chiếm tỷ lệ 85%.</p>
<p>Trước tình hình thực tế KT &#8211; XH trên, Đảng và Chính phủ chủ trương vừa đấu tranh chống địch cưỡng ép đồng bào di cư, vừa đẩy mạnh cuộc vận động CCRĐ, khôi phục kinh tế, nhằm củng cố miền Bắc, tạo điều kiện đưa miền Bắc bước sang giai đoạn mới.</p>
<p>Cần phải thấy rằng, những khó khăn trên đây đòi hỏi phải được giải quyết nhanh chóng. Điều này không chỉ do sự đòi hỏi cấp bách của việc khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, mà còn bao hàm ý nghĩa chính trị sâu sắc, nhất là trong điều kiện nước nhà đang tạm thời bị chia cắt làm hai miền.</p>
<p><strong>2. Đấu tranh chống Mĩ &#8211; Diệm cưỡng ép đồng bào di cư.</strong></p>
<p>Ngay sau Hiệp định Giơnevơ, ngày 23/7/1954 Ngô Đình Diệm chỉ thị cho các Tổng trưởng và Bộ trưởng, Uỷ ban Bảo vệ Bắc Việt, Đại biểu Chính phủ ở Trung Việt, Đổng lí Văn phòng Đức Quốc trưởng tại Đà Lạt “<em>Cần phải tổ chức gấp rút chuyển vào Trung và Nam dân chúng và tài sản công</em>”, trong đó ưu tiên trước hết là ngân khố, sau là quân đội chính quy và địa phương quân và gia đình, công chức và gia đình. Về “<em>dân chúng, lưu ý trước tiên đến những phần tử chuyên nghiệp (thợ chuyên môn) và những phần tử có khả năng sản xuất</em>”. Tiến hành chính sách cưỡng ép đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, đế quốc Mĩ và tay sai nhằm mục đích cơ bản sau:</p>
<p>- <em><span style="text-decoration:underline;">Một là</span></em><span style="text-decoration:underline;">, về mặt chính trị</span>, đối với thế giới, Mĩ và tay sai cố tạo ra dư luận xấu về chế độ ta ở miền Bắc, nhằm ngăn chặn sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân ta, tạo ra ảnh hưởng xấu của cách mạng Việt Nam đối với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Tờ Revue Socialist (Pháp) ra ngày 2/11/1954 viết: “<em>Cuộc di cư này trước hết là một hành động chính trị nhằm làm cho dư luận thế giới ngỡ rằng nhân dân Việt Nam chán ghét Việt Minh và chủ nghĩa cộng sản</em>”. Tuy nhiên, âm mưu của Mĩ &#8211; Diệm đã bị báo chí phương Tây vạch mặt: “<em>Sự thật, đại đa số nhân dân Việt Nam đều biểu lộ tình cảm của mình đối với Việt Minh</em>”.</p>
<p>- <em><span style="text-decoration:underline;">Hai là</span></em><span style="text-decoration:underline;">, về KT – XH</span>, đối với miền Bắc, Mĩ &#8211; Diệm hi vọng rút được một số lượng trí thức, công nhân kĩ thuật vào Nam, tạo ra những xáo động lớn, phá hoại sản xuất, làm cho miền Bắc không ổn định về kinh tế, khiến cho lòng người li tán, nội bộ lục đục, gây khó khăn cho ta trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà và hàn gắn vết thương sau chiến tranh. Đối với miền Nam, vùng bị tạm chiếm, dân di cư sẽ là nguồn cung cấp nhân công rẻ mạt cho các đồn điền cao su, cà phê, chè, cây ăn quả và một số cây công nghiệp mới du nhập vào miền Nam sau Chiến tranh thế giới thứ II. Tài liệu địch nói rõ: “<em>Về kinh tế, đồng bào di cư là những người đã làm ăn một cách cần cù, siêng năng, ưa sống một đời giản dị. Họ hoàn toàn là những nhà sản xuất nhiều và tiêu thụ ít, nên sau này sẽ giúp cho nền kinh tế quốc gia thịnh vượng. Hơn thế, đồng bào bổ khuyết cho tình trạng thiếu nhân công để khai thác trong miền Nam nước Việt. Do đó, những chương trình mở mang kinh tế của Chính phủ cũng có thi hành dễ dàng một phần nào về phương diện nhân công mà không phải là chiếm quyền lợi kinh tế của đồng bào miền Nam</em>”. Derocheau, Phó Thư ký Phòng Cứu tế Giáo dân đến Đông Dương nghiên cứu vấn đề di cư đã cho rằng: “<em>Biện pháp để giải quyết trong việc sử dụng dân di cư là đưa họ lên các đồn điền cao su đang thiếu nhân công</em>”. Với mục đích đó, Mĩ &#8211; Diệm đã đưa một số lượng lớn đồng bào di cư đến lao động ở các đồn điền. Theo tờ Le Monde (Pháp) ra ngày 29/1/1955, số người di cư đưa đến các đồn điền là 5 vạn người.</p>
<p>- <em><span style="text-decoration:underline;">Ba là</span></em>, ở miền Nam, với số người di cư, địch <span style="text-decoration:underline;">nhằm “<em>thăng bằng sự chênh lệch giữa dân số miền Bắc 12 triệu và dân số miền Nam 11 triệu</em>”</span>. Nghĩa là “<em>tăng thêm hi vọng của thắng lợi tổng tuyển cử đối với những lãnh tụ quốc gia</em>”; đồng thời tạo ra cơ sở xã hội vững chắc cho chế độ Ngô Đình Diệm. Đồng bào di cư là nguồn nhân lực quan trọng đáng kể để xây dựng nguỵ quân, củng cố nguỵ quyền. Tờ Le Monde (Pháp) ra ngày 29/11/1954, viết: “<em>Nhà cầm quyền miền Nam quyết tuyển mộ binh lính trong số những người miền Bắc di cư; họ xem số người miền Bắc như là một khối dự trữ cho quân đội của họ, cho những tổ chức chính trị của họ, trong khối dự trữ đó, họ mộ được những tay chân cuồng tín</em>” và “<em>Thanh niên Công giáo di cư sẽ là nguồn bổ sung cho một đội quân nguỵ dự kiến là 10 sư đoàn… Mĩ &#8211; Diệm hi vọng rằng, một quân đội gồm phần lớn là người công giáo sẽ có một tinh thần chống cộng mạnh mẽ</em>”.</p>
<p>Để thực hiện việc cưỡng ép đồng bào di cư, Mĩ &#8211; Diệm cho thành lập “<em>Phủ Tổng uỷ di cư tị nạn</em>”, với nhiệm vụ điều khiển việc di cư từ Bắc vào Nam. Bên cạnh “Phủ Tổng uỷ di cư tị nạn”, một tổ chức cứu trợ di cư cũng được thành lập do Linh mục Phạm Ngọc Chi đứng đầu. Tiếp theo, Ngô Đình Diệm còn thành lập “<em>Uỷ ban di cư Bắc Việt</em>” lo việc huấn luyện gián điệp, tổ chức hoạt động dụ dỗ, cưỡng bức di cư. Chính đế quốc Mĩ đã cung cấp nhiều phương tiện vận tải, tiền bạc, thuốc men, lương thực, thực phẩm và cử Hồng y Spellman, Tổng Tuyên uý trong quân đội Mĩ sang Việt Nam để chỉ đạo chiến dịch này. Ngày 2/8/1954, Ngô Đình Diệm đích thân ra Hà Nội kiểm tra công việc tổ chức di cư. Diệm đã trắng trợn tuyên bố rằng: “<em>Tôi sẽ hướng mọi nỗ lực của tôi vào công việc tổ chức di cư</em>”.</p>
<p>Bộ máy chính quyền Diệm tập trung ở mức cao nhất tuyên truyền cho chiến dịch cưỡng ép di cư, rằng cộng sản là vô thần nên “<em>sẽ cấm đạo, ai mang tượng Đức Mẹ phải đóng thuế 50 đồng Đông Dương và mỗi lần đến lễ ở nhà thờ phải trả 5 đồng</em>”. Thâm độc nhất là Mĩ &#8211; Diệm lợi dụng sự hiểu biết hạn chế của giáo dân, dựng lên chiêu bài: “<em>Đức Mẹ và con trai là Chúa Giêsu đã vào Nam</em>” để cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam.</p>
<p>Đối tượng mà Mĩ &#8211; Diệm tập trung cưỡng ép di cư vào Nam bao gồm nguỵ binh và gia đình của họ, giáo dân, thanh niên, công chức, giáo viên và những người trí thức, nhà chuyên môn… Và để cưỡng bức được nhiều đồng bào di cư vào Nam, cuối tháng 7/1954, địch đóng cửa Ngân hàng Đông Dương, không cho rút tiền ra. Sang tháng 8, địch chuyển tiền vào Nam, buộc những người có tiền gửi ngân hàng phải vào Sài Gòn để lĩnh, .v.v.</p>
<p>Cùng với các biện pháp trên, Mĩ &#8211; Diệm còn sử dụng quân đội, công an, cảnh sát để càn quét, khủng bố bắt ép nhân dân di cư. Tại thôn Vạn Lộc (Quảng Bình), địch dùng máy bay thả bom, bắn đạn cháy 34 nhà cùng tất cả tài sản, làm chết 4 người, bắt đi 439 người. Tại Thanh Giã và Giã Khê (Bắc Giang), ngày 29/7/1954, Mĩ &#8211; Diệm đã lừa bắt nhân dân xếp đầy 100 xe chở đi mà không ai kịp lấy quần áo, gạo thóc. Tại Móng Cái, ngày 31/7/1954, chúng đã bắt hơn 1.000 người… Không chỉ ở nông thôn, mà cả những thành phố lớn, như Hà Nội, Hải Phòng,… địch cũng sử dụng lực lượng quân sự, công an, cảnh sát,… để vây ráp, bắt nhân dân di cư. Ngày 20/8/1954, chúng vây Quảng Bá (Hà Nội) bắt 20 người; ngày 25/8/1954, vây bãi Phúc Xá (Hà Nội) bắt 50 người… Việc dùng bạo lực cưỡng ép di cư diễn ra phổ biến khắp miền Bắc, nhất là những địa phương có đông tín đồ Thiên Chúa giáo.</p>
<p>Nắm bắt kịp thời âm mưu của Mĩ &#8211; Diệm về chính sách cưỡng ép đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, ngày 5/9/1954, Ban Bí thư ra Chỉ thị nêu rõ: “<em>Cuộc đấu tranh chống địch bắt ép một số nhân dân ta vào Nam…là một cuộc đấu tranh chính trị gay go và cấp bách. Các cấp uỷ Đảng phải nhận rõ tính chất và ý nghĩa quan trọng của cuộc đấu tranh này</em>”. Tiếp theo, ngày 6/11/1954, Ban Bí thư ra tiếp Chỉ thị và nhấn mạnh rằng: “<em>Địch đang theo đuổi một âm mưu rất thâm độc để phá chúng ta. Các cấp uỷ phải coi cuộc đấu tranh chống địch nguỵ bắt dân di cư vào Nam là một cuộc vận động chính trị to lớn, một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt với đối phương, không phải một đôi tuần, một vài tháng, mà là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ. Một mặt phải đối phó kịp thời với những việc bất ngờ xảy ra, một mặt phải có kế hoạch thông suốt, lâu dài để đối phó với toàn bộ âm mưu của địch</em>”.</p>
<p>Sang năm 1955, TW tăng cường chỉ đạo, giải quyết một số vướng mắc, bế tắc trong việc chỉ đạo đấu tranh. Chỉ thị số 07 – CT/TW của Bộ Chính trị ngày 16/2/1955 yêu cầu phải: “<em>Đẩy mạnh đấu tranh mọi mặt, phá âm mưu mới của địch trong việc dụ dỗ, cưỡng ép giáo dân di cư, chủ động tiến công địch, tranh thủ cảm tình của quần chúng, tranh thủ dư luận trong nước và thế giới</em>”. Tiếp theo, Chỉ thị số 16 – CT/TW của Ban Bí thư ngày 21/4/1955 yêu cầu các cấp uỷ Đảng khắc phục ngay những tư tưởng lệch lạc, kiên quyết tập trung lực lượng phát động quần chúng tiến công mạnh mẽ, rộng khắp, toàn diện để phá âm mưu của địch.</p>
<p>Những chủ trương và biện pháp trên đây của Đảng cho thấy chính sách cưỡng ép di cư của Mĩ &#8211; Diệm là hết sức thâm độc và đã gây ra những khó khăn nghiêm trọng đối với ta trong việc tiếp quản những vùng do địch chiếm đóng; đồng thời cũng thấy được sự tỉnh táo, sáng suốt của Đảng trước tình thế khó khăn, cấp bách đặt ra. Những chủ trương và biện pháp này từng bước lãnh đạo nhân dân miền Bắc đi vào cuộc đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư.</p>
<p>Thực hiện chủ trương của Đảng, trên nhiều địa phương ở miền Bắc, các Ban Chỉ đạo chống cưỡng ép di cư được thành lập, hàng vạn cán bộ, bộ đội được huy động về giúp các địa phương vận động quần chúng đấu tranh, vạch trần âm mưu và thủ đoạn của địch.</p>
<p>Ở khu Tả ngạn sông Hồng, Mĩ &#8211; Diệm đã tạo ra một tình hình hết sức căng thẳng. Tại Kim Động (Hưng Yên), trước khi rút vào khu tập kết, địch đốt phá làng Thiên Chúa giáo Ngọc Đồng rồi vu khống cho Việt Minh. Ở Thanh Miện (Hưng Yên), Tứ Kỳ, Gia Lộc và Cẩm Giàng (Hải Dương), địch cho máy bay thả côn trùng phá hoại mùa màng. Ở Hải Phòng, tại nhà thờ phố Dinh (nay là phố Trần Nguyên Hãn), tháng 1/1955, sau buổi lễ, cha xứ tháo chuông và ảnh Đức Mẹ, chúng ép buộc ai không đi Nam phải bước qua ảnh Đức Mẹ. Giáo dân kinh hoàng, khóc than và tất cả phải kí giấy đồng ý ra đi. Chúng bắt giáo dân ký vào đơn kiện lên Uỷ ban Quốc tế và giám sát đình chiến ở Việt Nam rằng Chính phủ Việt Nam vi phạm điều 14c, 14d của Hiệp định Giơnevơ.</p>
<p>Ngày 6/8/1954, Khu uỷ Tả ngạn ra Chỉ thị 27-CT, phân tích âm mưu của địch, đề ra 6 nhiệm vụ mà các cấp uỷ Đảng, chính quyền cần thực hiện nhằm vận động giáo dân ở lại. Hội nghị cán bộ khu Tả ngạn tháng 8/1954 chỉ rõ: “<em>Tranh thủ giáo dân chống âm mưu cưỡng bức di cư của địch</em>” là một trong 8 công tác cấp bách của toàn Khu. Tiếp theo, Khu uỷ tổ chức các đoàn cán bộ xuống các vùng có đông đồng bào Thiên Chúa giáo, vùng mới giải phóng và nơi địch sắp rút quân, làm công tác vận động. Nhiều giáo dân chuẩn bị đi, sau khi nghe cán bộ tuyên truyền, giải thích, đã quyết định ở lại; hoặc nhiều người đang đi thì trốn về. Từ ngày 21/7 đến ngày 18/8/1954, toàn Khu vận động được 56 gia đình (khoảng 4.370 người) đang đi quay trở lại.</p>
<p>Tỉnh Nam Định, có 936 giáo dân  đến gặp chính quyền ta tố cáo kẻ chủ mưu dụ dỗ, cưỡng ép họ bỏ nhà ra đi. Giáo dân ở đây cũng đã kịp thời báo cáo và giúp đỡ chính quyền cách mạng đập tan âm mưu của bọn đầu sỏ tập trung giáo dân ở 14 xứ đạo về Xuân Ninh (Xuân Trường) dụ dỗ họ di cư hàng loạt.</p>
<p>Đối với những phần tử ngoan cố, vi phạm pháp luật Nhà nước, ta kiên quyết trừng trị. Ngày 1/11/1954, Uỷ ban Hành chính tỉnh Ninh Bình ra lệnh giải tán các trại tập trung ở Phát Diệm. Hàng ngàn đồng bào tấp nập quay về. Trong năm 1955, các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình đã phát hiện và xử lí 17 vụ phản động tấn công vào bộ đội, 4 vụ gài mìn.v.v.</p>
<p>Ở Tĩnh Gia (Thanh Hoá), Mĩ &#8211; Diệm chọn Ba Làng làm tụ điểm tập trung giáo dân, biến nơi đây thành điểm tập kết, gây sức ép để Uỷ ban Quốc tế can thiệp. Ngày 5/12/1954, địch đã bắt ép một số đông giáo dân tập trung vào nhà xứ để chờ đi Nam. Để thực hiện âm mưu, chúng tổ chức một ổ võ trang có hệ thống ở Ba Làng. Trước tình hình đó, ngày 18/12/1954, Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá họp, ra Nghị quyết: “<em>Tích cực đẩy mạnh đoàn kết, tuyên truyền, giáo dục, phát động quần chúng trấn áp phản động</em>” và chủ trương: “<em>Tước vũ khí, bắt đầu sỏ, giải phóng nhân dân, đẩy mạnh tuyên truyền, phân hoá từng loại để xử lí</em>”. Bằng nhiều biện pháp khác nhau, đến ngày 20/12/1954, ta đã giải tán được trên 2.000 giáo dân từ các nơi kéo về Ba Làng tập trung. Mặc dù vậy, địch vẫn ngoan cố, tiếp tục tổ chức lực lượng võ trang, lùng bắt cán bộ, cướp vũ khí của bộ đội, phá tài sản của nhân dân. Chúng còn liên lạc với tàu Pháp ở ngoài biển để đưa dân đi Nam. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Thanh Hoá, ngày 3/1/1955, ta dùng hệ thống loa phát thanh giải thích chính sách của Đảng và Chính phủ, vạch rõ âm mưu thâm độc của địch và vận động các gia đình kêu gọi người thân trở về. Địch tiếp tục dùng lực lượng vũ trang kìm hãm giáo dân, nổ súng làm một số cán bộ, bộ đội hi sinh, 40 đồng chí bị thương, 6 cán bộ, bộ đội bị chúng bắt giữ. Tuy vậy, ta vẫn kiên trì giải thích chính sách của Đảng, song địch vẫn ngoan cố chống lại. Ngày 8/1/1955, lực lượng của ta buộc phải tiến vào bên trong để giải thoát cho những đồng bào bị địch giam giữ và trừng trị những tên phản động. Địch huy động thanh niên dùng vũ khí xông vào đâm chém. Mặc dù có người bị thương nặng, nhưng các chiến sĩ của ta vẫn bình tĩnh chống đỡ, rồi giải thích cho nhân dân; mặt khác kiên quyết trừng trị bọn chủ mưu. Bọn phản động bị cô lập, hơn 1.000 giáo dân, 6 cán bộ, bộ đội bị giam giữ được giải thoát. Tiếp theo, Toà án nhân dân Thanh Hoá mở phiên toà xét xử bọn phản động cầm đầu gây ra vụ bạo loạn ở Ba Làng nhằm đưa đồng bào di cư vào Nam.</p>
<p>Tại Diễn Tiến (Nghệ An), tháng 4/1955, địch cho 17 tên phản động từ trong Nam ra, tổ chức một đội vũ trang 100 người, được trang bị giáo mác, kết hợp với bọn phản động địa phương lôi kéo giáo dân đi Nam, kích động bạo loạn… Trước tình hình đó, Liên khu IV và Tỉnh đội Nghệ An đã chỉ đạo và phối hợp với địa phương đấu tranh chống địch. Ta tổ chức, giáo dục, huấn luyện 1.000 đồng bào đi vào đám đông, giải thích rõ âm mưu của kẻ thù, khuyên bà con trở về làm ăn. Tiếp đó, ta cho một đội vũ trang vào nhà thờ Diễn Tiến bắt 5 tên phản động đội lốt linh mục đưa ra trước quần chúng buộc phải công khai thú tội.</p>
<p>Tại xã Thạch Tân (Hà Tĩnh), địch tổ chức một đội “<em>cảm tử vì đạo</em>” gồm 30 người có vũ trang, cưỡng ép giáo dân bán nhà, làm đơn gửi lên chính quyền đòi đi Nam. Trước hành động ngang ngược của địch, ta bắt 3 tên đầu sỏ, đồng thời giải thích cho dân hiểu rõ âm mưu của địch. Kết quả, đã có 70 gia đình xin ở lại.</p>
<p>Ở Vĩnh Linh (Quảng Trị), số người di cư đổ dồn về đây để vượt giới tuyến vào Nam đông tới hàng vạn người. Tình hình này đã gây ra những khó khăn, phức tạp đối với ta khi hoà bình mới lập lại. Căn cứ vào chủ trương của TW và tình hình thực tế địa phương, Đảng uỷ khu vực đề ra chủ trương chống địch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam. Ban chống cưỡng ép di cư được thành lập, gồm 28 đồng chí, phân công nhau về cơ sở bám địa bàn, bám dân, tuyên truyền, giải thích chính sách tôn giáo của Đảng, giúp giáo dân sửa lại nhà thờ, giải quyết khó khăn về đời sống, đẩy mạnh việc tăng gia sản xuất, nổi lên là công tác vận động ở hai nhà thờ lớn nhất là Di Loan và Phước Sơn. Ngoài ra, Ban chống cưỡng ép di cư còn lập nhiều trạm dọc Quốc lộ 1 để đón khoảng trên 2 vạn giáo dân từ các tỉnh miền Bắc bị mắc mưu địch di cư vào Nam, giải thích cho giáo dân rõ về âm mưu của Mĩ &#8211; Diệm trong việc dụ dỗ, cưỡng ép, lừa gạt giáo dân di cư vào Nam.</p>
<p>Cuộc đấu tranh chống địch dụ dỗ và cưỡng ép đồng bào miền Bắc di cư vào Nam diễn ra rất phức tạp. Nhờ sự lãnh đạo kịp thời, kiên quyết của Đảng và Chính phủ, cán bộ, bộ đội, công an ta kiên trì, chịu đựng gian khổ, hi sinh, bám sát nhân dân nên đã hạn chế được hành động của địch đưa người vào Nam ồ ạt, chúng ta thu được một số thắng lợi nhất định. Tuy vậy, khách quan mà nói, trong phong trào đấu tranh, chúng ta còn bộ lộ một số hạn chế. Chỉ thị số 16-CT/TW ngày 21/4/1955 của Ban Bí thư vạch rõ nguyên nhân mắc khuyết điểm: “<em>Ở Trung ương, kế hoạch còn nặng về đối phó, thiếu chủ động tiến công địch; chưa huy động đủ lực lượng cần thiết để thực hiện kế hoạch chống cưỡng ép di cư. Bộ phận chỉ đạo công tác chống địch cưỡng ép di cư và bộ phận chuyên trách việc này trong Uỷ ban liên hiệp đình chiến Trung ương còn yếu… Nhiều địa phương vẫn còn chưa thấy hết âm mưu địch, cho nên vẫn còn chủ quan, thấy việc thì đối phó, xong việc lại lơ là. Chỉ đạo chưa được tăng cường một cách thường xuyên, chưa có bộ phân chuyên trách dứt khoát và có đủ cán bộ</em>”. Như ở Thanh Hoá, ta chưa bám sát dân, đặc biệt là trong vụ phiến loạn Ba Làng (Tĩnh Gia) cuối năm 1954, đầu năm 1955, tuy “<em>được quần chúng ủng hộ mà không thấy được giáo dục, phát động quần chúng để trấn áp địch…nên đã kéo dài tình trạng khổ cực của nhân dân trong một thời gian dài</em>”. Ở Vĩnh Linh (Quảng Trị), “<em>do ta chậm phát hiện âm mưu thâm độc của địch, công tác vận động đồng bào theo đạo Thiên Chúa của ta có sơ hở nên bọn phản động đã đưa được 7.164 đồng bào giáo dân ở địa phương Vĩnh Linh di cư vào Nam</em>”. Nếu <span style="text-decoration:underline;">tính chung cả miền Bắc thì địch đã đưa hơn 2/3 giáo dân di cư vào Nam</span>. Theo tạp chí Missi, cơ quan ngôn luận Thiên Chúa giáo (Pháp) số tháng 2/1956, trước cuộc di cư giáo dân ở phía Bắc vĩ tuyến 17 có 1.133.000 người; sau cuộc di cư chỉ còn 457.000 người.</p>
<p>Những hạn chế trên đây đã giúp chúng ta rút được những bài học kinh nghiệm quý báu trong cuộc đấu tranh cách mạng ở các giai đoạn tiếp theo.</p>
<p><strong>2. Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế (1954 &#8211; 1957).</strong></p>
<p><strong><em>a/ Hoàn thành CCRĐ</em></strong></p>
<p>Căn cứ vào hoàn cảnh thực tế và yêu cầu về quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, nhằm củng cố khối liên minh công nông, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, Uỷ bản CCRĐ Trung ương ra Nghị quyết: “<em>Đẩy mạnh phát động quần chúng thực hiện CCRĐ</em>”.</p>
<p>- CCRĐ lần 1, là một cuộc thí điểm, diễn ra ở 6 xã của huyện Đại Từ (Thái Nguyên), từ 25/12/1953 đến 30/3/1954.</p>
<p>- Tháng 11/1953, Hội nghị TW Đảng cũng thông qua “<span style="text-decoration:underline;">Cương lĩnh ruộng đất</span>” với nội dung chủ yếu là: “<em>Dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông, tiêu diệt chế độ bóc lột phong kiến từng bước có phân biệt, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến</em>”.</p>
<p>- Từ 1 – 4/12/1953, Quốc hội (khoá I) họp kỳ 3 thông qua <span style="text-decoration:underline;">Luật CCRĐ</span>, đến 19/12/1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh ban hành.</p>
<p>- Kỳ họp thứ 4 (20 – 26/3/1955), Quốc hội khẳng định tầm quan trọng của CCRĐ là: “<em>Đối với miền Bắc…CCRĐ là cơ sở cần thiết cho mọi công trình khôi phục, xây dựng và phát triển về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội</em>”…</p>
<p>Thực hiện chủ trương của TW, đợt 6 giảm tô và đợt 2 của CCRĐ là những việc đầu tiên được tiến hành trong hoàn cảnh đất nước hoà bình. Từ đó, việc đẩy mạnh phát động quần chúng thực hiện CCRĐ bắt đầu lan rộng ở vùng trung du và vùng đồng bằng mới giải phóng. Từ sau hoà bình lập lại cho đến tháng 7/1956, CCRĐ ở miền Bắc được tiến hành liên tiếp 4 đợt, từ đợt 2 đến đợt 5. Cụ thể:</p>
<p>- Đợt II (<em>23/10/1954 – 15/1/1955</em>) ở 22 xã của Thái Nguyên, 100 xã của Phú Thọ, 22 xã của Bắc Giang và 66 xã của Thanh Hoá (tổng là 210 xã)</p>
<p>- Đợt III (<em>18/2/1955 – 20/6/1955</em>) ở 106 xã của Phú Thọ, 84 xã của Bắc Giang, 65 xã của Vĩnh Phúc, 22 xã của Sơn Tây, 115 xã của Thanh Hoá, 74 xã của Nghệ An (tổng là 466 xã)</p>
<p>- Đợt IV (<em>27/6/1955 – 31/12/1955</em>) ở 17 xã của Phú Thọ, 1 xã của Bắc Giang, 111 xã của Vĩnh Phúc, 60 xã của Bắc Ninh, 71 xã của Sơn Tây, 98 xã của Hà Nam, 47 xã của Ninh Bình, 207 xã của Thanh Hoá, 5 xã của Nghệ An, 227 xã của Hà Tĩnh (tổng là 895 xã).</p>
<p>- Riêng đợt 5 (từ <em>25/12/1955 – 30/7/1956</em>), tiến hành ở 1.720 xã thuộc 20 tỉnh và 2 thành phố (8 xã của Bắc Ninh, 45 xã Ninh Bình, 163 xã Nghệ An, 6 xã Hà Tĩnh, 118 xã Quảng Bình, 21 xã Vĩnh Linh, 217 xã Hải Dương, 149 xã Hưng Yên, 294 xã Thái Bình, 83 xã Kiến An, 47 xã Hà Nội, 9 xã Hải Phòng, 40 xã Hồng Quảng). Đây là những vùng trước đó không lâu còn bị địch chiếm đóng, vì thế so với các đợt trước, đợt 5 diễn ra gay go, phức tạp.</p>
<p>Qua 5 đợt CCRĐ, 1.595.203 ha ruộng đất(có chỗ nói là trên 810 nghìn ha), 10 vạn trâu bò, 1,8 triệu nông cụ, gần 150 nghìn nhà cửa từ tay giai cấp địa chủ được chia cho trên 2 triệu hộ nông dân (khoảng trên 8,3 đến 10 triệu nhân khẩu). Khẩu hiệu “<em>người cày có ruộng</em>” đã trở thành hiện thực. Giai cấp địa chủ và tàn dư của chế độ phong kiến ở miền Bắc bị xoá bỏ. Giai cấp nông dân được giải phóng và được đưa lên địa vị người chủ ở nông thôn. Với thành quả này, miền Bắc “<em>đã căn bản hoàn thành nhiệm vụ phản phong kiến</em>”. Thắng lợi của cuộc CCRĐ là thành tựu to lớn của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.</p>
<p>Tuy vậy, khi đợt 5 đang đi vào thời điểm kết thúc, Đảng và Chính phủ phát hiện ra những sai lầm nghiêm trọng trong quá trình CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức. Đó là sự vi phạm đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn (<em>xâm phạm lợi ích của trung nông, không liên hiệp với phú nông, không phân biệt đối xử với các loại địa chủ, không chiếu cố địa chủ kháng chiến</em>), cường điệu việc trấn áp phản cách mạng; không dựa vào tổ chức cũ, mắc chủ nghĩa thành phần; nghiêm trọng nhất là trong việc chỉnh đốn tổ chức. Từ đó dẫn đến một số nông dân, cán bộ, đảng viên,…bị quy nhầm là địa chủ. Một số địa chủ kháng chiến, những người thuộc tầng lớp trên có công với cách mạng cũng bị đưa ra đấu tố. Sai lầm còn thể hiện ở phương pháp đấu tranh còn thô bạo.</p>
<p>Nguyên nhân sâu xa của những sai lầm trên là do không nắm vững vấn đề dân tộc và giai cấp ở nước ta, không thấy được những biến đổi to lớn về sở hữu ruộng đất, về giai cấp địa chủ và chế độ phong kiến ở nông thôn miền Bắc từ sau Cách mạng tháng Tám. Thật vậy, nếu “<em>căn cứ vào số ruộng đất đã chia cho nông dân trong CCRĐ, căn cứ tác hại rất nghiêm trọng của sai lầm CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức, thì chủ trương CCRĐ như đã làm là không cần thiết. Đó là vì trước khi tiến hành CCRĐ, giai cấp địa chủ, chế độ phong kiến đã căn bản bị xoá bỏ và mục tiêu người cày có ruộng đã căn bản được thực hiện với tỷ lệ 2/3 ruộng đất đã về tay nông dân, với quyền làm chủ của nông dân trong nông thôn đã được thực hiện từ Cách mạng tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp…</em>”.</p>
<p>Mặt khác, trong tiến hành CCRĐ, không giữ vững đường lối độc lập tự chủ, áp dụng máy móc, giáo điều kinh nghiệm nước ngoài một cách giản đơn, nên trong chỉ đạo đã cường điệu tính chất đấu tranh giai cấp ở nông thôn, ngả sang tả, đánh nhầm vào nội bộ nông dân, đặc biệt là tầng lớp trung nông lớp trên. “<em>Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt, những sai lầm về những vấn đề nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, … trái với chế độ pháp luật của Nhà nước… Những sai lầm đó không những đã hạn chế những thắng lợi đã thu được, mà lại gây ra nhiều tổn thất…ảnh hưởng tai hại đến chính sách mặt trận của Đảng…, làm cho tình hình nông thôn căng thẳng…</em>”.</p>
<p>Những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ đã gây tổn thất lớn cho nhân dân và hạn chế nhất định những thành quả CCRĐ.</p>
<p>Ngay trong tháng 4/1956, khi phát hiện ra những sai lầm, Đảng và Chính phủ đã có chỉ thị sửa chữa. Ngày 18/8/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào nông thôn và cán bộ, chỉ rõ những thắng lợi và những sai lầm trong CCRĐ. Tháng 9/1956, Hội nghị lần thứ 10 BCHTW Đảng họp, thảo luận và đi đến kết luận về những thắng lợi và những sai lầm trong CCRĐ. Hội nghị khẳng định: “<em>Chúng ta không sợ vạch rõ sai lầm, khi thấy sai lầm thì chúng ta kiên quyết sửa chữa được</em>”; đồng thời Hội nghị đề ra một số chủ trương, biện pháp để sửa chữa sai lầm, như khôi phục danh dự, quyền lợi cho những người bị xử oan và thi hành kỷ luật đối với một số cán bộ có trách nhiệm.</p>
<p>Tiếp theo, tháng 10/1956, Hội đồng Chính phủ họp thực hiện nhiệm vụ sửa sai, đã nhận định: “<em>Công tác CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Luật CCRĐ hợp tình hợp lí do Quốc hội thông qua không được chấp hành nghiêm chỉnh. Pháp luật Nhà nước không được tôn trọng. Chế độ pháp trị dân chủ bị xâm phạm. Những sai lầm ấy đã gây nhiều tổn thất trong nhân dân, đụng chạm đến tình cảm và đời sống bình thường của nhân dân, có hại cho chính sách đại đoàn kết của Mặt trận dân tộc thống nhất. Nó hạn chế những kết quả đã thu được trong CCRĐ và gây cho chúng ta nhiều khó khăn</em>”. Chính phủ tự kiểm điểm “<em>nhận thấy sâu sắc trách nhiệm về mình</em>” và quyết định thay đổi về mặt tổ chức: “<em>Từ nay các Uỷ ban CCRĐ Trung ương và địa phương không có quyền chỉ đạo mà chỉ là những cơ quan nghiên cứu trực thuộc chính quyền các cấp. Bãi bỏ các Toà án đặc biệt</em>”; đồng thời Chính phủ cũng quyết định thi hành kỷ luật đối với một số cán bộ liên quan. Mặt khác, TW quyết định phục hồi những chi bộ Đảng bị giải tán sai, sửa lại thành phần cho những cá nhân bị quy sai, khôi phục đầy đủ quyền lợi, danh dự, công tác cho những người bị xử lý sai, bãi bỏ mọi hình thức quản chế đối với những trường hợp bị quy sai là Việt gian, phản động; chấp hành nghiêm các chế độ, chính sách đối với các gia đình quân nhân cách mạng, các chính đảng, tôn giáo, dân tộc, các địa chủ có công với kháng chiến.</p>
<p>Ngày 8/12/1956, trong cuộc nói chuyện tại Trường Đại học Nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ: “<em>Chế độ dân chủ cộng hoà của ta dù có những sai lầm thiếu sót vì chúng ta còn thiếu kinh nghiệm và còn có nhiều khó khăn. Đảng và Chính phủ chỉ lo việc phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động chân tay và lao động trí óc. Trong CCRĐ, cán bộ đã phạm sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, cần phải kiên quyết sửa chữa, nhưng không nên vì sai lầm, khuyết điểm mà bi quan. Trái lại vẫn vững lòng tin tưởng vào Đảng và Chính phủ</em>”.</p>
<p>Do có chủ trương đúng đắn, kịp thời của Đảng và được toàn dân ủng hộ, nên <span style="text-decoration:underline;">đến cuối năm 1957, công tác sửa sai đã đem lại kết quả tốt</span>. Nông thôn dần dần đi vào ổn định, nội bộ Đảng đoàn kết, lòng tin của nhân dân được khôi phục, sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, khối liên minh công nông được củng cố, chính quyền nhân dân được ổn định và sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường, nhờ đó ý nghĩa thắng lợi của CCRĐ vẫn hết sức to lớn. Bộ mặt nông thôn miền Bắc có nhiều thay đổi. Thắng lợi của CCRĐ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành nhiệm vụ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.</p>
<p><strong><em>b/ Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh</em></strong></p>
<p>Chủ trương và phương châm khôi phục kinh tế được Chính phủ trình trước Quốc hội khoá I, kì họp thứ 4 (3/1955) và được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 5 (9/1955). Mục tiêu là khôi phục cơ sở sản xuất và mức sản xuất bằng trước chiến tranh (1939); đồng thời “<em>phải thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với chế độ dân chủ nhân dân. Phương châm khôi phục gồm 5 điểm cụ thể:</em></p>
<p><em>1) Chủ yếu phải khôi phục nông nghiệp, chú trọng công tác CCRĐ, rất coi trọng giao thông vận tải, chăm lo khôi phục, xây dựng một số công trình cần thiết, chú trọng gây cơ sở cho công nghiệp hoá.</em></p>
<p><em>2) Khôi phục kinh tế phải theo đường lối chung là phát triển sản xuất làm cho kinh tế dồi dào, công tư đều được chiếu cố, lao động và tư bản đều có lợi, thành thị và thôn quê giúp đỡ lẫn nhau, mở rộng trao đổi giữa trong và ngoài nước.</em></p>
<p><em>3) Khôi phục phải đi đôi với cải tạo nền kinh tế cũ còn nặng tính chất phong kiến, thực dân và di tích chiến tranh, thành nền kinh tế độc lập, dân chủ, phục vụ dân sinh.</em></p>
<p><em>4) Tăng cường một cách vững chắc bộ phận kinh tế quốc doanh và chăm lo xây dựng dần dần bộ phận kinh tế hợp tác xã, phát huy đến cao độ tính tích cực của quảng đại quần chúng lao động ở thành thị và thôn quê; hướng dẫn, khuyến khích và giúp đỡ công việc làm ăn, buôn bán của các tầng lớp tiểu tư sản và công cuộc kinh doanh của tư sản dân tộc.</em></p>
<p><em>5) Trong khôi phục kinh tế phải thực hiện sự phát triển cân đối giữa các ngành: nông nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng lại các thành phố bị tàn phá, thương mại</em>”.</p>
<p><em>Các phương châm kể trên đều quán triệt đường lối đại đoàn kết toàn dân</em> theo Cương lĩnh Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam <em>nhằm xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần</em> dưới sự chỉ đạo và quản lí của Nhà nước dân chủ nhân dân.</p>
<p>* <span style="text-decoration:underline;">Khôi phục sản xuất nông nghiệp</span>:</p>
<p>Đối với nền kinh tế quốc dân nói chung, kinh tế nông nghiệp có vị trí hết sức quan trọng. Nông nghiệp cung cấp lương thực, nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp. Sản xuất nông nghiệp được khôi phục mới giải quyết được vấn đề lương thực, làm cơ sở cho việc khôi phục và phát triển các ngành kinh tế khác, nâng cao mức sống cho nhân dân, do đó, sẽ củng cố vững chắc khối liên minh công nông. Vì vậy, Đảng và Nhà nước chủ trương lấy khôi phục nông nghiệp làm chủ yếu, trên cơ sở đó khôi phục toàn bộ nền kinh tế quốc dân.</p>
<p>Giai cấp nông dân miền Bắc, với niềm phấn khởi và tin tưởng vô hạn vì mới được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và được chia ruộng đất, đã tích cực hưởng ứng phong trào khôi phục và phát triển sản xuất. Vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn, nông dân đã ra sức khai hoang, chống hạn, bảo đảm cấy hết diện tích ruộng đất, tăng thêm đàn trâu bò, sắm thêm nông cụ… Đến cuối năm 1957, những vết thương chiến tranh trên đồng ruộng đã hàn gắn xong: 125.000 mẫu ruộng hoang đã trở thành những cánh đồng xanh tốt; 12 hệ thống nông giang bị địch phá hoại trong chiến tranh được sửa chữa, cùng với việc xây dựng những công trình thuỷ nông mới, như đập nước Đô Lương (Nghệ An), Bái Thượng (Thanh Hoá), Thác Huống (Bắc Giang); hệ thống đê điều dài 3.500km bị hư hỏng trong chiến tranh cũng được sửa chữa, củng cố lại;…</p>
<p>Kết quả, sản lượng lương thực và hoa màu tăng nhanh. Trong thời gian này, tổng sản lượng lương thực hàng năm đạt 4.000.000 tấn, vượt xa mức trước chiến tranh (năm 1939 đạt 2.407.000 tấn). Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt bình quân hàng năm là 680.000 tấn, gấp 3 lần năm 1939 (220.000 tấn). Do vậy, nạn đói có tính chất kinh niên ở miền Bắc bước đầu được giải quyết, đời sống nhân dân lao động được cải thiện một bước quan trọng.</p>
<p>* <span style="text-decoration:underline;">Khôi phục sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp</span>:</p>
<p>Do bị chính sách thuộc địa của thực dân Pháp kìm hãm, nền công nghiệp Việt Nam nói chung, công nghiệp miền Bắc nói riêng, rất nhỏ bé. Công nghiệp nặng miền Bắc hầu như không đáng kể (cuối năm 1954, giá trị sản lượng công nghiệp chiếm 1,5% tổng sản lượng công nông nghiệp). Công nghiệp nhẹ đã nhỏ bé lại bị chiến tranh tàn phá, kĩ thuật lạc hậu. Từ thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương trước hết phải <span style="text-decoration:underline;">tập trung khôi phục và phát triển công nghiệp nhẹ</span>, đồng thời <span style="text-decoration:underline;">củng cố và phát triển công nghiệp nặng trong phạm vi cần thiết và có khả năng</span>.</p>
<p>Giai cấp công nhân nêu cao tinh thần tự lực tự cường, kết hợp với việc sử dụng có hiệu quả viện trợ của các nước anh em, đã nhanh chóng khôi phục và mở rộng hầu hết các cơ sở công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp quan trọng, như mỏ than Hòn Gai, nhà máy dệt Nam Định, nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy điện Hà Nội. Một số nhà máy mới được xây dựng thêm, như nhà máy cơ khí Hà Nội, nhà máy diêm Thống Nhất, nhà máy gỗ Cầu Đuống, nhà máy thuốc lá Thăng Long, nhà máy cá hộp Hải Phòng, nhà máy chè Phú Thọ… Trong đó, việc xây dựng nhà máy cơ khí Hà Nội là sự kiện quan trọng trong lịch sử phát triển công nghiệp Việt Nam. Đây là cơ sở đầu tiên của ngành chế tạo máy ở nước ta. <span style="text-decoration:underline;">Đến cuối năm 1957, miền Bắc có tất cả 97 nhà máy, xí nghiệp</span> do Nhà nước quản lý.</p>
<p>Cùng với việc khôi phục và phát triển công nghiệp, các ngành thủ công nghiệp cũng được phục hồi nhanh chóng. <span style="text-decoration:underline;">Đến năm 1957, số thợ thủ công tăng lên gần 460.000 người (gấp 2 lần so với năm 1941, là năm mà ngành thủ công nghiệp phát triển cao nhất trước Cách mạng tháng Tám</span>). Ngành thủ công nghiệp đã cung cấp 58,8% số hàng hoá công nghiệp trong nước. Các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, nông cụ, dệt, may mặc, làm muối…đều vượt mức trước năm 1941.</p>
<p>Nhìn chung, trong 3 năm khôi phục kinh tế, giá trị tổng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp hàng năm tăng khá nhanh. Năm 1955 đạt 213.500 triệu đồng; năm 1956 đạt 432.000 triệu đồng; năm 1957 đạt 573.000 triệu đồng.</p>
<p>* <span style="text-decoration:underline;">Khôi phục ngành thương nghiệp</span>:</p>
<p>Sau khi hoà bình lập lại, một vùng đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu, có nhiều thóc gạo và nông phẩm…được giải phóng; mặt khác, sự lũng đoạn của tư bản Pháp bị thủ tiêu trên thị trường miền Bắc. Đó là những thuận lợi cơ bản cho việc mở rộng hoạt động thương nghiệp.</p>
<p>Tuy nhiên, trong tình hình mới, nền thương nghiệp miền Bắc cũng gặp nhiều khó khăn. Nhu cầu cung cấp tăng lên trong khi sản xuất công, nông nghiệp bị chiến tranh tàn phá nặng nề, không đủ sức cung cấp cho thị trường khối lượng hàng hoá cần thiết. Bên cạnh nền thương nghiệp độc lập, tự chủ, phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh trong các vùng tự do cũ, lại có thêm thương nghiệp vùng mới giải phóng còn mang tính chất phụ thuộc kinh tế thực dân. Phần lớn hàng hoá giao lưu trên thị trường nằm trong tay tư nhân. Thương nghiệp XHCN còn nhỏ bé.</p>
<p>Căn cứ vào tình hình cụ thể trên, Nhà nước <span style="text-decoration:underline;">chủ trương chuyển hoạt động thương nghiệp theo hướng phục vụ sản xuất, phục vụ nhân dân; hướng dẫn một số thương gia trước đây buôn bán những mặt hàng không cần thiết sang kinh doanh công nghiệp; tăng cường mậu dịch quốc doanh, làm cho mậu dịch quốc doanh phát huy tác dụng đối với đời sống nhân dân</span>. Hệ thống mậu dịch quốc doanh và HTX mua bán được mở rộng và cung cấp ngày càng nhiều mặt hàng cho nhân dân. Việc giao lưu hàng hoá giữa các địa phương ngày càng phát triển. Hoạt động thương mại dần dần tập trung trong tay Nhà nước. Quan hệ buôn bán với nước ngoài bước đầu được tăng cường. Đến năm 1957, miền Bắc nước ta đã đặt quan hệ thương mại với 27 nước trên thế giới.</p>
<p>* <span style="text-decoration:underline;">Khôi phục ngành giao thông vận tải</span>:</p>
<p>Hệ thống giao thông miền Bắc dưới thời Pháp thuộc rất lạc hậu, lại bị tàn phá, hư hỏng nghiêm trọng trong thời gian chiến tranh. Trước khi rút quân khỏi miền Bắc, thực dân Pháp tiếp tục phá hoại hoặc mang đi hầu hết các thiết bị máy móc…</p>
<p>Sau hoà bình, với yêu cầu, nhiệm vụ khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, cải thiện đời sống nhân dân và tăng cường quốc phòng, Nhà nước chủ trương khôi phục nhanh chóng đường xe lửa, đường ô tô, vận tải sông ngòi, bưu điện… Đây chính là những công tác có ý nghĩa quan trọng bậc nhất, là điều kiện không thể thiếu trong việc phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế.</p>
<p>Cuối năm 1957, trên toàn miền Bắc, nhân dân ta đã khôi phục được 681km đường sắt (quan trọng nhất là tuyến đường sắt Hà Nội &#8211; Lạng Sơn); khôi phục và làm thêm được 10.607km đường ô tô. Các bến cảng, cửa sông được tu sửa và củng cố, góp phần rất quan trọng trong việc phát triển giao lưu hàng hoá, phục hồi kinh tế. Đường hàng không dân dụng quốc tế được khai thông.</p>
<p><em>Tóm lại</em>, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự nỗ lực của toàn dân, mà nòng cốt là công nông, đến năm 1957, miền Bắc đã có những đổi thay về nhiều mặt. Thành phần kinh tế thực dân, phong kiến bị xoá bỏ; thành phần kinh tế quốc doanh chiếm ưu thế và đã nắm toàn bộ hoặc phần lớn những ngành then chốt, chiếm 58% giá trị sản lượng trong công nghiệp, 100% trong các ngành ngân hàng, xây dựng cơ bản, bưu điện, đường sắt, 61% trong các ngành thương nghiệp, 97% trong ngành ngoại thương…</p>
<p>* <span style="text-decoration:underline;">Phát triển văn hoá, giáo dục, y tế</span>:</p>
<p>Nhiệm vụ phát triển giáo dục được Chính phủ đặt ra một cách thực tế: “<em>Củng cố và phát triển bình dân học vụ, thống nhất và củng cố ngành phổ thông, chú trọng phát triển các lớp của trung học (cấp III), đặc biệt chú trọng phát triển đại học… Mở rộng cơ sở rèn luyện cán bộ</em>”. Nhiệm vụ trên được triển khai thành 5 công tác lớn là:</p>
<p>1) Phát triển giáo dục phổ thông;</p>
<p>2) Phát triển đại học và trung học chuyên nghiệp;</p>
<p>3) Thanh toán nạn mù chữ và bổ túc văn hoá;</p>
<p>4) Phát triển giáo dục miền núi;</p>
<p>5) Ổn định tình hình và phát triển giáo dục đối với học sinh miền Nam tập kết.</p>
<p>Kết quả, so với năm 1939, các chỉ tiêu tăng lên khá cao, cả về số lượng trường sở, về tổng số học sinh, sinh viên, số người được thanh toán nạn mù chữ, được bổ túc văn hoá, số học sinh miền Nam tập kết được sắp xếp vào các trường… So với năm học 1939 – 1940 thì năm học 1957 – 1958, chúng ta có các số liệu cụ thể sau:</p>
<p>- Tổng số trường học, từ 4.413 lên 5.007</p>
<p>- Tổng số giáo viên, từ 8.365 lên 23.340</p>
<p>- Tổng số học sinh vỡ lòng, từ 82.000 lên 857.000</p>
<p>- Tổng số học sinh phổ thông, từ 417.000 lên 1.008.000</p>
<p>- Tổng số sinh viên đại học, từ 582 lên 3.664, trong đó có 306 nữ sinh viên.</p>
<p>Công tác y tế được coi trọng, nhiều bệnh xã hội, truyền nhiễm bị đẩy lùi. Cuối năm 1957, miền Bắc đã có 55 bệnh viện, 13 viện điều dưỡng, 85 bệnh xá, 19.700 giường bệnh, 362 nhà hộ sinh. Năm 1939, cả Đông Dương chỉ có 138 thầy thuốc, thì đến năm 1957 miền Bắc đã có 49 bác sĩ, 1.087 y sĩ trung cấp, 175 dược sĩ trung cao cấp, 683 nữ hộ sinh và 6.641 y tá.</p>
<p>Nghệ thuật và văn hoá quần chúng được Đảng và Nhà nước quan tâm phát triển, góp phần quan trọng vào sự nghiệp khôi phục kinh tế. Phương châm chung là phát triển nền văn hoá dân tộc, học tập văn hoá tiên tiến của thế giới, trước hết là của các nước bạn, quét sạch tàn dư văn hoá nô dịch. Phát triển sinh hoạt văn hoá vui tươi, lành mạnh trong nhân dân, gây phấn khởi sản xuất và đấu tranh chính trị. Ba nhiệm vụ chính được triển khai trong văn hoá, nghệ thuật là:</p>
<p>1) Phát triển văn hoá quần chúng;</p>
<p>2) Phục hồi và bước đầu phát triển nghệ thuật;</p>
<p>3) Đẩy mạnh việc trao đổi văn hoá với nước ngoài.</p>
<p>Trên cơ sở thực hiện 3 nhiệm vụ trên đây, các ngành văn hoá quần chúng như xuất bản và phát hành sách, báo, thư viện, chiếu bóng, biểu diễn văn nghệ đều được phát triển. Cụ thể, sách xuất bản năm 1957 tăng gấp 6 lần so với năm 1939. Năm 1957 đã xây dựng được 33 thư viện với 458.000 cuốn sách. Tới tháng 9/1956 đã có 53 câu lạc bộ văn hoá của các xí nghiệp, cơ quan, công trường và 732 nhà văn hoá nông thôn. Năm 1957, ngoài 5 rạp hát quốc doanh, còn có 35 rạp hát tư doanh được Chính phủ cho phép hoạt động.v.v. Các tổ chức văn hoá, văn nghệ được củng cố và phát triển thêm, như Đại hội Văn công toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức năm 1955. Hội liên hiệp văn học &#8211; nghệ thuật, Hội mĩ thuật Việt Nam, Hội nhà văn Việt Nam, Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, Hội nhạc sĩ Việt Nam lần lượt ra đời. Giao lưu nghệ thuật với nước ngoài phát triển. Chúng ta đã đón tiếp nhiều đoàn nghệ thuật nước ngoài đến biểu diễn và cử nhiều đoàn văn công đi dự các cuộc liên hoàn nghệ thuật quốc tế và biểu diễn ở một số nước bạn bè, anh em.</p>
<p>Đánh giá về những thành tựu mà nhân dân miền Bắc đã giành được trong 3 năm (1954 &#8211; 1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “<em>Trải qua thời gian ba năm, nhân dân miền Bắc đã ra sức khắc phục khó khăn, lao động sản xuất, thu được những thành tích to lớn trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, bước đầu phát triển văn hoá, giảm bớt khó khăn và dần dần cải thiện đời sống cho nhân dân cả miền đồng bằng và miền núi. Cải cách ruộng đất căn bản hoàn thành, công việc sửa chữa sai lầm phát huy thắng lợi trong nhiều địa phương đã làm xong và thu được kết quả tốt. Nông nghiệp đã vượt hẳn mức trước chiến tranh. Công nghiệp đã khôi phục các xí nghiệp cũ, xây dựng một số nhà máy mới. An ninh trật tự được giữ vững, quốc phòng được củng cố</em>”.</p>
<p><strong>3. Cải tạo quan hệ sản xuất theo chủ nghĩa xã hội, bước đầu phát triển kinh tế &#8211; văn hoá (1958 &#8211; 1960).</strong></p>
<p><strong><span style="text-decoration:underline;">a) Cải tạo quan hệ sản xuất</span></strong></p>
<p>Tuy đạt được một số thành tựu như đã trình bình ở trên, nhưng nền kinh tế miền Bắc căn bản vẫn là một nền nông nghiệp  phân tán, lạc hậu, lao động thủ công với năng suất thấp. Các thành phần kinh tế dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất còn phổ biến, trong đó kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, tiểu thương chiếm phần rất lớn. Thành phần kinh tế công – thương nghiệp tư bản tư doanh mới được cải tạo bước đầu.</p>
<p>Trong tình hình đó, Hội nghị lần thứ 14 BCHTW Đảng họp (11/1958), chủ trương bước đầu phát triển kinh tế, phát triển văn hoá trong 3 năm (1958 &#8211; 1960) và cải tạo XHCN đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và kinh tế tư bản tư doanh, trong đó <em><span style="text-decoration:underline;">trọng tâm</span></em><span style="text-decoration:underline;"> trước mắt là cải tạo thành phần kinh tế cá thể của nông dân</span>. Tháng 12/1958, tại kì họp thứ 9 Quốc hội khoá I đã thông qua Kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế &#8211; văn hoá (1958 &#8211; 1960) bao gồm những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:</p>
<p>- Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, <span style="text-decoration:underline;">lấy sản xuất nông nghiệp làm <em>khâu chính</em></span>, chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề lương thực, đồng thời rất chú trọng sản xuất công nghiệp, hết sức tăng thêm các TLSX và giải quyết phần lớn hàng tiêu dùng.</p>
<p>- Cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp tư bản tư doanh theo hướng xã hội chủ nghĩa, <em><span style="text-decoration:underline;">khâu chính</span></em><span style="text-decoration:underline;"> là hợp tác hoá nông nghiệp</span>, đồng thời tích cực phát triển và củng cố thành phần kinh tế quốc doanh.</p>
<p>- Trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng cao thêm một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, nhất là đời sống của nhân dân lao động; và tăng cường củng cố quốc phòng.</p>
<p><strong><em>* Cải tạo XHCN trong nông nghiệp:</em></strong></p>
<p>Cải tạo theo định hướng XHCN trong nông nghiệp tức là phải thực hiện cải tạo QHSX kết hợp với cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động và giáo dục tư tưởng XHCN cho nông dân, nhằm đưa giai cấp nông dân từ chỗ làm ăn riêng lẻ đi dần vào con đường <span style="text-decoration:underline;">làm ăn tập thể XHCN</span>. Đây là khâu chính trong toàn bộ sự nghiệp cải tạo XHCN ở miền Bắc.</p>
<p>Cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp được tiến hành qua 3 bước, từ thấp đến cao là: “<em>Tổ đổi công có mầm mống XHCN, hợp tác hoá bậc thấp nửa XHCN và hợp tác hoá bậc cao hoàn toàn XHCN</em>”; từng bước làm cho nông dân quen dần với lối làm ăn tập thể và phù hợp với trình độ quản lí của cán bộ HTX.</p>
<p>Để đạt được mục tiêu trên, trong qúa trình vận động hợp tác hoá, một mặt phải đi đúng đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn; mặt khác phải đảm bảo tuân thủ 3 nguyên tắc: <em>Tự nguyện</em>, <em>cùng có lợi</em> và <em>quản lí dân chủ</em>.</p>
<p>- <span style="text-decoration:underline;">Tự nguyện</span> là phải để nông dân thấy được tính hơn hẳn của HTX đối với sản xuất cá thể mà tự nguyện, tự giác tham gia, nhất thiết không được cưỡng ép, mệnh lệnh dưới bất cứ hình thức nào.</p>
<p>- <span style="text-decoration:underline;">Cùng có lợi</span> là đối với những TLSX của xã viên đưa vào HTX cũng như khi sắp xếp công việc, bình công chấm điểm, chia hoa lợi,… đều phải giải quyết một cách hợp lí trong mối quan hệ giữa lợi ích chung của HTX với lợi ích riêng của từng xã viên nhằm lợi cho đoàn kết, lợi cho sản xuất.</p>
<p>- <span style="text-decoration:underline;">Quản lí dân chủ</span> là quản lí 3 mặt: lao động sản xuất, tài vụ cũng như các việc khác của HTX đều phải được bàn bạc một cách dân chủ và do tập thể xã viên quyết định, không được độc đoán, mệnh lệnh,…</p>
<p>Để thực hiện có kết quả cuộc vận động hợp tác hoá, một mặt Nhà nước mở các lớp cán bộ HTX để xây dựng và phát triển phong trào; tổ chức cho nông dân học tập chính sách hợp tác hoá nông nghiệp, nhận thức được ý nghĩa của con đường làm ăn mới; mặt khác, Nhà nước đã đầu tư vào nông nghiệp 180 triệu đồng bạc, cho nông dân vay 138 triệu đồng, cung cấp cho nông dân 30 vạn tấn phân hoá học, 6 vạn trâu bò, 4 triệu nông cụ các loại, xây dựng 19 công trình thuỷ lợi bảo đảm nước tưới cho 153 vạn ha ruộng đất.</p>
<p>Kết quả, sau 3 năm tiến hành thực hiện hợp tác hoá nông nghiệp, đến cuối năm 1960, trên toàn miền Bắc đã có <span style="text-decoration:underline;">40.000 HTX nông nghiệp</span>, bao gồm <span style="text-decoration:underline;">85,8% hộ nông dân</span> với <span style="text-decoration:underline;">68,1% diện tích ruộng đất</span>, trong đó có gần 12% số hộ tham gia HTX bậc cao.</p>
<p>Tại miền núi, do có những đặc điểm riêng, Đảng và Nhà nước chủ trương cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển sản xuất kết hợp với việc hoàn thành cải cách dân chủ. Cuộc vận động đã diễn ra trong 2.000 xã với 3 triệu dân.Tính đến tháng 6/1961, toàn miền núi có 357.000 hộ nông dân vào HTX, chiếm 75,64% tổng số hộ nông dân.</p>
<p>=&gt; <span style="text-decoration:underline;">Cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng</span>. Nó không chỉ mở đường cho LLSX phát triển, mà còn đảm bảo những điều kiện vật chất, tinh thần, chính trị cho bộ phận tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Thắng lợi của công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp góp phần tạo điều kiện cho việc cải tạo các thành phần kinh tế khác theo hướng XHCN. Chỉ số phát triển tổng sản lượng nông nghiệp: lấy năm 1957 là 100, thì năm 1958 là 116,9, năm 1959 là 124,5 và năm 1960 là 113,7. Nhiệm vụ hợp tác hoá nông nghiệp được Đảng và Chính phủ tổng kết là về cơ bản đã hoàn thành. Nhưng xét theo phương châm “vững chắc” mà Chính phủ đề ra thì chưa đảm bảo, vì phong trào tiến quá nhanh, chất lượng HTX yếu kém; đặc biệt 3 nguyên tắc “<em>tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi</em>” đều bị vi phạm. Như vậy, tuy Nhà nước chăm lo dân chủ hoá, pháp chế hoá bộ máy và cơ quan vận hành, nhưng ở đây lại chưa được quán triệt và thực thi đầy đủ. Xét chỉ tiêu kế hoạch nông nghiệp có tăng nhưng xét về hợp tác hoá, ngay từ đầu năm 1960 đã có chiều hướng giảm sút.</p>
<p><strong><em>* Cải tạo XHCN đối với thủ công nghiệp, thương nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh:</em></strong></p>
<p>Sau khi được khôi phục, ngành thủ công nghiệp đã có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đảng và Nhà nước chủ trương cải tạo thợ thủ công thông qua các hình thức tổ hợp tác, HTX cung tiêu sản xuất và HTX sản xuất thủ công nghiệp. Đến cuối năm 1960, miền Bắc có <span style="text-decoration:underline;">87,9% số thợ thủ công</span> tham gia vào các hình thức sản xuất tập thể.</p>
<p>Đối với thương nghiệp nhỏ, Nhà nước chủ trương dùng các hình thức hợp tác (như tổ hợp tác mua, bán; tổ hợp tác vừa mua bán, vừa sản xuất…) để cải tạo và chuyển dần một bộ phận sang cơ sở sản xuất tập thể. Cuối năm 1960, hơn 105.000 người buôn bán nhỏ (chiếm 45%) tham gia các hình thức hợp tác, gần 50.000 người buôn bán nhỏ chuyển sang sản xuất, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp.</p>
<p>Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, Nhà nước <span style="text-decoration:underline;">chủ trương cải tạo theo định hướng XHCN bằng phương pháp hoà bình</span> vì giai cấp tư sản miền Bắc nhỏ yếu, đã từng là đồng minh của giai cấp công nhân trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Hơn thế nữa, công cuộc cải tạo diễn trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: Nhà nước dân chủ nhân dân được củng cố vững mạnh, thành phần kinh tế quốc doanh nắm vai trò lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân; từ ngày hoà bình lập lại, nói chung giai cấp tư sản vẫn tán thành cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc, có khả năng tiếp thu cải tạo XHCN. Mặt khác, cải tạo bằng phương pháp hoà bình là nhằm đoàn kết lực lượng cả nước trong cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.</p>
<p>Với chủ trương cải tạo bằng phương pháp hoà bình, Nhà nước <em><span style="text-decoration:underline;">không tịch thu</span></em><span style="text-decoration:underline;"> TLSX của giai cấp TS dân tộc mà dùng chính sách <em>chuộc lại</em> hoặc dưới hình thức <em>công tư hợp doanh</em></span>; về chính trị, TS dân tộc vẫn là một thành phần của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đến cuối năm 1960, miền Bắc có 783 hộ TS công nghiệp (100%), 826 hộ TS thương nghiệp (97,1%) và 319 hộ TS vận tải cơ giới (99%)…được cải tạo. Hàng vạn công nhân được giải phóng khỏi ách bóc lột của giai cấp tư sản. Sản xuất phát triển: chỉ số phát triển giá trị tổng sản lượng công, nông nghiệp lấy năm 1957 là 100, thì năm 1958 là 117, năm 1959 là 133, năm 1960 là 135,8. Đời sống nhân dân được cải thiện một bước.</p>
<p>Như vậy, công cuộc cải tạo kinh tế đã diễn ra một cách tích cực, khẩn trương, theo đúng chủ trương mà Đảng và Nhà nước đề ra và đạt được yêu cầu. Nhiệm vụ phát triển và cải tạo kinh tế về cơ bản hoàn thành, đưa <span style="text-decoration:underline;">miền Bắc từ một nền kinh tế nhiều thành phần lên một nền kinh tế chủ yếu chỉ có hai thành phần</span> là quốc doanh và tập thể. Thắng lợi này có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn đối với việc củng cố chế độ XHCN miền Bắc và góp phần vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.</p>
<p>Nhưng xét về hiệu quả trong cả tiến trình cách mạng thì cả hai nhiệm vụ phát triển và cải tạo, tuy tiến nhanh, tiến mạnh, nhưng không vững chắc. Nguyên nhân là do <span style="text-decoration:underline;">sai lầm chủ quan, nóng vội, duy ý chí</span>. Chủ trương “<em>đưa việc xây dựng QHSX tiên tiến lên trước để kéo LLSX lên theo</em>” là không phù hợp với quy luật khách quan. Sai lầm còn do không nắm chắc các quy luật kinh tế của thời kì quá độ, nên đã đồng nhất cải tạo với xoá bỏ tư hữu, xoá bỏ các thành phần kinh tế; còn thể hiện tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí, vi phạm nguyên tắc tự nguyện…</p>
<p><strong><span style="text-decoration:underline;">b) Bước đầu phát triển kinh tế &#8211; văn hoá:</span></strong></p>
<p>Song song với cải tạo XHCN đối với thủ công nghiệp, thương nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh, trong thời kì 1958 – 1960, công thương nghiệp quốc doanh có những bước phát triển nhanh chóng. Nhà nước đã tập trung phần lớn vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản trong công nghiệp. So với thời kì 1955 – 1957, tổng mức đầu tư vào công nghiệp trong kế hoạch 3 năm 1958 – 1960 tăng lên 3 lần, chiếm 46,52% tổng số vốn đầu tư cho các ngành kinh tế, văn hoá.</p>
<p>Với số vốn đầu tư trên, Nhà nước đã xây dựng nhiều công trình lớn nhỏ. Từ chỗ có 97 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh (năm 1957), đến năm 1960 đã có tới <span style="text-decoration:underline;">172 xí nghiệp do TW quản lí</span> và <span style="text-decoration:underline;">trên 500 xí nghiệp cơ sở do địa phương quản lí</span>. Một hệ thống các nhà máy, xí nghiệp thuộc các ngành điện lực, khai khoáng, luyện kim, chế tạo nông cụ, chế tạo cơ khí, hoá chất, phân bón, vật liệu xây dựng…được hình thành. Khu gang thép Thái Nguyên, cơ sở luyện kim đầu tiên của Việt Nam được xây dựng trong thời kì này. Nhà máy điện Thái Nguyên, Việt Trì, Uông Bí, nhà máy đóng tàu thủy,…bắt đầu được xây dựng.</p>
<p>Ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phát triển và đạt được kết quả lớn. Năm 1959, tổng số hàng tiêu dùng sản xuất trong nước tăng lên 283,7% so với năm 1955. Năm 1960, sức mua của nhân dân tăng lên nhiều, nhưng số lượng hàng hoá nhập chỉ bằng 6% giá trị sản lượng tiêu dùng trong nước. Trong năm này, <span style="text-decoration:underline;">ngành công nghiệp nhẹ đảm bảo cung cấp được hơn 90% hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân</span>, trong đó giá trị sản lượng quốc doanh chiếm tỷ lệ cao (1957 là 26,9%; 1960 là 54,4%).</p>
<p>Ngành thương nghiệp XHCN cũng phát triển mạnh mẽ. Từ một sở mậu dịch quốc doanh trong kháng chiến, đến năm 1959 <span style="text-decoration:underline;">mậu dịch quốc doanh đã có 12 công ti chuyên nghiệp với 1.400 cửa hàng</span>.</p>
<p>Sự phát triển của thương nghiệp XHCN, sự lớn mạnh của thương nghiệp quốc doanh đã có tác dụng giữ vững vai trò chủ đạo và ổn định thị trường, góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động.</p>
<p>Trên mặt trận giáo dục, vấn đề cấp bách là đẩy mạnh công tác thanh toán nạn mù chữ. Cuối năm 1960, về <span style="text-decoration:underline;">căn bản đã xoá xong nạn mù chữ ở miền xuôi cho những người dưới 50 tuổi</span>. Công tác bổ túc văn hoá cũng phát triển mạnh mẽ, tiến tới phổ cập cấp I cho toàn dân, trước hết là trong cán bộ cơ sở và trong thanh niên.</p>
<p>Thời kì 1958 – 1960 đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng về chất lượng và số lượng của ngành giáo dục phổ thông. Đến <span style="text-decoration:underline;">năm 1960, số học sinh phổ thông lên tới 1.815.000 người</span>, tăng 1,5 lần so với 1955 và tăng 80% so với năm 1957. Ở các tỉnh miền núi, trường phổ thông các cấp cũng phát triển. Các dân tộc Thái, Tày, Nùng, H’Mông…được Nhà nước giúp đỡ đã cải tiến và xây dựng chữ viết của mình.</p>
<p>Trước yêu cầu đào tạo cán bộ KHKT, trong thời gian 1958 – 1960, Chính phủ quyết định mở thêm nhiều trường đại học và trung học chuyên nghiệp, thu hút con em nhân dân lao động vào học. Kết quả là đến năm 1960, toàn miền Bắc có <span style="text-decoration:underline;">9 trường đại học</span> với <span style="text-decoration:underline;">11.070 sinh viên</span> (gấp 2 lần so với năm 1957); <span style="text-decoration:underline;">50 trường trung học chuyên nghiệp</span> với <span style="text-decoration:underline;">26.330 học sinh</span> (gấp 2,3 lần so với năm 1957). Bên cạnh việc đào tạo trong nước, Chính phủ còn đưa ngày càng nhiều học sinh đi học ở các nước XHCN anh em.</p>
<p>Về văn hoá, nổi bật là sự phát triển của các ngành văn học, nghệ thuật, điện ảnh, xuất bản, báo chí, thông tin. Những cơ sở nghiên cứu di sản văn hoá, nghệ thuật dân tộc được xây dựng. Công tác đào tạo cán bộ nghệ thuật, cũng như việc bảo tồn các di tích lịch sử và những công trình kiến trúc được chú trọng. Nhà nước cho xây dựng xưởng phim truyện Việt Nam và phát triển các đội chiếu bóng lưu động.</p>
<p>Công tác y tế có nhiều tiến bộ, đạt được những thành tựu mới trong lĩnh vực nghiên cứu y học chữa bệnh mắt; phòng chống và chữa bệnh lao. Cơ sở y tế (bao gồm bệnh viện, bệnh xá, trạm y tế) được xây dựng. Việc kết hợp giữa Đông và Tây y đã tăng cường khả năng chữa bệnh cho nhân dân.</p>
<p><strong>4. Củng cố miền Bắc, cổ vũ miền Nam (1954 &#8211; 1960).</strong></p>
<p>Những thắng lợi giành được trong thời kì khôi phục kinh tế không tách rời vai trò của Nhà nước Dân chủ Nhân dân, đồng thời có tác dụng củng cố nền tảng của Nhà nước.</p>
<p>Từ khi hoà bình lập lại, Nhà nước dân chủ nhân dân ở miền Bắc đã chuyển sang làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản. Đó là Nhà nước đại biểu cho quyền lợi của nhân dân lao động. Vì vậy, tăng cường Nhà nước chuyên chính vô sản cũng tức là phải tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công nông, tăng cường mối liên hệ giữa Nhà nước và nhân dân.</p>
<p>Từ ngày 5 đến 15/9/1955, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất toàn quốc họp tại Hà Nội đã quyết định mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Ngày 10/9/1955, Đại hội thông qua việc thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kế tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên Việt trước đây. Đại hội đã bầu ra Uỷ ban TW Mặt trận do Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch và thông qua Cương lĩnh Mặt trận, gồm 10 điểm:</p>
<p>1)     Hoàn thành độc lập dân tộc;</p>
<p>2)     Thực hiện thống nhất nước nhà;</p>
<p>3)     Xây dựng chế độ dân chủ;</p>
<p>4)     Phát triển kinh tế, nâng cao sản xuất;</p>
<p>5)     Cải cách ruộng đất;</p>
<p>6)     Thi hành chính sách xã hội hợp lý;</p>
<p>7)     Phát triển văn hoá, giáo dục;</p>
<p>8)     Củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc;</p>
<p>9)     Thi hành chính sách ngoại giao hoà bình, độc lập;</p>
<p>10) Đoàn kết nhân dân toàn quốc.</p>
<p>Cương lĩnh của Mặt trận thể hiện nguyện vọng, ý chí của mọi người Việt Nam yêu nước là đại đoàn kết để hoàn thành sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh. Phát biểu tại phiên bế mạc Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “<em>Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới tốt. Muốn thực hiện Cương lĩnh của Mặt trận thì chúng ta phải ra sức củng cố miền Bắc về mọi mặt, phải làm cho miền Bắc vững mạnh và tiến lên mãi, chứ không phải là hạ thấp yêu cầu củng cố miền Bắc</em>”.</p>
<p>Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành lập đánh dấu một bước phát triển về đoàn kết dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới, nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình trong cả nước để đấu tranh chống đế quốc Mĩ, củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tiến tới xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.</p>
<p>Tháng 3/1957, BCHTW Đảng họp Hội nghị lần thứ 12. Hội nghị thảo luận và ra Nghị quyết về 2 vấn đề: Kế hoạch Nhà nước năm 1957 và Xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng.</p>
<p>Về kế hoạch Nhà nước năm 1957, Hội nghị đề ra mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ khôi phục kinh tế (ngang với mức sản xuất năm 1939), tạo ra những điều kiện tốt để có cơ sở chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn phát triển kinh tế.</p>
<p>Về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, Hội nghị đề ra phương châm xây dựng, tăng cường lực lượng quốc phòng: “<em>Tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh tiến dần từng bước đến chính quy hoá và hiện đại hoá</em>” và “<em>không những có một lực lượng thường trực mạnh mà lại phải có một lực lượng hậu bị mạnh</em>”.</p>
<p>Ngày 14/9/1957,  Dự thảo Luật Công đoàn được Quốc hội (khoá I) họp kì thứ 7 thông qua, nhằm phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong quản lí kinh tế, quản lí Nhà nước.</p>
<p>Cuối năm 1957, cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính các cấp địa phương được tiến hành, đã củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, chuyển sang thực hiện chức năng chuyên chính vô sản của giai cấp công nhân.</p>
<p>Sau thời kì khôi phục kinh tế, cải tạo QHSX và phát triển kinh tế và văn hoá, mọi mặt đời sống xã hội miền Bắc đã và đang có những chuyển biến lớn lao. Tình hình mới đòi hỏi phải có một Hiến pháp mới thay thế cho Hiến pháp 1946. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “<em>Hiến pháp 1946, hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta, thích hợp với tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời kì đó. Nó đã hoàn thành sứ mệnh của nó. Nhưng so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thích hợp nữa. Vì vậy mà chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp ấy</em>”.</p>
<p>Tại kì họp thứ 6 (23/11/1957), theo đề nghị của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội khoá I ra Nghị quyết sửa đổi Hiến pháp và bầu ra Ban sửa đổi Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban.</p>
<p>Sau gần 2 năm hoạt động, Dự thảo Hiến pháp đã được đưa ra trưng cầu ý kiến rộng rãi trong toàn dân. Ngày 31/12/1959, Quốc hội khoá I chính thức thông qua bản Hiến pháp mới. Ngày 1/1/1960, Hiến pháp được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công bố.</p>
<p>Hiến pháp 1959 khẳng định chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân: “<em>Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân…</em>”. Mọi quyền lợi và nghĩa vụ của công dân (quyền bình đẳng nam nữ, bình đẳng dân tộc, bình đẳng trước pháp luật, các quyền tự do dân chủ, như tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, quyền làm việc, nghỉ ngơi, quyền ứng cử, bầu cử…) được quy định rõ ràng trong Hiến pháp và nhấn mạnh: “<em>Nhà nước đảm bảo những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó</em>”.</p>
<p>Hiến pháp năm 1959 khẳng định ý chí và nguyện vọng của nhân dân ta là xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh. Hiến pháp 1959 đặt cơ sở cho việc xây dựng pháp chế XHCN ở nước ta.</p>
<p>Về quốc phòng, để trở thành hậu phương vững mạnh trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước, miền Bắc phải được xây dựng không chỉ mạnh về chính trị, kinh tế mà cả về quân sự. Đảng và Chính phủ quán triệt quan điểm quân đội nhân dân là trụ cột chủ yếu nhất, chắc chắn nhất để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình. Nghị quyết Bộ Chính trị (9/1954) chỉ rõ: “<em>Bất kì tư tưởng và hành động nào cho là đình chiến rồi thì mọi việc đều tốt đẹp, rồi bỏ rơi việc chuẩn bị chiến đấu, để cho tinh thần uể oải, lơ là việc xây dựng lực lượng vũ trang đều là sai lầm nguy hiểm. Cho nên, tăng cường Quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và toàn thể nhân dân ta. Cần phải xây dựng Quân đội nhân dân thành một quân đội cách mạng, chính quy, <span style="text-decoration:underline;">tương đối hiện đại</span></em>”.</p>
<p>Trong những năm kháng chiến, bộ đội ta phân tán chiến đấu và công tác trên nhiều chiến trường nên biên chế tổ chức, trang bị, điều lệnh của bộ đội thiếu thống nhất. Vì vậy, trong khi cùng toàn Đảng, toàn dân ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước ổn định tình hình, chống địch cưỡng ép di cư, truy quét phỉ dọc miền biên giới, giúp nhân dân các địa phương tháo gỡ bom mìn, phục hồi sản xuất, khắc phục bão lũ, hạn hán; đồng thời quân đội gấp rút chấn chỉnh bước đầu về mọi mặt. Cuối năm 1954, các đơn vị trong toàn quân bước vào đợt huấn luyện quân sự đầu tiên trong thời bình với chương trình và nội dung huấn luyện thống nhất, đặc biệt là kỹ thuật, chiến thuật cấp phân đội. Sau 3 năm huấn luyện cơ bản, bản lĩnh chiến đấu, trình độ kỹ thuật, chiến thuật cá nhân được nâng lên, tạo điều kiện cho bộ đội bước vào huấn luyện tác chiến hiệp đồng, vận dụng thuần thục các hình thức chiến thuật trong những năm tiếp theo.</p>
<p>Năm 1957, Hội nghị lần thứ 12 (mở rộng) BCHTW Đảng (khoá II) Quyết nghị các vấn đề xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong giai đoạn mới. Nhiệm vụ quân đội được Hội nghị xác định: “<em>Bảo vệ công cuộc củng cố và xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và an ninh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong cả nước, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, chủ yếu là đế quốc Mĩ và tay sai</em>”. Hội nghị quyết định các biện pháp lớn để tăng cường khả năng phòng thủ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội. Bộ Tổng Tham mưu soạn thảo Kế hoạch xây dựng Quân đội 5 năm (1955 &#8211; 1959). Mục tiêu xây dựng trong 5 năm, Quân đội phải: “<em>Thực hiện và hoàn thành thắng lợi kế hoạch xây dựng Quân đội nhân dân, làm cho quân đội trở thành một <span style="text-decoration:underline;">lục quân</span> cách mạng chính quy và tương đối hiện đại, đồng thời đặt cơ sở đầu tiên cho các quân chủng và binh chủng khác</em>”. Hội nghị nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng là nhiệm vụ của toàn Đảng và toàn dân, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, động viên toàn quân tích cực học tập và công tác, phát huy khả năng của nhân dân tham gia vào việc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng.</p>
<p>Tháng 3/1958, Tổng Quân uỷ quyết định điều chỉnh một số nội dung trong kế hoạch xây dựng quân đội. Theo đó, thời gian thực hiện kế hoạch tăng thêm 1 năm (đến năm 1960) cho phù hợp với thời gian thực tế kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá. Những nội dung được điều chỉnh bao gồm:</p>
<p>1)     Giảm bớt tổng quân số đi đôi với việc nâng cao chất lượng toàn diện của bộ đội tập trung, cải tiến trang bị, vũ khí, các đơn vị, binh chủng, thực hiện các chế độ chính quy.</p>
<p>2)     Tận dụng khả năng xây dựng kinh tế của quân đội.</p>
<p>3)     Xúc tiến việc đào tạo cán bộ, xây dựng các nhà trường quân sự.</p>
<p>4)     Đẩy mạnh công tác huấn luyện và nghiên cứu khoa học quân sự.</p>
<p>Ngoài ra, Tổng Quân uỷ còn xác định rõ những biện pháp nhằm tăng cường khả năng phòng thủ miền Bắc, chuẩn bị mọi mặt đối phó nếu chiến tranh xảy ra, xây dựng Tây Bắc và miền Tây khu IV thành căn cứ địa vững chắc.</p>
<p>Thực hiện nội dung trên đây, 78.100 cán bộ, chiến sĩ rời quân ngũ, chuyển về địa phương hoặc sang công tác ở các cơ quan dân sự; 143.000 cán bộ, chiến sĩ khác chuyển sang các đơn vị xây dựng kinh tế, lập các nông trường ở Điện Biên, Mộc Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Sơn Tây, Hoà Bình, miền Tây Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, tham gia xây dựng khu công nghiệp Thái Nguyên, Việt Trì…</p>
<p>Đi đôi với việc giảm tổng quân số, toàn quân tiến hành sắp xếp lại lực lượng. Tháng 3/1958, Bộ Quốc phòng quyết định thống nhất tổ chức, biên chế, trang bị của lục quân và các đơn vị của không quân, hải quân. Ngày 21/3/1958, Bộ Quốc phòng ra Nghị định thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không trên cơ sở tách Sư đoàn Pháo Cao xạ 367 khỏi Bộ Tư lệnh Pháo binh… Tháng 1/1959, Cục Không quân và Cục Hải quân được thành lập với nhiệm vụ giúp Bộ Quốc phòng tổ chức, chỉ đạo lực lượng không quân, hải quân; xây dựng, quản lí các sân bay và hải cảng; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên kĩ thuật và lực lượng hậu bị của 2 quân chủng này.</p>
<p>Đầu năm 1958, được sự chấp thuận của Hội đồng Chính phủ, Bộ Quốc phòng chỉ đạo thí điểm thực hiện nghĩa vụ quân sự ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Nghệ An, Hải Dương, Sơn La,… Rút kinh nghiệm đợt thí điểm gọi thanh niên nhập ngũ theo nghĩa vụ quân sự, ngày 31/12/1959, Quốc hội chính thức thông qua Luật Nghĩa vụ Quân sự; đến tháng 4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh ban hành. Từ chế độ tòng quân tình nguyện chuyển sang chế độ nghĩa vụ quân sự là bước tiến mới của sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Chế độ nghĩa vụ quân sự cho phép tăng cường lực lượng hậu bị, giảm bớt số quân thường trực; tiết kiệm tài, lực cho công cuộc xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, xây dựng tiềm lực quân sự. Ngoài ra, chế độ nghĩa vụ quân sự cho phép phổ cập tri thức quân sự, nâng cao ý thức quốc phòng trong nhân dân; động viên được sự tham gia, đóng góp của toàn dân vào sự nghiệp xây dựng quân đội.</p>
<p>Để tích cực hỗ trợ, chi viện cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam, cuối tháng 5/1959, Quân uỷ TW ra Nghị quyết chính thức thành lập Đoàn 559 với nhiệm vụ là xây dựng một tuyến đường bộ đầu tiên nối liền Bắc – Nam, tổ chức đưa người và vũ khí tiếp tế cho cách mạng miền Nam, trước mắt là cho Liên khu V. Đoàn 559 (còn có tên gọi là bộ đội Trường Sơn) lấy vận tải cơ giới làm chủ yếu, vận tải thô sơ làm bổ trợ, đã phục vụ đắc lực cho việc chi viện trên nhiều hướng chiến trường và nhiều chiến dịch lớn của các LLVT, đưa vào và ra hàng chục vạn ngàn người, chuyển hàng triệu tấn hàng dưới bom đạn ác liệt và những cuộc tấn công trên mặt đất của quân thù.</p>
<p>Ngoài Đoàn 559, Quân uỷ TW thấy cần mở một đường vận chuyển trên biển để tiếp tế vũ khí, đạn dược, trang bị cho miền Nam. Tháng 7/1959, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn 759, lúc đầu chỉ có một nhóm cán bộ trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu làm nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề này.</p>
<p>Về ngoại giao, trước tình hình thế giới đang biến đổi ngày càng phức tạp, Đảng và Nhà nước ta, trên cơ sở giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, đã tiến hành chính sách ngoại giao hoà bình và hữu nghị với các dân tộc, chăm lo củng cố và phát triển hợp tác tương trợ với các nước XHCN và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Lào và Campuchia, Đảng và Chính phủ nhận rõ tầm quan trọng đặc biệt của liên minh chiến đấu giữa 3 nước, coi đây là nhân tố đảm bảo sự thắng lợi và cũng là quy luật phát triển cách mạng mỗi nước.</p>
<p>Đối với các nước Á, Phi, Mĩ La Tinh, chính sách của ta là ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của họ và giao hảo với bất cứ nước nào cùng ta công nhận 5 nguyên tắc chung sống hoà bình.</p>
<p>Ngày 20/3/1955, tại Kì họp lần thứ 4 Quốc hội khoá I, Chính phủ VNDCCH tuyên bố: “<em>Nền tảng vững chắc của chính sách ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là tăng cường quan hệ mật thiết với các nước bạn, với Liên Xô và Trung Quốc cùng các nước dân chủ nhân dân khác. Chúng ta không ngừng củng cố và phát triển tinh thần đoàn kết, hữu nghị với các nước bạn, cùng nhau gìn giữ và củng cố hoà bình</em>”.</p>
<p>Thực hiện chính sách đối ngoại đó, Đảng và Chính phủ đã cử nhiều đoàn đại biểu thăm hữu nghị các nước XHCN anh em. Đặc biệt, tháng 6/1955 và tháng 7/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta đi thăm chính thức Liên Xô và các nước XHCN khác. Ngày 15/4/1955, Đoàn đại biểu Chính phủ do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang Băngđung (Inđônêxia) dự Hội nghị Á – Phi lần thứ nhất. Trên diễn đàn Hội nghị, đại biểu nhiều nước đã đánh giá cao những cống hiến của nhân dân Việt Nam cho sự nghiệp đấu tranh chống ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.</p>
<p>Tháng 2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Ấn Độ, Mianma; và tháng 9/1959 thăm Inđônêxia. Trong năm 1958, Đoàn đại biểu Quốc hội do đồng chí Tôn Đức Thắng dẫn đầu đi thăm một số nước XHCN ở châu Âu và châu Á…</p>
<p>Những hoạt động ngoại giao trong giai đoạn này của Đảng và Nhà nước ta đã thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, sự hợp tác giữa nước ta với chính phủ và nhân dân nhiều nước trên khắp thế giới, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi đối với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Ngày 20/7/1959, Hội đồng Đoàn kết nhân dân Á – Phi họp ở Cairô đã kêu gọi các Uỷ ban Đoàn kết Á – Phi của các nước và toàn thể nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới lấy ngày 20/7/1959 làm “Ngày Việt Nam”, đòi Mĩ phải rút khỏi miền Nam, đòi phải phá bỏ những căn cứ quân sự của chúng ở miền Nam Việt Nam, đòi xúc tiến mở cuộc thương lượng giữa 2 miền Bắc và Nam Việt Nam để đi tới thực hiện tuyển cử tự do trong cả nước, đòi chính quyền miền Nam phải chấm dứt ngay mọi hành vi đàn áp, khủng bố nhân dân, phải huỷ bỏ tất cả những luật lệ phát xít,…</p>
<p>Ngày 20/7/1959, lần đầu tiên “Ngày Việt Nam” được các tổ chức của trên 20 nước tổ chức trọng thể. Từ đó về sau, “Ngày Việt Nam” (20/7) hàng năm được nhân dân nhiều nước trên thế giới tổ chức để ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mĩ xâm lược.</p>
<p>“Ngày Việt Nam” (20/7) là biểu hiện của tình đoàn kết thắm thiết và sự ủng hộ nhiệt liệt của nhân dân Á – Phi đối với nhân dân ta đang đấu tranh để thực hiện thống nhất đất nước. Nó càng chứng tỏ cuộc đấu tranh cho độc lập, thống nhất của nhân dân Việt Nam gắn liền với phong trào độc lập dân tộc và bảo vệ hoà bình của nhân dân các nước Á – Phi và thế giới; đồng thời, nó càng làm cho nhân dân ta tin tưởng rằng, sự nghiệp cách mạng vẻ vang của mình nhất định sẽ thắng lợi.</p>
<p><strong>III. Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ &#8211; Diệm, gìn giữ và xây dựng lực lượng tiến tới &#8220;Đồng khởi&#8221; (1954 &#8211; 1960)</strong> (4 tiết).</p>
<p><strong>1. Chế độ Mĩ &#8211; Diệm ở miền Nam Việt Nam</strong></p>
<p>Sẵn có âm mưu can thiệp vào Việt Nam từ trước, nên chỉ 1 ngày sau khi Hiệp định Giơnevơ (1954) được kí kết, Tổng thống Mĩ Aixenhao đã tuyên bố: “<em>Chính phủ Mĩ không tham gia kí thì không bị Hiệp định ràng buộc</em>”.</p>
<p>Ngày 8/8/1954, Hội đồng An ninh Quốc gia Mĩ đưa ra <span style="text-decoration:underline;">4 chính sách lớn</span>:</p>
<p><em>1) Mĩ trực tiếp viện trợ cho Nguỵ quyền Sài Gòn. Mĩ chỉ dành cho Pháp 100 triệu đô la trong tổng số 400 triệu đô la viện trợ.</em></p>
<p><em>2) Mĩ trực tiếp chỉ huy và huấn luyện quân đội Nguỵ.</em></p>
<p><em>3) Pháp phải rút hết quân khỏi miền Nam.</em></p>
<p><em>4) Loại bỏ Bảo Đại và những ảnh hưởng của Pháp.</em></p>
<p>Tiếp theo, tháng 11/1954, Mĩ cử Tướng Côlin (Lawton Collins), Quyền Tham mưu trưởng Lục quân Mĩ và đại diện Mĩ ở Uỷ ban Quân sự khối NATO, sang miền Nam Việt Nam làm đại sứ. Ngày 17/11/1954, Côlin đến Sài Gòn mang theo một <span style="text-decoration:underline;">kế hoạch chiến lược gồm 6 biện pháp khẩn cấp</span>:</p>
<p><em>1) Chỉ ủng hộ Ngô Đình Diệm và việnt trợ thẳng cho Diệm, không qua Pháp.</em></p>
<p><em>2) Thành lập Quân đội “Quốc gia” cho Diệm (15 vạn) do Mĩ huấn luyện và cung cấp vũ khí.</em></p>
<p><em>3) Lập “Quốc hội”, thực hiện “độc lập”.</em></p>
<p><em>4) Tiến hành “Cải cách điền địa”, đẩy mạnh chính sách di cư từ miền Bắc vào miền Nam và thực hiện việc định cư cho số người miền Bắc di cư vào Nam.</em></p>
<p><em>5) Thay đổi các thứ thuế, dành ưu tiên cho hàng hoá và tư bản Mĩ vào miền Nam.</em></p>
<p><em>6) Đào tạo cán bộ hành chánh cho Diệm.</em></p>
<p>Thực hiện kế hoạch 6 điểm trên đây thực chất là biến miền Nam Việt Nam đang trong vòng kiểm soát của Pháp trở thành một miền Nam Việt Nam lệ thuộc hoàn toàn vào Mĩ trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá…</p>
<p><strong><span style="text-decoration:underline;">a) Về chính trị:</span></strong></p>
<p>Được Mĩ viện trợ, giúp sức điều hành, nhưng những tháng cuối năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn bị uy hiếp từ nhiều phía.</p>
<p>Các thế lực thân Pháp trong hàng ngũ sĩ quan quân đội Liên hiệp Pháp tập hợp quanh tướng Nguyễn Văn Hinh, Tham mưu trưởng Nguỵ quân, ra sức chống Diệm. Tháng 10 &amp; 11/1954, Nguyễn Văn Hinh đã 3 lần âm mưu gạt Diệm, Mĩ phải ép Pháp thông qua Bảo Đại đưa Hinh sang Pháp.</p>
<p>Các giáo phái có LLVT riêng do Pháp xây dựng để chống lại cách mạng.. Mỗi giáo phái cát cứ ở một địa phương cả về chính trị và kinh tế. Phái Bình Xuyên có khoảng 4.000 quân (kể cả lực lượng cảnh sát, công an ở Sài Gòn) hoạt động ở miền Đông do Bảy Viễn làm thủ lĩnh. Lực lượng Hoà Hảo có khoảng 25.000 quân, hoạt động ở một số tỉnh miền Trung và miền Tây Nam Bộ, chia thành 4 nhóm do Năm Lửa, Hai Ngoán, Ba Cụt và Nguyễn Giác Ngộ nắm từng nhóm. Phái Cao Đài có khoảng 6.000 quân, hoạt động chủ yếu ở Tây Ninh và một số tỉnh Nam Bộ, đứng đầu là Giáo chủ Phạm Công Tắc. Tất cả các lực lượng này được Pháp ủng hộ, tìm cách móc nối với quân Nguỵ thân Pháp để lật đổ Diệm.</p>
<p>Mặt khác, lực lượng cách mạng đang tồn tại ở khắp các địa phương trên toàn miền Nam, nhất là ở các tỉnh vùng tự do Khu V (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên), các khu căn cứ kháng chiến U Minh, Đồng Tháp Mười, chiến khu Đ, chiến khu Dương Minh Châu, Tây Nguyên. Đây là lực lượng chủ yếu đe doạ đến sự sống còn của chính quyền Mĩ &#8211; Diệm ở miền Nam.</p>
<p>Để đối phó với tình hình trên, ngay khi đến Nam Việt Nam, Côlin đã đôn đốc chính quyền Ngô Đình Diệm khẩn trương thực hiện kế hoạch của Mĩ. Sử dụng sức mạnh của chủ nợ đối với con nợ (từ 1950 – 1954, Mĩ viện trợ cho Pháp 2,6 tỷ đô la, biến Pháp thành con nợ của Mĩ), Mĩ buộc Pháp phải nhượng bộ nhanh chóng các yêu cầu của Mĩ, như rút Cao uỷ Pháp về nước, trao chủ quyền cho chính phủ Ngô Đình Diệm, để Mĩ viện trợ thẳng cho Diệm không qua Pháp, Mĩ trực tiếp huấn luyện và trang bị cho nguỵ quân.v.v.</p>
<p>Trước sức ép của Mĩ, ngày 2/12/1954, Pháp đã phải kí với Mĩ một Hiệp ước về việc rút quân Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam, và ngày 10/12, tướng Pháp Pôn-Êly (Paul Ely), Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương thay mặt cho Chính phủ Pháp kí với tướng Côlin thay mặt Chính phủ Mĩ một Hiệp ước cam kết cùng lo việc huấn luyện cho quân nguỵ. Nhưng trên thực tế, Êly chẳng có thực quyền, người chịu trách nhiệm thực hiện Hiệp ước là tướng Ô Đanien, Trưởng phái đoàn viện trợ Mĩ (MAAG).</p>
<p>Ngày 22/12/1954, Rátpho, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân Mĩ đến Sài Gòn hứa viện trợ thẳng cho Diệm 300 triệu đô la trong năm 1955. Ngày 13/1/1955, Ngô Đình Diệm gửi Công hàm cho tướng Côlin yêu cầu từ nay Hoa Kỳ “<em>đảm trách hoàn toàn vấn đề tổ chức và huấn luyện quân đội Việt Nam</em>”. Tiếp theo, ngày 12/2/1955, trong một cuộc họp báo, Ngô Đình Diệm tuyên bố “<em>từ nay trở đi chỉ có tướng Mĩ Ô Đanien là người chịu trách nhiệm huấn luyện cho các lực lượng quân đội</em>”.</p>
<p>Ngày 14/4/1956, Pháp gửi Công hàm cho 2 Chủ tịch Hội nghị Giơnevơ (Liên Xô và Anh) thông báo cho biết quân Pháp sẽ rút khỏi Việt Nam và kể từ ngày 28/4/1956 Pháp không còn chịu trách nhiệm thi hành Hiệp định Giơnevơ (1954) nữa. Cuối tháng 4/1956, đơn vị cuối cùng của quân đội thực dân Pháp đã rút khỏi miền Nam. Như vậy, đến đây Pháp đã trút bỏ trách nhiệm một bên phải thực hiện các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương.</p>
<p>Cuộc rút quân trên đây của Pháp đã mở đường cho chính quyền Ngô Đình Diệm thanh toán các thế lực thân Pháp ra khỏi bộ máy chính quyền các cấp, tiêu diệt các LLVT giáo phái thân Pháp, tiến tới thiết lập chế độ độc tài, phát xít, gia đình trị.</p>
<p>Để phát triển thế lực của mình, từ cuối năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm đẩy mạnh xây dựng các tổ chức chính trị phản động. <span style="text-decoration:underline;">Đảng Cần lao Nhân vị</span> do Ngô Đình Nhu cầm đầu, có nhiệm vụ làm đội quân chủ lực cho chế độ. Lúc đầu, Ngô Đình Nhu chủ trương lấy tín đồ Thiên Chúa giáo làm nòng cốt. Tuy vậy, người các tôn giáo khác vẫn được kết nạp vào đảng. Từ cuối năm 1957, sau khi tạm thời vượt qua những khó khăn buổi đầu, chế độ “dường như” đã vững mạnh, Ngô Đình Nhu chủ trương phải có một đội quân thuần nhất, hoàn toàn trung kiên với chế độ để đối đầu với lực lượng cách mạng, Đảng Cần lao biến thành Đảng “Cần lao Thiên Chúa giáo”, lấy tôn giáo làm yếu tố ưu tiên và độc nhất cho mọi chính sách nhân sự, nên đảng viên hầu hết là tín đồ Thiên Chúa giáo. Người vào Đảng phải tuyên thệ “<em>đem hết thể xác và linh hồn cho đến hơi thở cuối cùng để chiến đấu chống cộng sản vô thần, chống Phật giáo ma quỷ, chống các đảng phái quốc gia</em>”. Kẻ có chân trong đảng Cần lao là thể hiện sự trung thành với chế độ, được chế độ tin tưởng và cất nhắc: “<em>Cần lao là con đường duy nhất để đưa người Công giáo, và chỉ người Công giáo mà thôi, vào chính quyền</em>”. Do vậy, bộ máy cai trị của chính quyền Ngô Đình Diệm thể hiện tính chất “giáo trị” một chiều hết sức cao độ. Hầu hết những chức vụ chủ chốt từ trung ương xuống tỉnh, quận đều nằm trong tay thiểu số Cần lao Thiên Chúa giáo.</p>
<p>Cũng vào cuối năm 1954, Diệm thành lập tổ chức “<span style="text-decoration:underline;">Phong trào cách mạng quốc gia</span>” do Trần Chánh Thành, tay chân thân tín của Diệm, cầm đầu. Tổ chức này nêu 3 mục tiêu: chống Cộng (<em>thực chất là chống nhân dân</em>); đả Thực (<em>thực chất là gạt Pháp để Mĩ độc chiếm miền Nam</em>); bài Phong (<em>thực chất là phế truất Bảo Đại khỏi ngôi Quốc trưởng để cho Diệm thâu tóm quyền lực</em>).</p>
<p>Song song với việc xây dựng chính quyền TW, Mĩ &#8211; Diệm ra sức củng cố chính quyền xã, thôn (ấp) bằng cách bổ nhiệm những người thuộc phe cánh Diệm làm xã trưởng, ấp trưởng. Đi ngược lại truyền thống dân chủ vốn có của làng xã Việt Nam, Mĩ &#8211; Diệm <span style="text-decoration:underline;">bãi bỏ các Hội đồng dân cử</span>, thay vào đó bằng <span style="text-decoration:underline;">chế độ “chỉ định”</span>. Do “chế độ chỉ định”, nên bộ máy chính quyền thôn, xã ra sức bạo hành, ức hiếp lương dân. Chính những người trong bộ máy chính quyền Ngô Đình Diệm cũng phải thừa nhận rằng: “<em>Một trong những khuyết điểm lớn nhất của Diệm trong năm 1956 là việc các viên chức làng xã được bầu cử đã bị chính quyền trung ương thay thế một cách độc đoán bằng những kẻ tay sai được chỉ định</em>”.</p>
<p>Cùng với bộ máy cai trị từ trung ương xuống xã, thôn, Mĩ &#8211; Diệm lập các tổ chức quần chúng trá hình như “Thanh niên cộng hoà”, “Phụ nữ liên đới”, “Liên gia tương trợ”, “Nhân dân tự vệ đoàn”, “Ngũ liên gia bảo” để kìm kẹp nhân dân.</p>
<p>Song song với việc xây dựng bộ máy chính quyền bất hợp pháp ở miền Nam, ngay từ khi Hiệp định Giơnevơ kí chưa ráo mực, Mĩ &#8211; Diệm đã nhiều tuyên bố không thừa nhận Hiệp định này. Ngày 28/2/1955, Đài Sài Gòn lên tiếng: “<em>Trong thực tế, không thể nào có cuộc Tổng tuyển cử năm 1956</em>”. Ngày 6/7/1955, Phó Tổng thống Mĩ Ních-xơn nói: “<em>Mĩ hoàn toàn ủng hộ chủ trương của chính phủ Diệm không tham gia tổng tuyển cử thống nhất đất nước</em>”.</p>
<p>Mĩ khuyến khích, ngày 16/7/1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố: “<em>Không gạt bỏ nguyên tắc tuyển cử, coi như một phương tiện dân chủ cộng hoà thích đáng để thực hiện nền thống nhất</em>”, nhưng mặt khác lại cho rằng: “<em>Không có hiệp thương tổng tuyển cử, chúng ta không kí kết hiệp định Giơnevơ, bất cứ phương diện nào chúng ta cũng không bị ràng buộc bởi hiệp định đó</em>”. Ngày 20/7/1955, Diệm còn cho tay chân tập trung bọn lưu manh bày trò biểu tình chống hiệp định Giơnevơ và đập phá trụ sở Uỷ ban Quốc tế ở Sài Gòn.</p>
<p>Để hợp pháp hoá chế độ Sài Gòn, ngày <span style="text-decoration:underline;">23/10/1955</span>, Mĩ &#8211; Diệm bày trò “<em>trưng cầu dân ý</em>”, phế truất Bảo Đại, suy tôn Ngô Đình Diệm làm Tổng thống. Tiếp theo, ngày <span style="text-decoration:underline;">4/3/1956</span>, Diệm tổ chức bầu cử Quốc hội riêng rẽ. Đến ngày 26/10/1956 thì ban hành Hiến pháp, lập nền “<em>Cộng hoà Đệ nhất</em>”.</p>
<p><strong><span style="text-decoration:underline;">b) Về quân sự:</span></strong></p>
<p>Mĩ &#8211; Diệm dồn sức lập một đội quân làm công cụ để ổn định tình hình. Trong 6 tháng đầu năm 1955, Mĩ đã kí một loạt Hiệp định quân sự với chính quyền Ngô Đình Diệm.</p>
<p>Dựa vào các Hiệp định này, Mĩ không ngừng đưa nhân viên, cố vấn quân sự vào miền Nam Việt Nam. Ngoài phái đoàn viện trợ quân sự Mĩ (MAAG – Military Assistance Advisory Group), còn có phái đoàn tổ chức, huấn luyện, kiểm tra, phái đoàn huấn luyện và tác chiến. Đầu năm 1955, Mĩ &#8211; Diệm giải ngũ nhiều sĩ quan thân Pháp, dành 2/3 số tiền viện trợ cho quân sự, gấp rút cải tổ đạo quân Nguỵ hỗn tạp mang nặng tư tưởng chiến bại do Pháp để lại thành lập một “quân đội quốc gia”. Đến tháng 6/1956, Mĩ &#8211; Diệm đã hoàn tất xong việc xây dựng.</p>
<p>Về lục quân, gồm 10 sư đoàn, 13 trung đoàn địa phương, 5 trung đoàn giáo phái, 1 trung đoàn dù. Pháo binh có 7 tiểu đoàn và 9 đại đội. Cơ giới có 5 trung đoàn (trong đó 1 trung đoàn xe lội nước). Công binh có 6 tiểu đoàn, 14 đại đội. Vận tải có 12 đại đội.</p>
<p>Không quân, lực lượng máy bay chiến đấu có 100 chiếc; dự trữ có 132 chiếc. Các căn cứ không quân Pháp đã chuyển giao cho chính quyền Sài Gòn được sửa chữa, thiết bị đầy đủ hơn. Bốn căn cứ Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất, Phú Bài và Nha Trang, máy bay phản lực F84, F86 lên xuống được. 58 sân bay loại nhỏ dành cho máy bay Dakota phần lớn hư hỏng đang sửa chữa lại. Mĩ còn xây dựng tại miền Nam Việt Nam một hệ thống viễn thông để điều khiển các hoạt động của không quân Mĩ giữa miền Nam Việt Nam, Philippin và Thái Lan.</p>
<p>Hải quân, gồm 2 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến, 4 đại đội không quân trợ chiến, 1 đại đội biệt kích hải quân, 121 tàu chiến đấu trên sông trọng tải 5.130 tấn, 25 tàu hải quân trên biển trọng tải 7.795 tấn, 95 tàu của lực lượng ở các căn cứ trọng tải 2.680 tấn. Các căn cứ hải quân cũ được tổ chức lại thành 4 hải khu. Các quân cảng Nhà Bè, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang…được mở rộng và nâng cấp với trang thiết bị hiện đại.</p>
<p>Lực lượng bảo an đoàn được tăng cường lên tới 60.000 tên. Mỗi quận có 1 đại đội, quận lớn có 2 đại đội.</p>
<p>Các đơn vị dân vệ và phòng vệ dân sự được tổ chức ở hầu khắp các liên xã; cứ 12.000 dân có 1 đội dân vệ từ 20 – 25 người, được trang bị súng trường và lựu đạn.</p>
<p>Công an, cảnh sát cũng được xây dựng thành lực lượng công khai và bí mật từ tỉnh, thành đến quận, phường, xã, thôn. Riêng Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn tăng từ 6.000 lên 10.000 cảnh sát.</p>
<p>Mĩ tăng cường phái đoàn MAAG, đưa cố vấn xuống nắm các quân khu, sư đoàn và binh chủng. Các loại vũ khí và dụng cụ chiến tranh do Mĩ đưa vào miền Nam ngày càng nhiều. Nếu tính thành giá trị, từ năm 1955 – 1960, tổng số vũ khí và phương tiện chiến tranh do Mĩ đưa vào miền Nam là 1,5 tỷ đô la. Từ chỗ gần như không có gì, đến 1960, chính quyền Ngô Đình Diệm có trong tay khoảng 250 máy bay các loại, 250 tàu chiến trọng tải cỡ 20.000 tấn, 600 xe bọc thép, 100 xe tăng…</p>
<p>Song song với việc xây dựng Nguỵ quân, gạt bỏ các thế lực thân Pháp, Mĩ &#8211; Diệm dùng lực lượng quân sự tiêu diệt các LLVT giáo phái thân Pháp để loại trừ khả năng chống đối, thống nhất quân đội dưới quyền chỉ huy của anh em Diệm.</p>
<p>Ngày 26/4/1955, Diệm cách chức Lại Văn Sang (phái Bình Xuyên) Tổng giám đốc cảnh sát và công an Sài Gòn, bãi bỏ độc quyền của Bình Xuyên trong thu thuế tại sòng bạc “Đại Thế giới”. Ngày 28/4/1955, lấy cớ Bình Xuyên chống lệnh, Diệm cho quân tấn công. Chiến sự nổ ra ngay tại trung tâm Sài Gòn. Ngày 30/4/1955, quân Diệm tiếp tục tiến công, quân Bình Xuyên phải rút ra khỏi Sài Gòn, lui về Rừng Sác. Ngày 21/9/1955, Diệm mở chiến dịch “Hoàng Diệu” bao vây và tấn công vào khu Rừng Sác. Đến ngày 24/10/1955, phái Bình Xuyên bị tiêu diệt. Bảy Viễn chạy trốn ra nước ngoài. Nguy cơ đe doạ trực tiếp đối với chính quyền Diệm ở Sài Gòn bị đẩy lùi.</p>
<p>Cùng lúc với tấn công Bình Xuyên, ngày 20/5/1955, Diệm mở chiến dịch “Đinh Tiên Hoàng” đánh vào quân đội Hoà Hảo, kéo dài đến tháng 12/1955, nhưng đại bộ phận vùng căn cứ Đồng Tháp Mười, quân Diệm không sao kiểm soát được. Ngày 1/11/1956, Diệm huy động một lực lượng lớn (4 sư đoàn bộ binh, 6 chi đoàn thiết giáp, 5 tiểu đoàn pháo binh, 4 hải đoàn xung phong, 1 tiểu đoàn nhảy dù) do Dương Văn Minh chỉ huy, mở chiến dịch “Nguyễn Huệ” nhằm thanh toán bằng được quân Hoà Hảo. Lực lượng Hoà Hảo đánh trả quyết liệt, nhưng do nội bộ mâu thuẫn, chia rẽ, nên bị tiêu hao dần. Ngày 17/2/1956, Năm Lửa đưa 4.000 quân ra đầu hàng Diệm. Riêng Ba Cụt, ngày 13/4/1956, bị Diệm đánh lừa, bắt sống và bị chém đầu. Đến đây, quân đội Hoà Hảo xem như đã tan rã.</p>
<p>Khi Diệm tấn công Bình Xuyên và Hoà Hảo, phái Cao Đài chủ trương án binh bất động để chờ thời. Tháng 10/1955, Mĩ &#8211; Diệm dùng thủ đoàn chia rẽ nội bộ phái này để phá bỏ bộ máy hành chính của Cao Đài, uy hiếp Toà thánh Tây Ninh. Lực lượng Cao Đài phải chống lại bằng hoạt động vũ trang. Nhưng vì nội bộ bị phân hoá, hành động không thống nhất, nên đến tháng 6/1956, đại bộ phận Cao Đài bị tiêu diệt và ra đầu hàng Diệm.</p>
<p>Ở Trung Bộ, lực lượng Quốc dân Đảng hoạt động tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định; lực lượng Đại Việt hoạt động tại Quảng Trị, Thừa Thiên. Cả hai đều là lực lượng chống lại cách mạng, nhưng cũng chống Diệm để mặc cả địa vị với Diệm. Từ tháng 9/1955 – 1/1956, chúng bị lực lượng của Diệm liên tiếp tấn công, bao vây, triệt tiêu tiếp tế, nên đã bị tan rã và lần lượt đầu hàng Diệm.</p>
<p><strong><span style="text-decoration:underline;">c/ Chính sách khủng bố của Mĩ &#8211; Diệm:</span></strong></p>
<p>Với Mĩ &#8211; Diệm, lực lượng cách mạng của nhân dân miền Nam là mối hiểm hoạ cơ bản nhất đối với chế độ của chúng. Vì vậy, ngay khi vừa lên cầm quyền ở miền Nam, Ngô Đình Diệm đã cho tay chân tổ chức các cuộc vây bắt, tàn sát, khủng bố hết sức ác liệt những người kháng chiến cũ, những người đấu tranh đòi hiệp thương, tổng tuyển cử, thống nhất đất nước và cả những người không ủng hộ Diệm.</p>
<p>Lợi dụng lúc Quân đội nhân dân Việt Nam rút khỏi các vị trí đóng quân, các vùng tự do cũ về nơi tập kết, địch tiến hành đánh phá ngay, hòng gây không khí khủng khiếp trong nhân dân, làm cho hàng ngũ đảng viên và quần chúng bị rối loạn. Với phương châm “tiêu diệt cộng sản không thương tiếc”, “tiêu diệt cộng sản tận gốc”, “thà giết lầm hơn bỏ sót”.v.v. Mĩ &#8211; Diệm đã gây ra hàng loạt vụ tàn sát bằng những hình thức giết người man rợ thời trung cổ, kết hợp với những phương pháp tra tấn, cực hình hiện đại, hòng bóp chết tinh thần yêu nước, tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam. Ngày 2/8/1954, địch đã gây ra vụ tàn sát ở Kim Đôi (Thừa Thiên) làm 17 người chết, 67 người bị thương; ngày 4/9/1954 ở Chợ Được (Quảng Nam) địch giết 39 người và làm bị thương 37 người; ngày 7/9/1954 ở Ngân Sơn – Chí Thạnh (Phú Yên) chúng giết 80 người, làm 50 người bị thương; ngày 13/9/1954 ở Mỏ Cày (Bến Tre) địch giết chế 17 người, làm bị thương 500 người; ngày 23 – 29/9/1954 ở Hà Nật – Chiên Đàn – Cây Cốc (Quảng Nam) địch giết 105 người, làm bị thương 186 người; ngày 25/10/1954 tại Vinh Xuân (Cần Thơ) chúng giết 54 người, làm bị thương 19 người; đêm 21/1/1955 bọn Quốc dân Đảng ở Duy Xuyên (Quảng Nam) câu kết với tay chân Diệm đến nhà lao Hội An bắt 38 đồng chí của ta chở đến đập Vĩnh Trinh giết chết rồi ném xuống vực. Dã man hơn, từ ngày 9 – 20/7/1955, địch bao vây và tàn sát nhân dân Hướng Điền (Quảng Trị) giết 92 người, trong đó có 31 trẻ em; và nhất là vụ đầu độc một lúc 6.000 người yêu nước ở nhà giam Phú Lợi (Thủ Dầu Một) ngày 1/12/1958.v.v. Đó chính là những bằng chứng tố cáo tính chất tàn bạo của chế độ Mĩ &#8211; Diệm ngay khi vừa mới lên cầm quyền ở miền Nam Việt Nam.</p>
<p>Từ giữa năm 1955, tập đoàn Ngô Đình Diệm mở chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” trên toàn miền Nam và coi đây là “quốc sách”. Mở đầu cho chiến dịch “tố cộng”, ngày 12/5/1955, chính quyền Sài Gòn tổ chức “<em>Đại hội tố cộng toàn quốc</em>” dưới sự chủ toạ của Ngô Đình Diệm, nhằm cổ vũ, hô hào tay chân đi vào con đường khủng bố nhân dân. Diệm và tay chân cho rằng “<em>phong trào tố cộng là một vũ khí sắc bén nhất, màu nhiệm nhất, để tiêu diệt chiến tuyến cộng sản… Có thành công trong việc tố cáo tội ác của cộng sản…mới làm cho toàn dân ghê sợ cộng sản, căm hờn cộng sản, và mới làm cho một số người lừng khừng quyết tâm ruồng bỏ mọi tư tưởng sai lầm, không đứng núi nọ nhìn núi kia nữa, để họ có thể sẵn sàng ngả theo chiến tuyến quốc gia</em>”.</p>
<p>Mục đích của chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của Mĩ &#8211; Diệm là cốt nhằm “gây uất hận trong dân chúng đối với Việt cộng:</p>
<p>a) Để cho nhân dân tố giác Việt cộng ở lại hoạt động.</p>
<p>b) Khủng bố tinh thần Việt cộng làm cho Việt cộng nghi ngờ quần chúng mà không dám hoạt động nữa.</p>
<p>c) Đánh lệch tư tưởng các phần tử lừng chừng còn hướng về cộng sản phải ngả hẳn về chính phủ quốc gia.</p>
<p>d) Thêm phương tiện để kiểm soát cán bộ cộng sản còn ở lại hoạt động trong vùng quốc gia kiểm soát”.</p>
<p>Để thực hiện quốc sách “tố cộng, diệt cộng”, một mặt chính quyền Ngô Đình Diệm kiện toàn bộ máy đàn áp, “Tổng uỷ công dân vụ” được thành lập tháng 3/1955, ngày càng được tăng cường và chuyên lo việc đàn áp chính trị với gần 4.000 tên mật vụ, 9.000 tên mật hộ viên, 12.000 liên gia trưởng. Một hệ thống tổ chức “tố cộng” từ trung ương xuống tận các xã thôn. Ở Sài Gòn, lập Hội đồng nhân dân chỉ đạo tố cộng, gồm tất cả các Bộ trưởng trong chính phủ do đích thân Ngô Đình Diệm làm Chủ tịch danh dự và Trần Chánh Thành làm Chủ tịch Hội đồng. Hội đồng chỉ định ra Uỷ ban chỉ đạo tố cộng trung ương, có ban thường trực gồm đại diện của các Bộ Thông tin, Công an, Quốc phòng. Nhiệm vụ của Uỷ ban chỉ đạo này là trực tiếp chỉ đạo phong trào tố cộng ở các tỉnh, các cơ quan; đào tạo cán bộ phong trào. Uỷ ban có nhiều ban giúp việc.</p>
<p>Mỗi tỉnh có một Uỷ ban chỉ đạo tố cộng. Mỗi Bộ có một Uỷ ban chỉ đạo dọc xuống các cơ quan thuộc bộ mình. Thành phần ban chỉ đạo giống như ở trung ương, còn ở các cơ quan thì gồm đại biểu cơ quan và liên đoàn công chức của Phong trào cách mạng quốc gia. Huyện, xã đều có Uỷ ban chỉ đạo tố cộng của huyện, xã mình. Mỗi xã, thôn lại chia ra làm nhiều liên gia tố cộng.</p>
<p>Trong năm 1955, dưới nhãn hiệu “Phái bộ đại học đường Michigan”, các cố vấn Mĩ đến miền Nam giúp Diệm xây dựng bộ máy công an, cảnh sát, đào tạo cán bộ, phổ biến kỹ thuật điều tra và tra tấn, thành lập một hệ thống điều tra lí lịch tối tân.</p>
<p>Mặt khác, để có cơ sở pháp lí cho chính sách khủng bố, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành các luật lệ phát xít, trong đó có Dụ số 6 (11/1/1955) về việc lập các trại tập trung, giam giữ những người gọi là “nguy hiểm cho quốc phòng và an ninh”; Dụ số 13 (20/2/1956) bóp nghẹt quyền tự do báo chí.</p>
<p>Từ tháng 5 đến tháng 6/1955, Mĩ &#8211; Diệm phát động “chiến dịch tố cộng giai đoạn I” trên quy mô lớn toàn miền Nam. Địch chia giai đoạn I tố cộng ra làm 3 giai đoạn: đợt 1 từ 15/5/ đến cuối tháng 8/1955, trọng điểm là các tỉnh miền Trung; đợt 2 từ tháng 9 – 11/1955, trọng điểm tiến hành là trong nội bộ các cơ quan Nguỵ quyền; đợt 3 từ 15/11/1955 đến tháng 5/1956 làm rộng rãi ở các tỉnh để triệt hạ uy thế chính trị của cộng sản và thanh trừng số cán bộ cầu an của chúng ở xã.</p>
<p>Ở mỗi đợt gồm nhiều bước, có điều chỉnh, rút kinh nghiệm. Kế hoạch “tố cộng” của địch lúc đầu đánh trên diện rộng, sau đánh vào chiều sâu, đánh cả nông thôn và thành thị. Mục tiêu của chúng là tập trung vào những nơi có phong trào cách mạng mạnh trong kháng chiến chống Pháp. Thực hiện được như vậy, Mĩ &#8211; Diệm sẽ củng cố được thế lực, đẩy mạnh những hoạt động phá hoại hoà bình, dập tắt được phong trào đấu tranh của nhân dân đòi hiệp thương, tổng tuyển cử.          Phương châm hoạt động của địch là: “Tất cả phục vụ cho chiến dịch tố cộng”. Địch chia nhân dân ra làm 3 loại: loại cán bộ và đảng viên cộng sản; loại gia đình có người đi tập kết; loại nhân dân nói chung. Tuỳ theo đối tượng mà địch tổ chức “tố cộng” có mức độ khác nhau.</p>
<p>Cùng với việc tổ chức học tập, địch tiến hành điều tra nắm tình hình, gây cơ sở gián điệp, tìm nòng cốt trong địa chủ, cường hào, thành phần bất mãn, phản động ở từng địa phương cho học tập trước rồi giao nhiệm vụ phân loại nhân dân. Chính thành phần này sau học tập nắm giữ những chức vụ chủ chốt trong bộ máy chính quyền, công an địa phương và là những kẻ xung kích đàn áp, khủng bố nhân dân trong các chiến dịch “tố cộng” của địch.</p>
<p>Sau khi học tập, địch bắt mọi người phải tố giác cộng sản. “Không tố giác là phản quốc”. Địch phát phiếu cho từng gia đình bắt kê khai những người cách mạng, yêu nước, rồi bắt tất cả những người bị phát giác hoặc tình nghi viết kiểm thảo (tẩy não), kê khai lí lịch, li khai Đảng, xé cờ Đảng và ảnh lãnh tụ, viết cáo trạng tố cáo cộng sản.</p>
<p>Ở Nam Bộ, địch lấy Chợ Lớn làm thí điểm “tố cộng”, rồi triển khai ra khắp miền. Chiến dịch “tố cộng” ở đây được chia làm 2 bước:</p>
<p>Bước 1, chuẩn bị, địch tiến hành đổi thẻ căn cước, nắm lại dân và chia dân ra làm ba loại (loại A là loại công dân bất hợp pháp gồm cán bộ, đảng viên và những người kháng chiến cũ; loại B là loại công dân nửa hợp pháp gồm những gia đình có người đi tập kết, có liên quan đến những người kháng chiến cũ; loại C gồm những người không liên quan đến cách mạng). Phương châm khủng bố của địch là dựa vào loại C, đánh vào loại A, làm cho loại B khiếp sợ và khuất phục. Sau khi đã phân loại, địch buộc những người kháng chiến cũ phải ra trình diện, nhận giấy chứng nhận “cán bộ hồi chánh”.</p>
<p>Bước 2, thực hiện, mở đầu bằng việc địch tổ chức tuyên truyền quy mô qua hệ thống thông tin đại chúng như báo chí, đài phát thanh. Tay chân Mĩ &#8211; Diệm ra sức xuyên tạc, bôi nhọ những người cộng sản, những người kháng chiến, gây tâm lí hoài nghi, không tin tưởng lẫn nhau giữa bà con làng xóm, cha mẹ, anh em trong gia đình.v.v.</p>
<p>Trong các đợt học tập “tố cộng”, địch còn sử dụng quyền lợi vật chất và địa vị để mua chuộc, dụ dỗ cán bộ ta: “Song song với thuyết phục, để có thể nắm vững được tình hình chung của khoá học, ta (chính quyền Sài Gòn) cần phải mua chuộc trong số chánh trị phạm được cải hoá, những phần tử xét ra có thể làm tai, mắt ta được, bằng những lợi ích vật chất: tiền bạc, địa vị,…”. Ngoài tuyên truyền, thuyết phục, dụ dỗ, địch tổ chức các cuộc vây ráp, khủng bố, tra tấn những người kháng chiến cũ để uy hiếp tinh thần nhân dân. Đây là biện pháp chủ yếu nhất.</p>
<p>Kết thúc giai đoạn I, địch đã thực hiện được một số ý đồ của chúng, như gây hoang mang trong nhân dân, gây nghi ngờ, sợ sệt giữa quần chúng và cán bộ. Trong bộ máy chính quyền, địch đã thanh lọc những người không theo chúng và tập hợp được lực lượng phản động nòng cốt. Đặc biệt nghiêm trọng là do địch khủng bố hết sức dã man nên một số địa phương đã có nhiều đảng viên ra đầu hàng, tự thú với địch.</p>
<p>Từ tháng 7/1956 trở đi, địch mở chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” giai đoạn II, trọng điểm là đánh vào miền Đông Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Để hợp pháp hoá chính sách “tố cộng, diệt cộng”, điều 7 Hiến pháp (26/10/1955) của “Việt Nam cộng hoà” ghi: “Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức đều trái với nguyên tắc ghi trong hiến pháp”. Phương châm của “quốc sách diệt cộng” là: “Tiêu diệt Việt cộng không thương tiếc…tiêu diệt như trong tình trạng chiến tranh, thà giết lầm chứ không bỏ sót”.</p>
<p>Ở giai đoạn này, địch điều tra rồi phân loại theo gia đình: gia đình loại A là gia đình những người kháng chiến cũ, gia đình có người tham gia tập kết, những người yêu nước, thiết tha với hoà bình, độc lập, thống nhất mà địch gọi chung là “Việt cộng” &#8211; địch coi đây là loại gia đình bất hợp pháp; loại B là những gia đình có bà con, họ hàng thân thuộc với loại A, cũng được liệt vào danh sách gia đình bất hợp pháp; loại C gồm những gia đình vây cánh hậu thuẫn cho chính quyền Ngô Đình Diệm, được ưu đãi về chính trị, kinh tế.</p>
<p>Những người thuộc gia đình loại A và B bị bắt tập trung học tập “tố cộng”. Trước hết, địch bắt mọi người học tập chính trị và liên hệ nói xấu cách mạng, nói xấu Việt cộng, coi Mĩ &#8211; Diệm là chính nghĩa, thừa nhận bọn phản quốc tay sai Mĩ là chính nghĩa quốc gia. Địch bắt mỗi người phải tự khai nhận về hoạt động của bản thân mình, tố giác các đồng chí, đồng bào và người thân của mình. Những người bị tố giác, địch bắt phải tự nhận là “Việt cộng” được cài lại để phá hoại. Những người không “nhận tội” sẽ bị tra tấn ngay tại chỗ, tại lớp học hay trong các phòng thẩm vấn và có thể bị thủ tiêu.</p>
<p>Để uy hiếp tinh thần những người bị bắt và tạo ra sự sợ hãi trong quần chúng, địch đưa một số tên đầu hàng phản bội tố cáo Đảng, xuyên tạc chủ trương, đường lối cách mạng, xé cờ Đảng và ảnh Bác Hồ, tham gia tra tấn, thẩm vấn những người bị bắt. Cách thức tra tấn của Mĩ &#8211; Diệm tàn ác không kém gì so với thời Trung cổ, như dùng đinh đóng vào các khớp xương, treo người lên xà nhà, đổ nước xà phòng, tra điện… Một biện pháp hết sức thâm độc của Mĩ &#8211; Diệm được áp dụng phổ biến trong chiến dịch “tố cộng” lần này là địch bắt mọi người “sám hối”. Người “sám hối” phải đứng hoặc quỳ lên những chồng gạch xếp cao chênh vênh, dưới đất có cắm chông sắt nhiều ngạnh, mắt nhìn thẳng vào ảnh Ngô Đình Diệm bên cạnh một ngọn đèn điện có công suất hàng trăm oát. Trong phòng “sám hối” còn có hương trầm khói xông lên ngạt thở. Người bị “sám hối” phải đứng hoặc quỳ liên tục như vậy trong nhiều giờ, nhiều người không chịu nổi đã ngất xỉu; nhiều người tê mỏi phải cựa mình liền bị tay chân Diệm đánh đập, tra tấn khiến ngã nhào bị chông đâm rách người.</p>
<p>Qua các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của Mĩ &#8211; Diệm, hàng ngàn cán bộ, đảng viên, đồng bào bị địch tra tấn, thủ tiêu, giết hại, tù đày… Tại nhà tù Côn Đảo, với hệ thống “chuồng cọp”, người bị giam hoàn toàn biệt lập với thế giới bên ngoài, thường xuyên bị đánh đập, tra tấn dã man. Chỉ trong 3 năm từ 1957 đến 1959, đã có 3.000 / 4.000 người bị chết. Nhà lao Bến Tre không những chứa 1.000 người như trước, mà thường xuyên phải chứa khoảng 3.000 người. Nhà lao Phú Lợi, người bị giam trong hầm lộ thiên, sâu khoảng 3 -4m, rộng 3m, trên mặt hầm rào bằng dây thép gai, không lợp mái, nên tù nhân phải chịu phơi mưa, nắng, sương gió suốt ngày đêm, tư thế luôn luôn phải ngồi, đứng thì chạm đầu bị thép gai đâm. Ngày 1/12/1958, tại đây, địch đầu độc một lúc 6.000 người, làm 4.000 người trúng độc, 1.000 tù nhân chết tại chỗ. Số khác, địch dùng hình thức chuyển vùng đưa đi quản thúc. Rất đông cán bộ, đảng viên từ Nam Bộ bị đưa lên Tây Nguyên quản thúc, thực chất là lao dịch khổ sai.</p>
<p>Chính sách khủng bố điên cuồng của Mĩ &#8211; Diệm đã gây cho cách mạng miền Nam nhiều tổn thất nghiêm trọng. Ở Quảng Trị, cuối 1954, sau khi thực hiện xong việc chuyển quân tập kết, số đảng viên còn lại là 8.400, phân bố khắp các địa phương trong tỉnh; cuối 1957, chỉ còn lại 306 cán bộ, đảng viên. Ở Thừa Thiên, sau khi chấn chỉnh tổ chức còn 300 đảng viên; đến 1957, ở đồng bằng còn vài chi bộ, miền núi còn lại duy nhất 1 chi bộ. Ở Liên khu V, số cán bộ, đảng viên còn lại sau tập kết bình quân mỗi tỉnh trên dưới 10.000; nhưng đến cuối 1956, đầu 1957, hầu hết các tổ chức Đảng ở Liên khu V bị tan vỡ (70% số cấp uỷ xã; 60% huyện uỷ viên; 40% tỉnh uỷ viên ở các tỉnh đồng bằng bị bắt, bị giết), nhiều huyện, nhiều xã không còn cán bộ lãnh đạo. Ở Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng, hoà bình lập lại có 35.000 đảng viên; đến cuối 1958, còn dưới 100 đồng chí hoạt động đơn tuyến. Nếu tính cả miền núi và đồng bằng, thì tỉnh khá nhất cũng chỉ còn 10 chi bộ, mỗi chi bộ có 3 đảng viên, tỉnh yếu chỉ còn 2 – 3 chi bộ.</p>
<p>Tại Nam Bộ, nhiều cơ sở bí mật ở địa phương bị thiệt hại nặng nề. Ở Trà Vinh, địch bắt 42 người, giết 3 cán bộ cơ sở của ta. Ở An Giang, địch bắt 21 cán bộ của ta, làm 13 chi bộ ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn tê liệt hoàn toàn. Ở Kiến Tường, trong 6 tháng cuối năm 1958, địch đã bắt, thủ tiêu và mang đi mất tích 132 cán bộ, đảng viên. Đặc biệt nghiêm trọng là ở Kiến Hoà, Định Tường, từ tháng 7 đến tháng 9/1958, địch đã bắt 95 người, trong đó có 2 tỉnh uỷ viên, 2 huyện uỷ viên, 13 chi uỷ viên, 20 cán bộ giao liên và 11 đảng viên cơ sở.</p>
<p>Tính đến cuối 1958, trên toàn miền Nam, Mĩ &#8211; Diệm đã giết hại 68.000 cán bộ, đảng viên; bắt giam 466.000 người; tra tấn thành thương tật 680.000 người.</p>
<p>Song song với chiến dịch “tố cộng”, Mĩ &#8211; Diệm dùng lực lượng quân đội, cảnh sát, bảo an, dân vệ càn quét, đánh phá dữ dội vùng nông thôn, khu căn cứ. Từ 24/6/1956 đến 24/2/1957, Mĩ &#8211; Diệm dùng một lực lượng quân đội lớn mở chiến dịch “Thoại Ngọc Hầu” đánh vào các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Tây và Trung Nam Bộ nhằm thanh toán LLVT cách mạng liên kết với tàn dư giáo phái Hoà Hảo đang hoạt động ở đây, qua đó chúng nhằm củng cố chính quyền nông thôn của chúng.</p>
<p>Ngày 23/3/1959, Diệm công khai tuyên bố tình trạng chiến tranh ở miền Nam và lấy cớ đó để huy động toàn bộ quân đội, cảnh sát vào các cuộc hành quân càn quét. Địch tập trung đánh vào các khu căn cứ của ta ở miền Đông Nam Bộ, Đồng Tháp Mười và U Minh. Trong năm 1959, địch mở 279 cuộc hành quân càn quét, trong đó có 12 cuộc càn với quy mô lớn từ cấp trung đoàn trở lên. Ngày 6/5/1959, Diệm ban hành Luật 10/59. Tới ngày 3/7/1959, Diệm tuyên bố “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật” và thành lập các Toàn án Quân sự đặc biệt ở Sài Gòn, Buôn Mê Thuột, Huế, đưa máy chém về địa phương để thi hành ngay tại chỗ các bản án tử hình. Chỉ trong một thời gian ngắn cuối năm 1959, Toà án Quân sự đặc biệt Sài Gòn đã lưu động trong 9 tỉnh Nam Bộ và tuyên bố 20 án tử hình, 27 án khổ sai chung thân.</p>
<p><strong><span style="text-decoration:underline;">d) Về tư tưởng, văn hoá, giáo dục:</span></strong></p>
<p>Tư tưởng bao trùm, chỉ đạo mọi hoạt động của chính quyền Ngô Đình Diệm là tư tưởng “chống cộng”. Vũ khí tư tưởng mà chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng để chống cộng, tức là chống lại nhân dân miền Nam, là chủ nghĩa “nhân vị”, một thuyết duy tâm nhằm thủ tiêu tinh thần đấu tranh của quần chúng, một thứ triết học phản động được Diệm – Nhu khai thác và sử dụng.</p>
<p>Từ năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm cho phép các linh mục giảng dạy “chủ nghĩa nhân vị” ở Đại học Văn khoa Sài Gòn. Tiếp theo, Ngô Đình Diệm cho thành lập “Trung tâm huấn luyện nhân vị” ở Vĩnh Long, đặt dưới quyền quản lí trực tiếp của Giám mục Ngô Đình Thục (anh ruột của Diệm). Ban Giám đốc và Ban Giảng huấn đều là các linh mục hoặc là tín đồ Thiên Chúa giáo. Cán bộ, viên chức Nhà nước từ Trung ương (Bộ, Tổng, Nha) xuống địa phương (tỉnh, quận) đều bị bắt buộc phải về thụ huấn tại “Trung tâm Nhân vị Vĩnh Long”, nhằm để “am tường chủ nghĩa nhân vị”. Nhưng khi về đây, họ bị bắt ép học tập giáo lí Thiên Chúa giáo và dụ dỗ hoặc mua chuộc họ vào Thiên Chúa giáo. Sau đó chủ nghĩa nhân vị được tay chân Diệm đưa xuống nông thôn thông qua các đợt chỉnh huấn, qua các lớp học tập “tố cộng, diệt cộng”. Và khi chủ nghĩa nhân vị xuống địa bàn nông thôn, nó đã gây ra không biết bao nhiêu nỗi thống khổ cho những người dân vô tội, nhất là ở các địa bàn các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Rất nhiều trường hợp bị chính quyền Ngô Đình Diệm buộc phải “<em>cải đạo</em>” sang Thiên Chúa giáo, nếu không thì đủ mọi thứ tai ương sẽ ập đến.</p>
<p>Cùng với “<em>chủ nghĩa nhân vị</em>”, Mĩ &#8211; Diệm còn tạo dựng thêm những vỏ bọc giả hiệu cho chế độ Ngô Đình Diệm, như “<em>cộng hoà</em>”, “<em>quốc gia</em>”, “<em>độc lập</em>”, “<em>quốc hội</em>”, “<em>hiến pháp</em>”…; suy tôn Ngô Đình Diệm là “<em>chí sĩ</em>”, “<em>anh minh</em>”…</p>
<p><strong>Về giáo dục</strong>, ngay từ khi chính quyền Ngô Đình Diệm vừa thành lập, cơ quan giáo dục Mĩ trực thuộc USAID (United States Agency for International Development – Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ) đã đưa ra mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của Mĩ trong việc tổ chức giáo dục miền Nam, trong đó coi “việc bình định cơ quan giáo dục, đóng góp trực tiếp vào công cuộc bình định qua các chương trình giáo dục tiểu học và giáo dục tráng niên ở Việt Nam cộng hoà” là rất quan trọng. Đường lối giáo dục của Mĩ &#8211; Diệm ở miền Nam thể hiện một số nét lớn như sau:</p>
<p><strong>- </strong>Một là, hệ tư tưởng chủ đạo trong đường lối giáo dục của Mĩ &#8211; Diệm là hệ tư tưởng duy linh, nhân vị lồng dưới những nhãn hiệu man trá: “cách mạng quốc gia”, “dân tộc tính”, “Á Đông tính”.v.v. Trong phần mở đầu của Hiến pháp năm 1956 của Việt Nam cộng hoà, chủ nghĩa nhân vị được xem như là tiêu điểm mà hầu hết các lĩnh vực quốc gia phải khuôn theo: “xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị”.</p>
<p>- Hai là, mục tiêu của Mĩ &#8211; Diệm là biến giáo dục thành một công cụ phục vụ mưu đồ xâm lược lâu dài. Tham vọng của Mĩ &#8211; Diệm đặt ra cho nền giáo dục là: “Vũ trang cho thanh niên một tinh thần quốc gia mãnh liệt, một ý chí bền bỉ đấu tranh cho tự do, dân chủ”. Song thực chất, đường lối giáo dục của Mĩ &#8211; Diệm mang nặng tính chất nô dịch, phản dân tộc. Điều này biểu hiện cụ thể như ở việc ca ngợi, tuyên truyền “lối sống Mĩ, văn minh Mĩ”; tiếng Việt bị khinh rẻ, không được sử dụng giảng dạy trong các trường đại học. Chính quyền Ngô Đình Diệm giải tán “Ban vận động dùng Việt ngữ ở bậc đại học”, và mãi cho đến cuối thời “Đệ nhất cộng hoà”, việc sử dụng tiếng nước ngoài trong giảng dạy ở bậc đại học vẫn còn tồn tại.</p>
<p>- Ba là, Mĩ &#8211; Diệm thi hành một đường lối giáo dục nhằm biến nhà trường miền Nam thành những công cụ phục vụ cho những quốc sách, như “tố cộng, diệt cộng”, “dinh điền”, “khu trù mật”, mà thực chất là góp phần vào mục tiêu tiêu diệt kháng chiến. Trần Hữu Thế, nguyên Bộ trưởng Bộ giáo dục miền Nam, năm 1958 đã phát biểu: “Nhà trường không phải là một cái tháp ngà cô lập hay một nhà máy sản xuất văn bằng. Trong xã hội mới, nhà trường là của cộng đồng, sống cho cộng đồng, do đó giáo chức không chỉ có nhiệm vụ đối với con em mà còn có nhiệm vụ đối với cộng đồng. Nghĩa là nhà trường không phải chỉ lo giáo dục con em, mà còn phải thực hiện tất cả các “quốc sách chống cộng”, “tố cộng đồng dân lập”, “khu dinh diền”, “khu trù mật”…”.</p>
<p>Đi đôi với đường lối giáo dục phản động về mặt nội dung nói trên là cả một đường lối phản động về mặt tổ chức. Một mặt, Mĩ &#8211; Diệm đặt nhà trường dưới sự kiểm soát gắt gao của tổ chức mật thám, thực hiện chính sách chia rẽ giữa học sinh – sinh viên lương và giáo, giữa học sinh Thiên Chúa giáo và Phật giáo; chia rẽ giữa học sinh di cư và học sinh quê quán ở miền Nam, giữa học sinh Kinh và Thượng, phân biệt đối xử giữa trường công và trường tư. Dưới nhiều hình thức và biện pháp khác nhau, Mĩ &#8211; Diệm cố đánh lộn sòng giữa chính nghĩa và phi nghĩa, làm cho thật hư lẫn lộn, nhất là đối với những sự kiện, nhân vật lịch sử. Chẳng hạn, chúng dựng lên việc Việt Minh cướp công các đảng phái quốc gia trong Cách mạng tháng Tám, hoặc xếp lẫn lộn những người yêu nước và những kẻ bán nước, thoả hiệp.v.v. Mặt khác, chính quyền Ngô Đình Diệm đã cấp phát cho Thiên Chúa giáo nhiều đất đai, tiền bạc để xây dựng trường học; dành cho Giáo hội Thiên Chúa giáo quyền chi phối các trường học về mặt tinh thần cốt để đảm bảo nội dung giáo dục “duy linh”, “cộng hoà”, “nhân vị”, mà thực chất là nội dung thần học theo lối kinh viện trung cổ. Dưới thời Diệm, miền Nam có 3 Viện đại học, trong đó Viện trưởng của các Viện Đại học đều là các linh mục. Hầu hết các Giáo sư Triết học đều là linh mục hoặc là tín đồ Thiên Chúa giáo. Hệ thống trường tư thục Thiên Chúa giáo từ mẫu giáo đến đại học phát triển rất nhanh chóng. “Từ năm 1953 đến 1963, Diệm cho xây dựng 145 trường cấp II và cấp III, riêng Sài Gòn có 30 trường. Với tổng số 62.324 học sinh. Trong thời gian này, Giáo hội Thiên Chúa giáo ở miền Nam, từ chỗ chỉ có 3 trường cấp II và III, đến năm 1963 đã lên tới 1.060 trường”, trong lúc đó số giáo dân không đầy 10%.</p>
<p>Phần lớn các học bổng đi học nước ngoài đều rơi vào tay các linh mục hoặc sinh viên Thiên Chúa giáo. Các tuyển chọn thầy giáo, cũng như cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên, học sinh đều xây dựng tiêu chí trên cơ sở ý thức hệ Thiên Chúa giáo.</p>
<p>Trong nhà trường, Ngô Đình Diệm bắt học sinh phải hát bài “suy tôn Ngô Tổng thống” mỗi sáng trước lúc vào học và cả sau khi tan học, ca ngợi Diệm là người “quốc gia yêu nước”, “từng lê gót nơi quê người”, tri ân và “xin Thượng Đế ban phước lành cho Người”.</p>
<p>Tới đầu những năm 60, chính quyền Ngô Đình Diệm đẩy mạnh chính sách đàn áp sinh viên, học sinh. Một mặt, từ chỗ chúng cấm sinh viên, học sinh làm chính trị, đến năm 1960, Mĩ &#8211; Diệm tăng cường hoạt động “chiến tranh tâm lý”, buộc họ phải học tập chính trị. Đài Sài Gòn, ngày 2/12/1960 giải thích: “Sinh viên, học sinh là những phần tử của xã hội, chính trị bao trùm và ảnh hưởng đến các hoạt động xã hội, dù muốn, dù không, chúng ta vẫn bị chính trị ràng buộc”. Mặt khác, Mĩ &#8211; Diệm còn đẩy mạnh việc khủng bố, chỉ trong vòng 3 tháng giữa năm 1960, đã có tới 1.000 sinh viên Sài Gòn bị bắt bớ vì lý do “an ninh công cộng”.Ngoài ra, Mĩ &#8211; Diệm cho du nhập các loại phim ảnh, báo chí đồi truỵ để đầu độc nhân dân ta, nhất là tầng lớp thanh, thiếu niên.</p>
<p><strong><span style="text-decoration:underline;">e) Về kinh tế:</span></strong></p>
<p>- Chính sách “<strong>Cải cách điền địa</strong>”:</p>
<p>Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, nông dân miền Nam đã giành cho mình nhiều quyền lợi thiết thực. Trên 650.000ha ruộng đất của thực dân, Việt gian, ruộng đất công, đã được chính quyền cách mạng chia cho nông dân nghèo. Mức địa tô trong các vùng giải phóng và du kích giảm rất nhiều, thường không quá 15%. Nông dân vùng tạm chiếm cũng theo gương đó đấu tranh đòi thực dân Pháp và tay sai phải giảm tô.</p>
<p>Sau khi giúp Diệm lên nắm chính quyền, Nhà Trắng đã cử một “Phái đoàn cố vấn về cải cách điền địa” (do Ladenginxki cầm đầu) sang Sài Gòn, đề ra “quốc sách cải cách điền địa”. Diệm cho thành lập trong bộ máy chính quyền trung ương một cơ quan có tên là “Bộ điền thổ và cải cách điền địa”. Giai đoạn thứ nhất của chương trình “cải cách điền địa” được xem là có mục đích: “cải thiện mối giao dịch giữa chủ và tá điền, khuyến khích khai thác lại ruộng đất bỏ hoang”.</p>
<p>Thực chất của việc “cải thiện mối giao dịch giữa chủ và tá điền…” là chính quyền Ngô Đình Diệm đứng về phía địa chủ phản động, không thừa nhận CCRĐ trong kháng chiến, mà muốn đưa về nguyên trạng như trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ngày 8/1/1955, chính quyền Diệm ban hành Dụ số 2, quy định: lập khế nước tá điền loại A đối với ruộng thục đang làm, trong thời hạn 5 năm, và có thể tái gia hạn; mức tô từ 15 – 25%; lập Uỷ ban Nông vụ để điều hoà quyền lợi giữa điền chủ và tá điền.</p>
<p>Nếu nông dân không chấp nhận kí khế ước là từ bỏ ruộng đất mình đã được chia. Điều đó có nghĩa là chính quyền Diệm nghiễm nhiên thừa nhận ruộng đất ấy thuộc sở hữu địa chủ, kể cả địa chủ Pháp. Tá điền không chịu kí khế ước sẽ bị trục xuất khỏi ruộng đất đó, bị coi là chống đối, có đầu óc cộng sản.</p>
<p>Dụ số 2 đã làm cho mức tô trở nên cao hơn mức tô vào cuối thời Bảo Đại (15%). Bên cạnh đó dụ này cũng không quy định tô vụ chính hay vụ phụ, cho nên nhiều nơi điền chủ bắt nông dân đóng cả 2 vụ như nhau, do đó mà mức tô thực tế tăng cao một cách phổ biến.</p>
<p>Ngày 9/2/1955, chính quyền Diệm ban hành Dụ số 7, bổ sung cho Dụ số 2, quy định việc kí kết khế ước loại B đối với ruộng đất bỏ hoang trong trường hợp địa chủ có mặt. Thời hạn khế ước loại B là 5 năm, tá điền được miễn tô năm đầu, năm sau đóng một nửa, năm sau nữa đóng 3/4, từ năm thứ 4 trở đi phải đóng đủ. Nếu trường hợp địa chủ vắng mặt thì nông dân kí khế ước với Hội đồng hương chính. Đây là cách mà chính quyền Ngô Đình Diệm bắt nông dân nghèo miền Nam và nông dân miền Bắc di cư vào phải canh tác ruộng đất hoang của địa chủ.</p>
<p>Từ sau Hiệp định Giơnevơ (1954), khi lực lượng cách mạng tập kết chuyển quân ra Bắc, tập đoàn địa chủ phản động đã theo gót chân quân đội Sài Gòn trở về làng. Chúng dựa vào những quy định trong Dụ số 2 &amp; số 7 của chính quyền Diệm để đòi lại ruộng đất, đòi nông dân phải truy nộp tô. Khế ước tá điền của chính quyền Diệm thực chất là nhằm giành lại quyền lợi cho giai cấp địa chủ phản động, cướp lấy ruộng đất mà cách mạng đã chia cho nông dân trong kháng chiến. Chính sách ấy đã gây nên một làn sóng phản kháng mạnh mẽ đối với chính quyền Diệm trong nông thôn miền Nam. Chính báo chí Mĩ thời điểm ấy cũng phản ánh “cái nghịch lí” trong chính sách “cải cách điền địa” của Diệm. Kí giả T. Durdin đã viết trên tờ New York Time ngày 4/4/1955 rằng: “Các chuyên gia Mĩ về vấn đề ruộng đất đã thấy ở miền Nam Việt Nam một vấn đề cải cách điền địa kì lạ. Thường thì chính tá điền muốn cải cách điền địa nhiều nhất, trái lại ở miền Nam Việt Nam thì địa chủ lại là những người mong chính phủ cải cách điền địa hơn là tá điền. Sự phản ứng của địa chủ và của tá điền bắt nguồn từ chính quyền nông thôn của Việt Minh trong thời gian chiến tranh. Dưới thời Việt Minh, tá điền sử dụng ruộng đất không phải mất tiền thuê trong trường hợp địa chủ đã trốn đi, và chỉ nộp 15% thu hoạch nếu địa chủ ở lại hợp tác với Việt Minh. Còn theo luật lệ mới về ruộng đất của chính phủ Sài Gòn thì những người thuê đất của địa chủ cũng như các tá điền khác muốn có ruộng cày thì phải kí hợp đồng lĩnh canh và trả cho địa chủ từ 15 đến 25% thu hoạch. Dẫu sao người thuê ruộng đất của địa chủ cũng không hài lòng về chính sách mới đó, vì chính sách ấy đòi hỏi họ nộp nhiều địa tô hơn là số mà họ nộp dưới thời Việt Minh. Trái lại, địa chủ nói chung tán thành chính sách ấy, vì họ được bảo đảm địa tô ít nhất cũng cao hơn địa tô quy định dưới thời Việt Minh”.</p>
<p>Tiếp đó, ngày 22/10/1956, Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 57, mà theo cách nói của chính quyền Sài Gòn là đưa cuộc vận động “Cải cách điền địa” của chế độ đi vào “giai đoạn 2”. Để che giấu mục đích chính trị, điều I của dụ này viết: “Việc cải cách điền địa do dụ này thiết lập có mục đích phân chia ruộng đất cho công bằng giúp tá điền trở nên tiểu điền chủ, phát triển sản xuất nông nghiệp và hướng dẫn các đại địa chủ qua hoạt dộng kỹ nghệ”.</p>
<p>Nội dung chính của việc “phân chia ruộng đất cho công bằng…” theo Dụ số 7 đó là:</p>
<p>1) Mỗi địa chủ có quyền giữ lại 100ha, có quyền chọn thửa ruộng mình muốn giữ lại (Điều 3). Địa chủ có quyền giữ lại 15ha ruộng hương hoả (Điều 5). Ngoài ra, những diện tích ruộng đất mà địa chủ sử dụng trồng cây kỹ nghệ thì cũng có quyền giữ lại, không chịu sự chi phối của Dụ 57 (Điều 4).</p>
<p>2) Số ruộng ngoài 100 mẫu thì thì bị “truất hữu”, nhưng thực tế là chính quyền mua lại, trả 10% bằng tiền mặt, còn 90% thì trả dần bằng trái phiếu, lãi suất 3% mỗi năm, trong vòng 12 năm. Trái phiếu này có thể dùng để mua cổ phần của các công ty, xí nghiệp của chính quyền, hoặc đóng thuế, trả nợ nông tín cuộc…(Điều 21 &amp; 22).</p>
<p>3) Mọi người đàn ông, đàn bà trên 21 tuổi, hoặc đã lập gia đình (trên 18 tuổi) đều được mua đất, “ngoại trừ những nông dân lợi dụng tình thế vừa qua để ngang nhiên chiếm đất của địa chủ, đã tránh không làm khế ước hoặc không đóng địa tô hay thuế điền trong năm vừa qua và không chịu truy nạp trước ngày 31/3/1957” (Điều 11).</p>
<p>4) Nếu những nông dân được mua đất mà chưa trả đủ tiền ruộng đất hay không trả nổi số tiền này, thì đất đai sẽ bị thu hồi và sẽ không được trả lại số tiền mà họ đã góp, không kể những trừng phạt khác được quy định tại điều 27 (Điều 3).</p>
<p>Thực chất của Dụ 57 của luật “Cải cách điền địa” của chính quyền Ngô Đình Diệm là tước bỏ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân đã được chính quyền cách mạng công nhận trong kháng chiến, lấy ruộng đất ấy trả lại một phần cho địa chủ và phần còn lại thì rơi vào tay các quan chức chính quyền và quân đội của Diệm. Trong thực tế, chương trình “cải cách điền địa” mà chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành ở nông thôn miền Nam chỉ là sự lừa bịp, bởi 650.000 ha ruộng đất mà cách mạng cấp không cho nông dân trong kháng chiến thì sau hoà bình lập lại đã bị chính quyền Diệm cướp đi rồi bán lại cho họ. Phần đông địa chủ chạy trốn trước đây, giờ đã quay trở lại nông thôn bắt nông dân lập khế ước, nộp địa tô, truy thu số địa tô đã bị phía cách mạng xoá bỏ trong kháng chiến. Chương trình “cải cách điền địa” của chính quyền Ngô Đình Diệm là sự phục hồi quyền lợi cho giai cấp bóc lột ở nông thôn miền Nam.</p>
<p>Sự ra đời của Dụ số 57 là hòng xoa dịu sự phản kháng của nông dân miền Nam trước Dụ số 2 &amp; 57, tuy nhiên sự phản kháng là điều không thể không xảy ra. Báo Le Figaro (2/1961) của Pháp đã nhận xét: “Nhân dân có điều bất mãn đáng kể đối với chế độ, trước tiên là bất mãn với cải cách điền địa. So với cải cách ruộng đất của Việt Minh, thì cuộc cải cách của chính phủ (Diệm) không có gì đáng kể… Kết quả là những người địa chủ đã tản cư về Sài Gòn hồi chiến tranh, nay đã lấy lại ruộng đất và thu được tô, nông dân không thích điều đó”.</p>
<p>- Chính sách “<strong>Dinh điền</strong>”:</p>
<p>Chính sách “dinh điền” được chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện tiến hành từ năm 1957. Tháng 4/1957, Diệm thành lập “Phủ Tổng uỷ Dinh điền”, chức năng như một Bộ, đặt trực thuộc Phủ Tổng thống (Bùi Văn Lương làm Tổng trưởng; tướng Lê Văn Kim làm phụ tá; cố vấn Mĩ chỉ đạo trực tiếp là Barow). Ngày 9/5/1957, Mĩ tuyên bố viện trợ 10 triệu đô la cho công cuộc dinh điền. Quốc sách “dinh điền” của Mĩ &#8211; Diệm là nhằm vào những mục đích sau:</p>
<p>+ Một là, kế hoạch xây dựng các “khu dinh điền”, trước tiên là bắt cho được những cơ sở và những người có tinh thần đấu tranh ở những vùng có ảnh hưởng của cách mạng (nhất là các vùng tự do cũ của Liên khu V và những căn cứ cũ ở Nam Bộ) đưa đi dinh điền (chủ yếu là ở Tây Nguyên, một số khác ở Tây Nam Bộ) để xây dựng các căn cứ quân sự; đồng thời cũng là một biện pháp tập trung thành phần này lại để dễ quản chế, làm xáo trộn các cơ sở cách mạng ở địa phương, làm cho phong trào đấu tranh của nhân dân mất nòng cốt, sẽ tan rã. Ngoài ra, thành phần chủ yếu tham gia dinh điền là dân di cư miền Bắc vào, Mĩ &#8211; Diệm âm mưu dùng lực lượng này để kìm kẹp, kiểm soát bộ phận mà chúng nghi là cộng sản bị bắt đưa từ đồng bằng lên.</p>
<p>+ Hai là, lập địa điểm dinh điền là lập những chốt bán quân sự, gồm những người trung thành với Diệm, vào trung tâm những căn cứ kháng chiến cũ ở rừng núi. Báo chí Sài Gòn ủng hộ Diệm cho rằng địa điểm dinh điền là “những pháo đài tiễu Cộng”, là “những cứ điểm bao vây Việt cộng không cho chúng một mảnh đất hoang vu nào để hoạt động”. Báo “Cách mạng quốc gia” (25/4/1958) khen ngợi “đồng bào di cư tình nguyện tham gia kế hoạch dinh điền, rất xứng đáng là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận chống cộng”.</p>
<p>+ Ba là, “quốc sách dinh điền” là một bộ phận chủ yếu trong âm mưu biến miền Nam thành căn cứ quân sự của Mĩ &#8211; Diệm. “Khu dinh điền” được tiến hành khắp miền Nam, trong đó Tây Nguyên, vùng chiến lược quan trọng của toàn bộ Đông Dương được địch chú trọng đặc biệt. Rat-pho, Tổng Tham mưu trưởng của Mĩ đã tuyên bố rằng, Tây Nguyên có thể trở thành địa bàn cơ động quan trọng, lấy Plâycu làm trung tâm. Các địa điểm dinh điền là những nơi tập trung nhân lực; nhân lực là nhân tố lớn trong tiềm lực chiến tranh. Tây Nguyên càng quan trọng về chiến lược thì càng phải đưa dân lên đó. Diệm có kế hoạch đưa khoảng 1 triệu dân lên Tây Nguyên.</p>
<p>+ Bốn là, ý nghĩa kinh tế của dinh điền. Các địa điểm dinh điền là những trung tâm trồng cây công nghiệp. Nói cách khác, thông qua lập các khu dinh điền, chính quyền Ngô Đình Diệm muốn trồng một số cây công nghiệp có giá trị cao, như cao su, cà phê, chè, ki-náp, hoa quả đặc sản.v.v.</p>
<p>Để lôi kéo và dồn ép dân chúng vào các khu dinh điền, địch tổ chức học tập tài liệu về dinh điền, trong đó chúng ra sức tuyên truyền lừa gạt rằng, dinh điền là biện pháp nhằm “tăng vốn và lợi ích quốc gia, đồng thời tư hữu hoá nông dân vô sản”, “cải tiến kỹ thuật canh tác”, “điều hoà dân cư”, “chỉnh trang lãnh thổ”, “cải thiện dân sinh”.v.v. Học tập xong, nếu ai không tình nguyện thì “đem ra bình nghị, bắt đi di dân, một sự bình nghị có bố trí công khai để khủng bố nạn nhân và dân chúng”. Có trường hợp, chính quyền Ngô Đình Diệm chỉ định buộc phải đi dinh điền. Chỉ định mà không chịu đi thì bị xem là “Việt cộng”, “thân Cộng” hoặc tội “tình nghi chính trị”. Lúc đó nạn nhân “đành nghiến răng, ngậm nước mắt mà đập nhà, bán ruộng, bồng con, tróng chó ra đi, và trở thành tù nhân suốt đường đi cũng như vĩnh viễn tại nơi họ bị đưa đến” dưới sự kìm kẹp trực tiếp của những tên tay sai ác ôn.</p>
<p>Cùng với việc tiến hành lập những khu dinh điền, ở Tây Nguyên, chính quyền Ngô Đình Diệm cũng ráo riết thực hiện âm mưu dồn làng, tập trung đồng bào Thượng, thành lập nhiều “trại” dọc theo các đường giao thông chiến lược và các vùng giáp ranh giữa thượng du và trung du, mục đích là để kiểm soát, khống chế, với âm mưu tách đồng bào Thượng ra khỏi ảnh hưởng của cách mạng.</p>
<p>Trong mỗi khu dinh điền được tổ chức thành nhiều liên gia, mỗi liên gia gồm 5 đến 7 gia đình. Liên gia trưởng chịu trách nhiệm điều động và kiểm soát những gia đình trong liên gia mình. Những phần tử chống đối hay bị tình nghi có liên quan với cộng sản đều bị theo dõi, bắt giam, tra tấn và thậm chí bị trục xuất ra khỏi liên gia.</p>
<p>Đến cuối năm 1958, đầu năm 1959, trên toàn miền Nam, địch đã lập được 84 khu dinh điền, khai phá được 12.322 ha đất canh tác, bắt 128.374 người vào các khu dinh điền, trong đó có 90.346 người là dân di cư.</p>
<p>- Chính sách “<strong>khu trù mật</strong>”:</p>
<p>Như trên đã nêu, hầu hết nhân dân bị dồn ép, cưỡng bức vào các khu dinh điền không chịu nổi cuộc sống ở vùng xa xôi, hẻo lánh, nhất là sự o ép, bóc lột kinh tế, truy bức tinh thần căng thẳng, nên đến cuối năm 1958 số người bỏ trốn khỏi các khu dinh điền mỗi ngày một tăng. Trong lúc đó, phong trào cách mạng miền Nam đã từng bước phát triển, đặc biệt là phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nông dân. Tình hình này khiến Mĩ &#8211; Diệm nghĩ đến một chính sách mới, có tính chất táo bạo hơn, lâu dài hơn, có thể kết hợp được sự đàn áp bằng bạo lực với sự lừa phỉnh về xã hội và kinh tế, nhằm “bình định” nông thôn, khống chế nhân dân, cô lập phong trào cách mạng ngay ở địa bàn cơ sở. Ngày 7/7/1959, Ngô Đình Diệm phát lệnh lập “khu trù mật”: “Năm nay, tôi đề ra công tác lập khu trù mật tại thôn quê, ở những nơi giao thông tiện lợi, hợp vệ sinh, có những tiện nghi tối thiểu để tập hợp những nông dân lẻ tẻ, thiếu thốn. Những khu trù mật ấy sẽ là những đơn vị kinh tế sau này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế quốc gia”.</p>
<p>Về mục tiêu của chính sách “khu trù mật”, Ngô Đình Diệm và tay chân cố đánh lừa dư luận rằng “khu trù mật” là đem lại sự thịnh vượng ở nông thôn, góp phần phát triển quốc gia. Trong diễn văn ngày 20/10/1959, Diệm giải thích việc lập khu trù mật như là “khâu tất yếu của chương trình cải tiến nông thôn khi giai đoạn đầu cách mạng, về đại cương, xem như đã thành tựu”. Báo “Cách mạng quốc gia” ngày 8/7/1959 cho rằng: “Hàng bao thế kỷ nay, cái trở ngại chính cho sự phát triển của xã hội Việt Nam, ở miền Bắc, là cái làng đóng kín cửa cổng, co mình trong luỹ tre giữa đồng ruộng; ở miền Nam, là tình trạng cư trú phân tán, ai ở vuông tre mảnh vườn ấy”. Vì vậy, “khu trù mật là thượng sách để san bằng các trở ngại phân tán kia… Có thể nói khu trù mật là một công trình cách mạng đời sống, sẽ mang lại những kết quả lạ lùng không thể lường được”.</p>
<p>Tuy Diệm và tay chân ra sức cổ vũ cho ý nghĩa kinh tế, xã hội của chính sách “khu trù mật”, nhưng cái mục tiêu chính trị &#8211; quân sự cốt lõi của nó là “bình định” cho được nông thôn miền Nam đang sục sôi căm phẫn chế độ Diệm thì không thể nào che đạy nổi. Báo “Lẽ sống” ngày 5/3/1960 nói rõ lý do chính trị của khu trù mật: “Những vùng hoang vu hẻo lánh thường là sào huyệt của Việt cộng nằm vùng và phiến loạn; quân đội đến tảo thanh thì chúng trốn lẩn, rút đi, rồi trở lại; bởi vậy, khu trù mật thiết lập ngay tại những vị trí xung yếu để cắt đứt đường giao thông liên lạc của địch, cô lập chúng, đồng thời kiểm soát mọi sự xâm nhập phá hoại…”.</p>
<p>Diệm đặt kỳ vọng rằng “khu trù mật” được xây dựng, thì tất cả các gia đình kháng chiến và tình nghi sẽ bị bao vây chặt chẽ; dựa vào các cuộc “tố cộng”, nhà cầm quyền sẽ bắt hết cán bộ cách mạng nào dám ở trong khu, còn những cán bộ ở ngoài khu, ở trong rừng, không dân, không cơm, thì khác nào “cá ra khỏi nước, cá nằm trên thớt”. Đồng thời, trên cơ sở nhân dân bị kiểm soát chặt chẽ, địch sẽ tiếp tục thực hiện việc bắt lính, bắt phu xây dựng công trình quân sự, lập đồn điền trồng cây công nghiệp khác có lợi cho xuất cảng của chúng. Trên thực tế, khu trù mật là một chương trình bổ sung cho chính sách dinh điền, một kiểu tập trung dân ở những vùng nông thôn có phong trào cách mạng mạnh mẽ và mục tiêu của nó là nhằm “bình định” nông thôn miền Nam đang sôi sục cách mạng.</p>
<p>Để lập “khu trù mật”, chính quyền Ngô Đình Diệm tại các tỉnh, trước tiên chọn một khu đất ở sát một trục giao thông có tính chiến lược, thuận tiện cho mọi cuộc can thiệp quân sự khi cần thiết; hoặc ở những vùng có phong trào nông dân mạnh, những vùng căn cứ kháng chiến cũ. Sau khi chọn được đất, địch dùng bạo lực đàn áp và dồn dân vào những nơi quy định, như dùng quân đội, công an, làng tề cưỡng bách bắt xâu, đuổi nhà, gom dân, phá vườn, thậm chí có nơi cho trâu quần vườn rẫy, kéo sập cửa nhà đồng bào. Chính tên sát nhân Ngô Đình Diệm trong một cuộc kinh lý đã trắng trợn tuyên bố: “Phá nhà, phá vườn rẫy, lấy đất ruộng, bắt xâu không bồi thường cho ai cả”.</p>
<p>Tiếp theo, địch tổ chức “ban trưng dịch” do sĩ quan Nguỵ phụ trách, lo việc hành quân càn quét các ấp, làng thuộc các quận xung quanh, gom dân đưa tới địa điểm; dân phu đi, về, ăn, ở với các phương tiện, của cải của mình, mỗi người làm 10 ngày; ai không đi thì đóng từ 5.000 đến 10.000 đồng. Việc đắp nền, đắp đường, làm rào, xây bốt canh, công sở, chợ theo một kế hoạch có sẵn. Sau đó địch bắt dân của một hoặc hai chục làng dỡ nhà vào đó mà dựng.</p>
<p>Điều cần lưu ý, “khu dinh điền” trước đó, và “khu trù mật” mà chính quyền Diệm đang tiến hành đều nhằm mục đích chống cách mạng, chống nhân dân. Nhưng “khu dinh điền”, chính quyền Ngô Đình Diệm bắt dân từ xa, từ đồng bằng lên khai khẩn ở vùng hoang vu là chính; còn “khu trù mật”, thì chính quyền Diệm dồn dân nhiều làng kế nhau về một địa điểm, được tổ chức gần như một “thị trấn” nông thôn.</p>
<p>Do yêu cầu cấp bách phải đẩy lùi cộng sản ra khỏi nông thôn miền Nam, biến nông thôn miền Nam thành pháo đài chống cộng, nên việc lập khu trù mật được Mĩ &#8211; Diệm tiến hành khẩn trương và nối tiếp nhau. Ngô Đình Diệm tuyên bố: “Xong khu trù mật này tiến tới khu trù mật khác, cứ làm, làm mãi, làm cho đến khi nào nông thôn trở nên những pháo đài kiên cố của tự do” (17/7/1960).</p>
<p>Do “lập khu mà cốt để lập công” cho nên khối lượng công việc “tăng tốc” mau chóng. Trong vòng chưa đầy 3 tháng cuối năm 1959, ở Nam Bộ, hầu hết các tỉnh, chính quyền Diệm đã khởi công xây dựng 32 “khu trù mật”. Cuối năm 1960, có 26 “khu trù mật” đã được khánh thành rầm rộ, trước sự chứng kiến của quan chức văn võ Mĩ &#8211; Diệm và nhiều báo chí tư sản nước ngoài, nhằm đưa lên “tận mây xanh” cái sáng kiến tài ba của Ngô Đình Diệm, trong đó có 11 khu trù mật đích thân Diệm đến dự lễ khánh thành, số còn lại là các quan chức cấp cao của Diệm như Bộ trưởng Bộ Lao động, Bộ trưởng Phủ Tổng thống, Đại biểu Chính phủ miền Tây Nam phần.</p>
<p>Để cưỡng bức nông dân vào khu trù mật với quy trình trên đây, địch đưa lực lượng đến ép từng gia đình dỡ nhà vào sống ở khu tập trung, nếu dân chúng có ý định chống lại thì bị lính xông vào dỡ nhà, triệt hạ các thôn ấp dồn đi. Ở Định Tường (Tiền Giang nay), ngày 2/12/1959, địch cho phá sạch trên 2.000 công vườn, phá 14.000 công lúa, dỡ 800 nhà, đào 1.500 mồ mả. Lập khu trù mật An Biên tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang nay), mà nhân dân ở đây gọi là “khu tử địa An Biên”, địch cho phá 50.000 công lúa và rẫy. Ác liệt nhất là những nơi mà chính quyền Ngô Đình Diệm chọn xây dựng “khu trù mật điển hình”, như khu trù mật Thành Thới, địch tập trung 2 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 7 và 2 đại đội địa phương, tiến hành càn quét Thành Thới và các xã xung quanh. Mặt khác, để nông dân không thể chống lại được nữa, chúng hạ lệnh cho lính đốt nhà, chặt cây cối trong vườn, phá hoại lúa ngoài đồng, cướp đi tất cả số thóc tịch thu được. Cả một vùng đất đai phì nhiêu, cây trái xum xuê, phải dọn sạch sẽ để làm khu trù mật. Tổng cộng 240 mẫu vườn dừa, ruộng lúa của 3 ấp An Hoà (xã An Thạnh), Thới Hoà và An Thiện (xã Thành Thới) bị phá thành bình địa trong một thời gian ngắn.</p>
<p>Khu trù mật Vị Thanh &#8211; Hoả Lựu, khởi công ngày 3/10/1959, khánh thành sớm nhất vào ngày 12/3/1960. Vị Thanh &#8211; Hoả Lựu (tỉnh Phong Dinh), một khu đất được lựa chọn, trung tâm địa lý của miền Hậu Giang, trên chỗ giáp nối nhiều đường thuỷ bộ, chính quyền tỉnh Phong Dinh tổ chức “Ban trưng dịch” do 3 sĩ quan phụ trách, lo việc bắt phu đưa đến địa điểm sắp lập khu trù mật. Dân tráng từ 18 – 45 tuổi trong 4 quận Phụng Hiệp, Ô Môn, Cái Răng, Châu Thành (Cần Thơ), phải đi làm mỗi người 10 ngày, đi về bằng phương tiện của mình, cơm gạo, công cụ tự túc. Dân trong 15 xã sẽ bị dồn về Vị Thanh &#8211; Hoả Lựu (khoảng 5 vạn người) cũng bị bắt đi làm. Nhà nào không đi thì đóng 5.000 – 10.000 đồng. Tất cả công chức trong tỉnh đóng mỗi người 3 ngày lương. Dân đi sưu đến đào mương, đắp đường, làm nền, xây dựng các trụ sở, các cơ quan công cộng, làm rào, xây bốt canh, dựng cổng.v.v. Mỗi gia đình nông dân bị dời đến khu trù mật buộc phải lĩnh mấy công đất đã được định đoạt trước, trên đó người nông dân phải tự mình xây dựng nhà cửa theo một số quy tắc khắc nghiệt. Nông dân trong 15 bị ép về Vị Thanh &#8211; Hoả Lựu, phải bỏ vườn tược, nhà cửa, mồ mả ông bà. Ai không chịu đi thì chính quyền, quân đội, hay tổ chức chính trị của Diệm đến dỡ, xô sập hoặc đốt cháy để cắt đứt mọi lưu luyến.</p>
<p>Trong mỗi khu trù mật thường được chia làm 3 khu vực: khu tập trung nông dân, khu công thương và khu hành chính; đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của một liên cơ quan gồm cán bộ hành chính địa phương, chuyên viên kiến thiết và các địa diện quân sự, thường là một sĩ quan (có khi là binh chủng đặc biệt, như biệt động quân, có khi là thuộc đơn vị bảo an). Xung quanh khu trù mật được bao bọc bởi nhiều hàng rào, hệ thống hầm hào, công sự, bãi chông và các tháp canh để kiểm tra, kiểm soát dân ra, vào.</p>
<p>Ở khu nông dân, thường phân chia ra làm hai: một là khu dân sự gồm những gia đình mà địch cho là thành phần cơ bản, nghĩa là không có liên hệ gì với cách mạng; hai là khu dành riêng để tập trung các gia đình “thân cộng”, nghĩa là các gia đình có người nhà đi tập kết ra Bắc, hoặc bị tình nghi là cộng sản, khu này bị bao vây chằng chịt bằng hàng rào thép gai và tháp canh. Nếu phân chia theo tiêu chí này thì mỗi khu trù mật gồm có 4 tiểu khu: Tiểu khu hành chính; Tiểu khu công thương; Tiểu khu dân sự; Tiểu khu của các gia đình có liên hệ với cộng sản.</p>
<p>Khách quan mà nói, về cấu trúc trong mỗi khu trù mật, ở những mức độ khác nhau, đều có 3 khu: Khu công ốc, gồm có trụ sở Uỷ ban hành chính, cơ quan quân sự, phòng thông tin, trường học, bệnh xá, nhà bảo sanh, nhà thuỷ tạ, trụ sở nông hội, nhà máy điện; Khu gia cư, với sự phân chia nhân dân như đã đề cập trên, cá biệt vẫn có trường hợp bố trí xen kẽ giữa các gia đình mà chúng tin tưởng và các gia đình “thân cộng”; Khu công cộng, dùng làm sân vận động, giải trí và chăn nuôi gia súc, như trâu bò. Dân số mỗi khu trù mật trung bình 2.000 – 3.000 người; tuy nhiên cũng có những khu trù mật, như Vị Thanh &#8211; Hoả Lựu, có gần 25.000 người.</p>
<p>Như vậy, về hình thức, khu trù mật, gần như là một thị trấn, nhưng điều này không thể thuyết phục được nông dân đi theo Diệm. Tờ báo “Người xứ Excốt” của Vương quốc Anh (22/6/1960) cho rằng: “Khu trù mật là những khu hình vuông, có đèn điện, nhà thương, trường học. Những thứ đó được xây dựng bằng sức lao động “tự nguyện” của những người nông dân do quân đội đi bắt một cách độc đoán. Khi một khu trù mật hình thành thì nhà cũ của những người đến khu trù mật bị phá. Nhưng như thế thì hàng ngàn nông dân phải đi hơn 10 dặm đường để làm việc trên vùng đất của họ, để mang trâu bò và dụng cụ đi và về. Cho nên phàn đông số họ không đồng ý với chương trình lập khu trù mật. Việc lập các khu trù mật có thể chống lại hoạt động của cộng sản một cách có hiệu quả là điều đáng nghi ngờ”.</p>
<p>Bị đẩy vào khu trù mật, nông dân chẳng những đi làm rất xa, “những người ở xa nhất là 30 cây số đường thuỷ. Nếu đi bằng thuyền máy phải mất khoảng 2, 3 tiếng đồng hồ”. Hơn thế nữa, khi gặt lúa đập xong, nông dân không được đem lúa về nhà mình, mà phải đem đến “sân chung”; tại đây, nhân viên chính quyền sẽ khấu trừ mọi khoản thuế, tô, tiền quyên góp hàng tháng, tiền mua hình Tổng thống, tiền khẩu hiệu, tiền đóng góp hàng tháng cho các tổ chức phản động…, còn bao nhiêu thì phải gửi vào kho, khi cần thì đến kho mà lấy.</p>
<p>Tuy không phải chịu đày ải nơi rừng thiêng nước độc như ở các khu “dinh điền”, nhưng trong khu trù mật, chính sách kìm kẹp của địch hà khắc và nghiệt ngã hơn nhiều. Ngoài vòng rào và các lô cốt, với sự kìm kẹp của công an, do thám; địch bắt nông dân “đi thưa, về trình, sáng chúng mở cổng mới được đi làm, chiều về chúng đóng cổng lại. Người dân ở trong khu trù mật như trong một khám tù chật hẹp, một gia đình chiếm bề ngang không đầy 4 thước, bề dọc không đầy 10 thước, không có nghề nghiệp, phương tiện làm ăn chỉ còn có cách sống như người nông nô thời thượng cổ hiến thân cho bọn chủ cày máy, chủ thầu của Mĩ &#8211; Diệm”<sup>*</sup>.</p>
<p>Chính sách “khu trù mật” đã gây hậu quả xấu, làm xáo trộn đời sống nông thôn. Nông dân có hàng trăm thứ bất bình, như đi làm xâu không cơm, không công và ngay trong ngày mùa; bỏ vườn, ao, nhà cửa, mồ mả ông bà; đi làm xa, chỉ được đi làm ban ngày; mùa màng đem về bị bắt “gửi”, bắt khấu trừ; nhà mới trơ trọi, thiếu ánh sáng, thiếu bóng mát, thiếu gió, thiếu nước, rau cỏ, hoa quả, cá mắm; ra vào bị kiểm soát, câu thúc; phải đóng góp nhiều thứ về ngày công, về tiền bạc; bị bắt “học tập”, bắt “tố cộng”, bắt canh tuần; bị bắt vào tổ chức phản động của Diệm.v.v. Đỗ Mậu, một nhân vật cao cấp trong chính quyền Ngô Đình Diệm, viết: “Sinh hoạt nông nghiệp vốn có tính định kỳ, theo thời tiết, theo giống lúa, và theo loại đất, cho nên tự ngàn xưa, chính những hoạt động canh tác đã quy định những hoạt động nhân văn khác của thôn xã, như hội hè, đình đám, cưới hỏi, lễ lạc… Chỉ cần làm xáo trộn chu kỳ sinh hoạt này là làm xáo trộn nếp sống của người dân, trên cả hai mặt nghề nghiệp cũng như phong cách”. Nói tóm lại, nông dân mất nhiều tự do, mất nhiều quyền lợi, trái nhiều tập quán, ngược nhiều tình cảm thiêng liêng.</p>
<p>Dư luận trong nước và ngoài nước đều phản đối chính sách dồn dân lập khu trù mật của chính quyền Ngô Đình Diệm, hay ít ra là hoài nghi sự thành công của chính sách đó. Không chỉ nông dân, mà ngay cả các phe nhóm đối lập ở Sài Gòn cũng ra tuyên ngôn công kích chính sách “khu trù mật” của Diệm. “Tuyên ngôn của 18 nhân vật thuộc nhóm Tự do Tiến bộ” gửi Ngô Đình Diệm ngày 26/4/1960, viết: “Hiện nay, nhiều người không có việc để làm, không có nhà để ở và không có tiền bạc. Gạo nhiều nhưng không bán được, các tiệm đầy hàng mà hàng hoá không di chuyển &#8211; nguồn lợi nằm trong tay những kẻ đầu cơ, dùng phe nhóm, đoàn thể của chính quyền để che giấu sự buôn bán độc quyền đem lợi về cho một thiểu số tư nhân. Trong lúc đó, hàng ngàn dân bị huy động đi làm việc cực nhọc, bị ép buộc phải rời bỏ công ăn việc làm, nhà cửa, gia đình của mình để tham gia vào công tác xây dựng những khu dinh điền tuy đồ sộ nhưng vô ích. Điều này làm họ mệt mỏi và mất thiện cảm với chính quyền, càng làm cho mối bất mãn thêm trầm trọng và tạo môi trường lí tưởng cho công tác tuyên truyền của địch (CS)” và đòi hỏi “chính quyền phải chấm dứt sự bóc lột con người dưới mọi hình thức trong các công trường lao động của những khu dinh điền”.</p>
<p>Stanley Karnow cho biết về khu trù mật Vị Thanh, một khu trù mật được xem là thành công nhất: “Khi tôi tới gần, khu trù mật Vị Thanh (nơi mà Tổng thống Diệm đã cho khánh thành rầm rộ) trông thật là rộng rãi, đồ sộ khi so sánh với các làng mạc dọc đường. Viên chỉ huy chương trình khu trù mật địa phương, Thiếu tá Trần Cửu Thiên, giới thiệu nào là trường học, nhà thương, trụ điện để đưa điện về cho nông dân lần đầu tiên trong đời họ. Ông ta cũng cho tôi biết là nông dân sẽ có nhiều lợi tức. Ông ta khoe khoang là đã hoàn thành khu trù mật chỉ trong vòng có năm mươi ngày theo lệnh của Tổng thống Diệm, và khu trù mật là một kiến trúc gương mẫu để làm vui lòng những nhà lập pháp Hoa Kỳ đến viếng Việt Nam. Nhưng trong thực tế lại là một đại hoạ.</p>
<p>Đại hoạ là vì nông dân bị bắt buộc phải bỏ làng mạc cũ, bỏ cả mồ mả cha ông, bỏ cả tập tục cổ truyền để tập trung về Khu. Tai hại hơn nữa là Thiếu tá Thiên đã phải theo lệnh Tổng thống huy động 20 ngàn người để xây dựng một khu chỉ để cho 6 ngàn người ở. Số 14 ngàn người kia phải bỏ công việc đồng áng để làm việc mà không được trả tiền công. Thiên bảo rằng, bắt họ làm công không trả tiền là để tập cho họ bổn phận công dân. Trái lại, đối với nông dân thì những công tác cộng đồng như thế là hình thức “cưỡng bách lao động” nên dù lúc đó họ chưa theo Việt cộng họ cũng đã tỏ ra bất mãn với chế độ Diệm”.</p>
<p>Và theo Frances Fizgerald, dưới chế độ Diệm, “Tất cả các công tác,… như khu trù mật, như dinh điền, như hợp tác xã nông nghiệp…đều thất bại nặng nề”.</p>
<p>Theo Đỗ Mậu, “tất cả mọi sản phẩm lý thuyết của chế độ (Diệm), phần kế hoạch và những biểu hiện hình thức bao giờ cũng bắt đầu rất đẹp và quyến rũ. Nhưng trên thực tế, dù chương trình này do chính vị Tổng thống điều động và theo dõi kiểm soát từng chi tiết một, kết quả vẫn trở nên bi thảm. Sự thất bại bi thảm của nó, ngoài những lý do dễ hiểu, là không nghiên cứu kỹ càng để đi sát với thực tế, là chuộng hình thức, nặng về lượng hơn là về phẩm, là cán bộ thừa hành lo hối hả trồng cây hôm nay để ngày mai Tổng thống đi kinh lý khen thưởng hơn là thực sự phát triển chậm nhưng chắc,… Còn có một lý do khác là sự can thiệp quá độ của ông Diệm, người đích thân điều khiển chương trình một cách độc đoán mà lại không đủ hoặc không lưu tâm đến những kiến thức chuyên môn cần thiết cho một chương trình bao gồm cả bốn lãnh vực nông nghiệp, xã hội, quốc phòng và nhân tâm”.</p>
<p>Sự thất bại của chính sách “Khu trù mật” của chính quyền Ngô Đình Diệm như những lý giải của Đỗ Mậu không phải là không có cơ sở. Nhưng cần phải thấy rằng, sự thất bại của chính sách này chủ yếu là do phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam trên nhiều mặt, trong đó có phong trào đấu tranh của nông dân chống “khu trù mật” diễn ra trên cả hai mặt trận chính trị và quân sự.</p>
<p>Các chính sách trên đây của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với nông dân là nguyên nhân làm cho năng suất trong nông nghiệp giảm sút rõ rệt. Trước Chiến tranh thế giới thứ II (1939), tổng sản lượng lúa là 4 triệu tấn, đạt bình quân 500kg/người. Từ năm 1955, tổng sản lượng lúa chỉ đạt từ 2,7 triệu đến 3,1 triệu tấn; bình quân đầu người chỉ đạt từ 240kg – 280kg.</p>
<p>- Chính sách <strong>công thương nghiệp</strong>:</p>
<p>Trong công thương nghiệp, Mĩ &#8211; Diệm âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành một thuộc địa bóc lột về kinh tế của Mĩ. Hiệp định kí ngày 20 và 26/8/1954 cho phép hàng hoá ứ đọng của Mĩ và các nước thuộc phe Mĩ tự do, được miền thuế quan và mọi khoản thuế nội địa vào miền Nam dưới chiêu bài “viện trợ”, “thương mại hoá”. Mĩ &#8211; Diệm còn tách đồng tiền miền Nam khỏi khu vực đồng Phơ-răng để phụ thuộc vào đồng Đô la, với tỷ suất hối đoái ban đầu là 1 đô la bằng 35 đồng, sau tăng lên 75 đồng.</p>
<p>Mặt khác, chính quyền Ngô Đình Diệm còn dùng nhiều thủ đoạn nhằm kìm hãm sự phát triển công thương nghiệp dân tộc, như không cấp vốn kinh doanh, tăng thuế; làm cho hàng trong nước không cạnh tranh nổi với hàng nhập khẩu. Hậu quả là kinh tế công thương nghiệp miền Nam chỉ đóng vai trò tiêu thụ hàng hoá của Mĩ và phe Mĩ.</p>
<p>Những chính sách nói trên đã tạo điều kiện cho Mĩ đưa hàng hoá vào miền Nam, trong đó nông phẩm thừa chiếm một tỷ lệ khá lớn. Nếu như năm 1954, Pháp đứng thứ nhất trong các nước xuất khẩu sang miền Nam với tỷ lệ 75% tổng số hàng hoá nhập khẩu của miền Nam, còn Mĩ chỉ được 7,6%; thì đến năm 1959, Pháp chỉ còn 19,4%, ngược lại Mĩ vượt lên chiếm vị trí thứ nhất, với tỷ lệ 26%.</p>
<p>Với sự giúp sức và cố vấn tích cực của Mĩ, đến cuối năm 1956, chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam tạm thời đứng vững. Đế quốc Mĩ cho rằng chẳng bao lâu nữa chúng có thể biến miền Nam Việt Nam trở thành “tủ hàng mẫu” của thế giới tự do có sức hấp dẫn mạnh mẽ các dân tộc đi theo. Cũng lúc này, Mĩ tuyên bố công khai mục đích sâu xa mà Mĩ đang thực hiện ở miền Nam Việt Nam là “giúp đỡ nước Việt Nam tự do phát triển một chính phủ hợp hiến ổn định và hùng mạnh để có thể khẳng định sự tương phản ngày càng hấp dẫn so với các điều kiện trong khu vực hiện nay của cộng sản, tiến tới làm suy yếu cộng sản miền Bắc cũng như miền Nam Việt Nam để cuối cùng đi đến thống nhất bằng phương pháp hoà bình một nước tự do và độc lập dưới sự lãnh đạo chống cộng sản”.</p>
<p>Chính sách của Mĩ &#8211; Diệm trên tất cả các mặt: tư tưởng – chính trị, kinh tế &#8211; xã hội và văn hoá – giáo dục cho thấy Mĩ &#8211; Diệm đã thực hiện cuộc “chiến tranh một phía” chống nhân dân miền Nam, đã động chạm đến đại bộ phận nhân dân miền Nam. Mĩ &#8211; Diệm đã trở thành kẻ thù trực tiếp không chỉ đối với nhân dân miền Nam mà đối với toàn thể dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, trước hết là nhân dân miền Nam, chống Mĩ &#8211; Diệm tất yếu sẽ diễn ra.</p>
<p><strong>2. Đấu tranh chống chế độ Mỹ &#8211; Diệm, gìn giữ và xây dựng lực lượng (1954 &#8211; 1959).</strong></p>
<p><strong>a) Đấu tranh chống Mĩ &#8211; Diệm những năm sau Hiệp định Giơnevơ (1954 &#8211; 1956)</strong></p>
<p>Sau Hiệp định Giơnevơ, quân đội và cán bộ của ta tập kết ra miền Bắc, vì thế so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng ở miền Nam bất lợi cho ta. Được sự chỉ đạo của Mĩ, ngay khi hoà bình vừa được lập lại, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiến hành phá hoại Hiệp định Giơnevơ.</p>
<p>Trước lúc Hiệp định được kí kết, TW Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự đoán tình hình sẽ hết sức khó khăn và phức tạp đối với cách mạng Việt Nam. Báo cáo tại HNTW lần thứ 6 (7/1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tranh lấy hoà bình không phải là việc dễ, nó là cuộc đấu tranh trường kỳ, gian khổ và phức tạp, nó có những điều kiện thuận lợi, cũng có những khó khăn”. Nắm bắt được Mĩ là trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương, và đang trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Đông Dương, TW Đảng đề ra cho cách mạng miền Nam nhiệm vụ chuyển cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp sang đấu tranh chính trị chống Mĩ &#8211; Diệm, đòi hoà bình, gìn giữ và xây dựng lực lượng cách mạng. Nghị quyết HNBCHTW Đảng lần thứ 6 nhận định: “Ngày nay, do tình hình mới, tat hay đổi phương châm, chính sách và sách lược đấu tranh cốt để thực hiện một cách thuận lợi trước mắt. Đây là một sự thay đổi quan trọng về phương châm và sách lược cách mạng, nhưng còn mục đích cách mạng vẫn là một”.</p>
<p>Ngày 6/9/1954, Bộ Chính trị BCHTW Đảng họp đã cụ thể hoá và bổ sung thêm tinh thần Hội nghị TW lần thứ 6 nêu trên. Hội nghị chỉ rõ: “Nhiệm vụ của Đảng ở miền Nam trong giai đoạn hiện tại là lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, củng cố hoà bình, thực hiện tự do dân chủ (tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do đi lại, .v.v.), cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độc lập. Đồng thời lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống những hành động khủng bố, đàn áp, phá cơ sở của ta, bắt bớ cán bộ ta và quần chúng cách mạng, chống những hành động tiến công của địch, nguỵ, giữ lấy quyền lợi của quần chúng đã giành được trong thời kỳ kháng chiến, nhất là ở những vùng căn cứ địa và vùng du kích cũ của ta”.</p>
<p><strong><em>* “Phong trào Hoà Bình”:</em></strong></p>
<p>Sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, dưới sự lãnh đạo của các Đảng bộ địa phương, nhân dân khắp nơi ở miền Nam đã tổ chức những hoạt động nhằm biểu thị tinh thần phấn khởi trước thắng lợi to lớn của dân tộc và ý chí đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất đất nước. Ngày 1/8/1954, nhân dân các thành phố Sài Gòn, Huế và Đà Nẵng biểu tình, hoan nghênh thắng lợi của cuộc kháng chiến; đòi Pháp phải trả chồng, con đã bị bắt đi lính; trả tự do cho tất cả tù chính trị và trao trả tù binh. Số người tham gia biểu tình ở Sài Gòn là 50.000 người, phần đông là công nhân nhà đèn, bến cảng và các tầng lớp tiểu thương, trí thức, học sinh, quần chúng lao động. Tại Đà Nẵng, có 25.000 người, Huế có 15.000 người tham gia biểu tình mừng hoà bình. Chị em tiểu thương chợ Đông Ba đã thả hàng ngàn bồ câu bày tỏ sự phấn chấn và khát vọng hoà bình của mình, hàng vạn bản văn Hiệp định Giơnevơ được in ra và phổ biến trong nhân dân thành phố và các huyện.</p>
<p>Cũng trong ngày 1/8/1954, được sự chỉ đạo của Khu uỷ Sài Gòn – Chợ Lớn, các đại biểu trí thức và lao động thành phố đã thành lập “Phong trào hoà bình Sài Gòn – Chợ Lớn” ra tuyên bố nêu rõ tôn chỉ, mục đích của phong trào là đấu tranh cho hoà bình ở Đông Dương được củng cố, quyền tự do dân chủ được đảm bảo, nước Việt Nam được thống nhất bằng tuyển cử tự do trong cả nước. Phong trào thu hút nhiều trí thức tên tuổi nổi tiếng tham gia, như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo; giáo sư Phạm Huy Thông, Nguyễn Văn Dưỡng; nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba; bác sĩ Lê Khắc Quyến, dược sĩ Trần Kim Quang; nhân sĩ Võ Đình Cường… Lực lượng công nhân, thợ thuyền các xí nghiệp ấn loát, các xí nghiệp hậu cần của Pháp, công ty thuỷ điện và quần chúng khu lao động Bàn Cờ, Khánh Hội, cầu Ông Lãnh, Chợ Quán, Bình Tây đã tham gia tích cực phong trào. Tập san “Hoà Bình”, cơ quan ngôn luận hợp pháp của phong trào đăng các bài tố cáo Mĩ &#8211; Diệm phá hoại Hiệp định Giơnevơ và nêu rõ khát vọng hoà bình của dân tộc. Từ Sài Gòn, phong trào lan rộng ra Đà Nẵng và Huế.</p>
<p>Tại Huế, “Phong trào Hoà Bình” có nhiều hoạt động phong phú. “Tập Văn ngày mai”, cơ quan ngôn luận của phong trào, đăng các bài có nội dung tuyên truyền chủ trương hoà bình của Đảng, chống khủng bố, bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp nhân dân, đề cập đến nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, văn hoá, xã hội, được quần chúng hoan nghênh đón nhận. Mặt khác, phong trào còn có nhiều hình thức hoạt động, như tổ chức cứu đói, chống đói, xoá nạn mù chữ. Ở Huế, nhân dân thành phố đã đưa lương thực, thực phẩm về các huyện giúp nhân dân khắc phục nạn đói và tổ chức sản xuất. Ban Bình dân học vụ gồm một số phụ lão, trí thức, giáo viên thành phố đã về phát triển lớp học ở các huyện. Ngoài việc dạy chữ, mở mang dân trí, các Ban Bình dân học vụ đã dựa vào lớp học để vận động nhân dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi Hiệp thương Tổng tuyển cử, chống khủng bố, đòi dân sinh, dân chủ.</p>
<p>Cùng với “Phong trào hoà bình”, tù nhân chính trị ở Huế đấu tranh đòi chính quyền Ngô Đình Diệm trao trả họ về với Chính phủ VNDCCH. Tờ cam kết của tù chính trị gửi chính quyền Ngô Đinh Diệm với nội dung: “Chúng tôi kí tên dưới đây là can cứu chính trị bị bắt trước ngày ngưng bắn, và hiện đang bị giam giữ tại Lao Xá Thừa Thiên.</p>
<p>Chúng tôi sẵn sàng đi trao trả cho Chính phủ VNDCCH theo Hiệp định Giơnevơ và Quy chế Trung Giã ấn định”.</p>
<p>Địch buộc phải nhượng bộ, ngày 28/8/1954, chúng dùng 20 xe GMC chở tù chính trị từ lao Toà Khâm lên ga Huế để đưa đi Đà Nẵng thực hiện việc trao trả. Khi xe chạy qua một số đường trong thành phố, anh em tù chính trị đã hô vang các khẩu hiệu, như “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm”, “Hoà bình dân chủ thế giới muôn năm”, “Việt Nam độc lập dân chủ thống nhất muôn năm”; riêng khẩu hiệu “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm” được viết và căng trên một số xe.</p>
<p>Lo sợ trước sự phát triển của phong trào, từ đầu tháng 11/1954, chính quyền Ngô Đình Diệm bắt đầu tiến hành đàn áp, bắt giam một số người lãnh đạo và các chiến sĩ tích cực của phong trào. Giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng bị địch tra tấn đến chết; luật sư Nguyễn Hữu Thọ và một số người khác bị địch đưa ra giam lỏng ở Tuy Hoà. Rất nhiều kháng thư của trí thức, sinh viên, các nhà công thương đòi Ngô Đình Diệm phải trao trả những người bị bắt.</p>
<p>Đến giữa tháng 5/1955, tuy về danh nghĩa, “Phong trào Hoà Bình” ở Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn không còn, nhưng các “Uỷ ban bảo vệ hoà bình” ở các cơ sở vẫn hoạt động dưới hình thức những “Uỷ ban cứu tế” nạn nhân hoả hoạn. Địch tiếp tục khủng bố, “Uỷ ban cứu tế” nạn nhân hoả hoạn đổi thành những “Ban đề phòng nạn cháy” và tiếp tục hoạt động.</p>
<p><strong><em>* Phong trào công nhân:</em></strong></p>
<p>Tại Sài Gòn, từ ngày 7 – 17/12/1954, công nhân trong 51 xưởng thuộc các hãng nhà binh Pháp ở Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn, Gia Định, Thủ Dầu Một và Biên Hoà, gồm 25.000 người, liên tục bãi công. Công nhân đã nêu cao các khẩu hiệu: tăng lương 20%, giảm giá sinh hoạt, thi hành Hiệp định Giơnevơ. Chủ hãng buộc phải thoả mãn một số yêu sách của công nhân. Tại đồn điền cao su An Lộc, 5.000 công nhân bãi công liên tiếp trong 3 ngày (2 – 4/8/1954) đòi tăng lương 4% và hoan nghênh Hiệp định Giơnevơ.</p>
<p>Ngày 10/11/1955, hơn 4 vạn công nhân các đồn điền cao su 4 tỉnh Bà Rịa, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tây Ninh bãi công. Công nhân đưa 10 yêu sách đòi chủ phải tăng lương, cải thiện chế độ ăn ở, làm việc và đảm bảo quyền tự do nghiệp đoàn của công nhân. Đây là cuộc bãi công lớn nhất của công nhân cao su từ trước tới nay, kéo dài một tuần, làm công ty cao su thiệt hại mỗi ngày khoảng 40 vạn đô la.</p>
<p>Ở Huế, cuộc đấu tranh của công nhân thuỷ điện kéo dài trong tháng 3 &amp; 4/1956, đòi giới chủ không được sa thải công nhân và trả phụ cấp gia đình cho thư kí và các hạng thợ chuyên môn. Cuộc đấu tranh của công nhân ngành thủy điện Huế đã gây một tác động lớn đối với công nhân ngành thuỷ điện ở hầu hết các tỉnh miền Trung, có khả năng lôi kéo họ nhập cuộc tham gia đấu tranh nếu Công ty thuỷ điện Huế không chịu giải quyết yêu sách của công nhân. Chính tài liệu của địch thừa nhận: “Vụ cộng đồng phân tranh nhà đèn Huế hiện do Hội đồng trọng tài xét xử… Hiện Toà Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt cũng tìm cách dàn xếp. Có thể có sự đình công tại Huế và công nhân nhà đèn Quảng Trị, Hội An, Đà Nẵng, Nhà Trang và Phan Rang sẽ có thể đình công hưởng ứng theo”… Riêng ở Đà Nẵng, để đối phó với cuộc đình công của công nhân, chính quyền Ngô Đình Diệm đã “chỉ thị cho ba cơ quan Công an, Cảnh sát và Bảo an đoàn phối hợp công tác, tăng cường việc canh phòng trong đô thị để đề phòng mọi âm mưu phá hoại của đối phương, để bảo vệ tính mạng và tài sản, nhất là của ngoại kiều, phân công phụ trách bảo vệ ngày đêm 13 nhà máy chứa điện, Thị đoàn Bảo an sẽ phái thêm binh sĩ tăng cường việc đề phòng, bảo vệ nhà máy”.</p>
<p>Ngày 26/3/1956, công nhân nhà máy đèn Chợ Quán bãi công đòi tăng lương. Ngót 200.000 công nhân, lao động, các tầng lớp nhân dân khác hưởng ứng cuộc đấu tranh. Cuộc bãi công kéo dài 2 ngày làm các thành phố Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hoà không có điện, nước, mọi hoạt động công nghiệp đình đốn; các rạp hát, rạp chiếu bóng phải đóng cửa; 6 tờ báo hàng ngày không ra được; đài phát thanh phải ngừng phát 48 tiếng đồng hồ.v.v. Trước tình hình đó, chính quyền Diệm buộc phải giải quyết một số yêu sách của công nhân.</p>
<p>Nổi bật nhất trong phong trào đấu tranh của công nhân ngành thuỷ điện là cuộc đấu tranh đòi tăng lương và đòi nghỉ ngày chủ nhật phải có lương của công nhân thuỷ điện Sài Gòn diễn ra trong tháng 8/1956 và kéo dài đến tháng 5/1957. Suốt hai tháng 9 &amp; 10/1956, Thanh tra Lao động chính quyền Sài Gòn đứng ra hoà giải nhưng không thành. Vụ việc buộc phải đưa ra Hội đồng trọng tài. Ngày 2/1/1957, Hội đồng trọng tài ra quyết định bác bỏ yêu sách của công nhân. Do vậy công nhân tiếp tục đệ đơn lên chính quyền Sài Gòn. Ngày 8/5/1957, công nhân tổ chức hội nghị và quyết định sẽ đình công nếu đòi tăng lương không được chính quyền Sài Gòn chấp nhận. Trước tình hình đó, tháng 5/1957, Hội đồng Liên Bộ của chính quyền Sài Gòn buộc phải đồng ý trả lương ngày chủ nhật và buộc giám đốc công ty thuỷ điện Sài Gòn phải tăng bình quân 6% lương cho công nhân.</p>
<p>Ngày 1/5/1956, lợi dụng việc Diệm “cho phép” tổ chức kỷ niệm ngày Quốc tế lao động, 20 vạn nhân dân Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn, đa số là công nhân, những người lao động, đã xuống đường biểu tình, hô vang các khẩu hiệu: tự do nghiệp đoàn, giải quyết nạn thất nghiệp, trả phụ cấp gia đình cho cả công nhân làm ở các sở tư, cải cách điền địa triệt để để có lợi cho nông dân, hạn chế nhập khẩu để nâng đỡ công nghiệp trong nước, thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình.v.v.</p>
<p><strong><em>* Phong trào nông dân:</em></strong></p>
<p>Phong trào đấu tranh của nông dân miền Nam bảo vệ quyền lợi về ruộng đất diễn ra rất sôi nổi, mạnh mẽ. Ở Thừa Thiên &#8211; Huế, phong trào đấu tranh đòi đắp đập Thuận An diễn ra gần như đều khắp các huyện trong tỉnh, thu hút hàng vạn người tham gia. Chỉ trong một thời gian ngắn từ tháng 12/1954 đến tháng 1/1955, đã có hàng trăm lá đơn với 7 vạn chữ ký của nhân dân các xã, làng, vạn, giáp, xóm gửi chính quyền Ngô Đình Diệm tại Thừa Thiên &#8211; Huế, yêu cầu đắp đập Thuận An chống nước mặn xâm nhập gây đói khổ cho nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng ở địa phương, những lá đơn được ký với đầy đủ thành phần của các làng, xã; không chỉ chức sắc, hào lão, đại diện các họ tộc, mà cả đại diện từng hộ gia đình, cả nam lẫn nữ, và có cả những người trong bộ máy chính quyền địch ở xã, thôn liên tiếp gửi tới nguỵ quyền. Ngày 1/5/1955, 3 vạn người từ các huyện kéo về Huế tham dự cuộc biểu tình tại Phu Văn Lâu. Đoàn biểu tình đã giương cao khẩu hiệu: “Phải đắp đập Thuận An ngăn nước mặn để đảm bảo dân gia tăng sản xuất”, cùng với những khẩu hiệu khác đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống khủng bố, đòi thiết lập quan hệ Bắc – Nam.v.v. Phong trào được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân thành phố và các huyện. Ngô Đình Diệm đã phải về tận nơi xem xét và hứa hẹn sẽ giải quyết vấn đề đắp đập.</p>
<p>Ở khu V và Trị &#8211; Thiên, có phong trào chống “xáo cấp” công điền. Đặc biệt ở Trị &#8211; Thiên, nơi ruộng đất công chiếm 70 – 80% tổng số diện tích ruộng đất toàn tỉnh, cuộc đấu tranh diễn ra rất mạnh mẽ. Nông dân không chịu cày cấy trên ruộng đất do địch chia. Sau 3 tháng tiến hành “xáo cấp” công điền ở 731 thôn thuộc hai tỉnh Trị &#8211; Thiên, địch chỉ thực hiện được ở 21 thôn. Ở Bình Định, Quảng Ngãi có phong trào chống cướp ruộng công của các gia đình có người tập kết.</p>
<p>Ở Nam Bộ, ngày 4/12/1954, hơn 1 vạn nông dân thuộc 6 xã huyện Mỏ Cày (Bến Tre) biểu tình chống chính quyền Ngô Đình Diệm sát hại những người kháng chiến. Tại Trung Bộ, những cuộc đấu tranh chống Mĩ &#8211; Diệm liên tiếp diễn ra ở khắp các thành thị và nông thôn. Nhân dân Quảng Nam, các thành phố, thị xã Nha Trang, Đà Lạt, Phan Thiết,… biểu tình kéo đến trụ sở Nguỵ quyền, trụ sở Uỷ ban Quốc tế đòi địch phải thi hành đúng các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ, không được trả thù, khủng bố những người kháng chiến cũ.</p>
<p>Trong năm 1956, các cuộc đấu tranh chống địch đuổi dân để lập khu căn cứ quân sự liên tục diễn ra. Ngày 28/11/1956, địch cho lính và xe ủi đất về 2 làng Đông Hưng Thạnh và Trung Mĩ Tây (Hóc Môn) để xây dựng “Trung tâm huấn luyện Quang Trung”. Địch ra lệnh cho nhân dân 2 làng này phải rời đi nơi khác. Đồng bào kiên quyết đấu tranh chống lại với khẩu hiệu: “Sống tại chỗ, chết tại chỗ! Tấc đất, tấc máu!”. Nhân dân đã cử nhiều đoàn đại biểu lên quận, tỉnh đòi được ở nguyên chỗ cũ, đòi bồi thường những tài sản bị phá. Tiếp theo, ngày 4/12/1956, 10 vạn nhân dân khu lao động Vân Đồn, Chương Dương đấu tranh chống lệnh đuổi nhà. Đồng bào các quận khác đã tích cực hưởng ứng bằng việc xuống đường đấu tranh đòi địch phải bồi thường những thiệt hại. Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống địch đuổi nhà, cướp ruộng diễn ra liên tục, làm chậm lại kế hoạch xây dựng căn cứ quân sự của địch.</p>
<p><strong><em>* Phong trào đấu tranh chống Mĩ &#8211; Diệm “tố cộng”:</em></strong></p>
<p>Giữa năm 1955, Mĩ &#8211; Diệm triển khai chiến dịch “tố cộng” giai đoạn I, nhân dân miền Nam dưới nhiều hình thức công khai, hợp pháp và cả bất hợp pháp đã liên tục đấu tranh chống địch. Địch bắt người đi học tập “tố cộng”, đồng bào viện đủ lý do trì hoãn, không đi. Ở Phú Vang (Thừa Thiên &#8211; Huế), địch cho lính nguỵ đến bắt 300 người đến lớp học. Đồng bào kiên quyết đấu tranh đòi trở về nhà sản xuất, nếu không để ruộng đồng bỏ hoang, mất mùa, dân đói. Địch buộc phải giải tán lớp học.</p>
<p>Ở Phan Rí (Bình Thuận), khi tên Quận trưởng cho nhân dân được tự do tranh luận những cái xấu và cái tốt của quốc gia và cộng sản, ông Bộ Gạch người dân tộc Chăm đã đứng lên nói:</p>
<p>+ Quốc gia có 9 cái tốt và 1 cái xấu, cộng sản có 9 cái xấu và 1 cái tốt.</p>
<p>+ Tên Quận trưởng liền hỏi: 1 cái xấu của quốc gia là gì?</p>
<p>+ Quốc gia ở với dân xấu quá.</p>
<p>+ Tên Quận trưởng bực dọc nói: Thế một cái tốt của cộng sản là gì?</p>
<p>+ Ông già thản nhiên trả lời: Việt cộng ăn ở với dân quá tốt. Các ông có làm gì đi nữa, lòng dân vẫn theo Việt cộng và cuối cùng Việt cộng vẫn thắng.</p>
<p>Ở nhiều địa phương, khi địch cho những tên đầu hàng, đầu thú lên nói xấu cộng sản, lập tức bị nhân dân chất vấn và phản đối, biến cuộc “tố cộng” thành cuộc đấu tranh tố cáo tội ác của Mĩ &#8211; Diệm. Nhân dân đặt nhiều câu hỏi chất vấn đối với những tên chỉ đạo “tố cộng”: “Quốc gia nói cộng sản cướp công kháng chiến, nhưng lúc đánh Tây, quốc gia ở đâu, sao toàn thấy cộng sản?”, “Nói quốc gia kháng chiến, tại sao lại làm cho Tây?”.v.v. Những chất vấn làm “cán bộ tố cộng” bí không trả lời được, nhiều lần phải giải tán lớp học. Chính Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo tố cộng trung ương Mĩ &#8211; Diệm đã thú nhận: “Đây là một thất bại lớn vì phong trào chất vấn rộng rãi, hướng dẫn viên của chúng ta không giải quyết được”.</p>
<p>Trong đợt II của chiến dịch “tố cộng”, địch dùng một lực lượng lớn càn quét liên tục, dài ngày để triệt phá các thôn xóm mà chúng nghi là có cộng sản. Sau đó, chúng chia lực lượng thành những bộ phận nhỏ chà đi xát lại nhiều lần. Tuy vậy, đồng bào miền Nam đã trải qua đấu tranh quyết liệt với địch, hiểu rõ bản chất của chúng nên đã kiên trì tiếp tục cuộc đấu tranh. Tháng 7/1957, các chi bộ bí mật ở Hương Trà (Thừa Thiên) đã móc nối, liên kết với nhau, tổ chức các cuộc biểu tình tại quận lỵ với gần 2.000 người tham gia, phản đối Mĩ &#8211; Diệm bắt dân “tố cộng” và đàn áp những người vô tội. Quần chúng tham gia biểu tình đòi chính quyền Nguỵ ở Thừa Thiên &#8211; Huế phải bồi thường tính mạng, tài sản cho những gia đình bị hại.</p>
<p>Ở Tây Ninh, tháng 10/1957, dưới sự tổ chức của Tỉnh uỷ, các cuộc đấu tranh chống địch diễn ra trên một quy mô lớn. Nhân dân các xã Gia Lộc, An Tịnh, Lộc Hưng, Gia Bình, Đơn Thuận, Thạnh Phước, Phước Thanh, Hiệp Thạnh, Thanh Đức đã tập hợp kéo lên dinh Quận trưởng Trảng Bàng, Gò Dầu đấu tranh đòi Nguỵ quyền địa phương không cho binh lính hành quân càn quét, dồn dân “tố cộng”. Nhân dân các xã Trí Bình, Thái Bình, Thanh Điền cùng kéo vào thị xã Tây Ninh, phản đối việc dồn dân vào trại tập trung, bắt giam và đánh đập tàn nhẫn những người vô tội và yêu cầu Mĩ &#8211; Diệm bỏ ngay thủ đoạn bắt người “sám hối”.</p>
<p>Trong máu lửa “tố cộng, diệt cộng” của địch, nhiều đảng viên dũng cảm hy sinh, vượt qua tra tấn, tù đày của địch, tạo nên biểu tượng sáng ngời về ý chí bất khuất, lòng dạ kiên trung của người cộng sản, người Việt Nam yêu nước. Đồng chí Nguyễn Đình Liệu, nguyên Chủ tịch huyện Tiên Phước (Quảng Nam) tự tay mổ bụng, lôi ruột gan ra trước mặt quân thù khi chúng buộc đồng chí phải đầu thú; đồng chí Hồ Khởi, Bí thư chi bộ xã Quảng Ninh (Thừa Thiên &#8211; Huế), trước giờ phút hy sinh đã nói to với đồng bào, đồng chí lời cuối cùng: “Chúng tôi, những người cộng sản, không bao giờ quên lời thề khi vào Đảng, lời thề với Hồ Chủ tịch”; mẹ Trần Thị Kế ở Giồng Trôm (Bến Tre), địch bắt tra tấn buộc phải khai báo chồng con và chỉ chỗ ở của cán bộ, mẹ đã hét vào mặt kẻ thù: “Cán bộ, chồng con tao trong trái tim tao, bay có kiếm, mổ ra mà tìm”; đồng chí Võ Tấn Nhất, Bí thư Tỉnh uỷ Bến Tre, bị địch bắt, tra tấn dã man, đóng đinh vào các đốt xương tay, nhốt vào hầm bỏ đói cho đến chết; đồng chí Nguyễn Hữu Châu lãnh đạo phong trào cách mạng ở Tuy Hoà bị địch bắt đưa đến địa điểm “tố cộng” buộc xé cờ Đảng và ảnh Hồ Chủ tịch trước nhân dân và tuyên bố ly khai Đảng, nhưng người cộng sản đó đã kêu gọi đồng bào đoàn kết đấu tranh, địch đã xả súng bắn chết anh tại chỗ.v.v.</p>
<p><strong><em>* Phong trào đấu tranh chống “trưng cầu dân ý”, chống “bầu cử quốc hội” của Mĩ &#8211; Diệm:</em></strong></p>
<p>Ngày 6/6/1955, Chính phủ nước VNDCCH ra tuyên bố nêu rõ: “Nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất về mọi mặt lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hoá, ngôn ngữ, phong tục” và tuyên bố: “Sẵn sàng mở Hội nghị Hiệp thương với những nhà đương cục có thẩm quyền ở miền Nam bắt đầu từ ngày 20/7/1955 để bàn về vấn đề tổ chức Tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc vào tháng 7/1956”. Tuyên bố này của Chính phủ VNDCCH đã được sự ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong cả nước, làm dấy lên phong trào đấu tranh đòi chính quyền Ngô Đình Diệm phải Hiệp thương với Chính phủ VNDCCH.</p>
<p>Từ giữa năm 1955, càng gần đến ngày Hiệp thương Tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp định Giơnevơ, phong trào đấu tranh của quần chúng càng trở nên sôi nổi. Khắp miền Nam, nhân dân tổ chức mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi khoá, bãi chợ, rải truyền đơn, đưa kiến nghị đòi Mĩ &#8211; Diệm thi hành Hiệp định. Trước sự đòi hỏi của Chính phủ nước VNDCCH và sự đấu tranh sôi nổi của nhân dân miền Nam, ngày 16/7/1955, Ngô Đình Diệm buộc phải tuyên bố: “Không gạt bỏ nguyên tắc tuyển cử, coi như một phương tiện dân chủ cộng hoà thích đáng để thực hiện thống nhất” nhưng Diệm vẫn ngoan cố phủ nhận Hiệp định và tự cho là “không thể bị ràng buộc bởi hiệp định đó”.</p>
<p>Tiếp theo, ngày 23/10/1955, Mĩ &#8211; Diệm tổ chức cuộc “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại, đưa Diệm lên làm Tổng thống. Ở nhiều tỉnh, nhiều thành phố, nhiều xã, nhân dân tổ chức mít tinh, biểu tình, vạch trần tính chất phản động, bịp bợm của trò hề “trưng cầu dân ý”. Mặc dù địch dùng mọi biện pháp lùng bắt người đi “bỏ phiếu”, nhưng nhân dân vẫn tẩy chay cuộc trưng cầu bằng nhiều hình thức, như không ghi tên vào danh sách cử tri, không đi bỏ phiếu, đập phá, đốt thùng phiếu, hoặc giả vờ đánh nhau, cho trẻ em khóc ở nơi bỏ phiếu.v.v. Khi địch bắt nhân dân phải bỏ phiếu cho Diệm, “Phiếu xanh bỏ giỏ, phiếu đỏ bỏ bì”, nhân dân phản đối bằng cách gạch nát hình Ngô Đình Diệm. Ở Hội An, binh lính Diệm đã bắn vào đoàn biểu tình làm 5 người chết, 4 người bị thương, và bắt đi 200 người. Ở Cần Giuộc (Chợ Lớn), Hồng Ngự (An Giang), Minh Thành (Tây Ninh) có hàng ngàn người bị bắt. Ở Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn, trên 50% số cử tri không đi bầu, 80% áp phích của địch bị xé bỏ.</p>
<p>Phong trào đấu tranh chống “trưng cầu dân ý” đã nâng cao ý thức của nhân dân rằng không chỉ chống việc thay thế chính quyền bù nhìn Bảo Đại bằng chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm mà phải phản đối tất cả các loại chính quyền bù nhìn tay sai thực dân đế quốc.</p>
<p>Sau thủ đoạn “trưng cầu dân ý”, để hợp pháp hoá việc tự đặt mình lên ngôi Tổng thống, ngày 4/3/1956, Diệm lại lợi dụng địa vị mới của mình, tổ chức bầu cử quốc hội “Việt Nam cộng hoà” nhằm hợp thức hoá chế độ Diệm trước dư luận trong nước và thế giới. Ngày 14/2/1956 Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho hai Chủ tịch Hội nghị Giơnevơ, vạch rõ: “Chính quyền miền Nam Việt Nam đang chuẩn bị tổng tuyển cử riêng rẽ nhằm mục đích rõ rệt là thành lập một nước riêng biệt ở miền Nam Việt Nam. Điều đó hoàn toàn trái người lời văn và tinh thần của Hiệp định Giơnevơ…”.</p>
<p>Dưới sự lãnh đạo của các Đảng bộ địa phương, quần chúng nhân dân đã tích cực chống lại bằng nhiều hình thức, như phá các buổi học tập, phá các buổi mít tinh tuyên truyền cho cuộc “bầu cử”, xé gỡ áp phích, truyền đơn của địch; rải truyền đơn, viết khẩu hiệu chống bầu cử riêng rẽ, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ. Nhiều nơi nhân dân tẩy chay không đi bỏ phiếu, có nơi truyền đơn chống Diệm được nhét đầy thùng phiếu, có nơi hòm phiếu bị đập nát. Chẳng những nhân dân lao động và những người yêu nước chống cuộc “bầu cử” của Diệm, mà cả những tổ chức và cá nhân thân Pháp, thân Mĩ, trong đó có những người trước đây ủng hộ Diệm, cũng kịch liệt chống lại hành động gian lận, độc đoán của Diệm.</p>
<p>Với cuộc “bầu cử quốc hội” (4/3/1956), Ngô Đình Diệm đã tiến thêm 1 bước trong việc thực hiện âm mưu của đế quốc Mĩ nhằm phá hoại Hiệp định Giơnevơ, phá hoại sự nghiệp hoà bình, thống nhất đất nước của nhân dân ta, phơi bày rõ thêm bộ mặt độc tài gia đình trị của Diệm. Những thủ đoạn xảo quyệt của Diệm đã không lừa bịp được ai. Dư luận đã vạch ra rằng, cuộc “bầu cử” này cũng là một trò lừa bịp như cuộc “trưng cầu dân ý” và số người đi bỏ phiếu trong cuộc “bầu cử” này còn ít hơn nhiều.</p>
<p><strong><em>* Phong trào đấu tranh của đồng bào di cư:</em></strong></p>
<p>Ngoài các phong trào đấu tranh chính trị kể trên, từ năm 1954 đến năm 1956, ở miền Nam còn có phong trào đấu tranh của đồng bào miền Bắc bị cưỡng ép di cư vào Nam. Do mắc phải âm mưu của Mĩ &#8211; Diệm, gần 1 triệu đồng bào miền Bắc đã di cư vào Nam. Cho đến tháng 9/1955, chính quyền Ngô Đình Diệm đã lập được 286 làng định cư, trong đó có đến 265 làng định cư Thiên Chúa giáo. Mỗi làng do một vị linh mục đứng đầu. Số người di cư được chính quyền Diệm phân phối định cư ở hầu hết các tỉnh miền Nam, từ Quảng Trị đến Cà Mau, trong đó Tây Nguyên có 30.878 người, Trung Bộ có 101.738 người, Nam Bộ có 606.914 người (tổng cộng là 860.206 người).</p>
<p>Mặc dầu Mĩ &#8211; Diệm có sự chuẩn bị cho việc di cư, nhưng việc sắp xếp chỗ ăn, ở cho gần 900 ngàn người di cư không hề dễ dàng chút nào khi mà chính quyền Ngô Đình Diệm vừa mới được thành lập, lại vấp phải sự chống trả không chỉ của phía lực lượng cách mạng, mà còn cả của lực lượng các giáo phái lúc này đang kiểm soát một bộ phận lãnh thổ Nam Bộ. Đó là chưa kể việc Mĩ &#8211; Diệm cố tạo ra một “thiên đường” giả tạo, cốt để dụ dỗ được nhiều người di cư mà thôi, chứ thực tế thì ngược lại.</p>
<p>Để giải quyết việc làm cho dân di cư, Đài phát thanh Sài Gòn và các tỉnh thông báo ai cần nhân công thì đến các trại tiếp cư. Có cả trường hợp dân di cư bị mua về cũng không chịu làm việc. Họ chỉ đòi 3 mẫu ruộng, 2 con trâu và 1 cái nhà cất sẵn mà Diệm và tay chân đã hứa. Derocheau, Phó Thư kí Phòng cứu tế giáo dân đến Đông Dương nghiên cứu vấn đề di cư đã đề xuất: “Biện pháp giải quyết trong việc sử dụng dân di cư… là đưa họ lên các đồn điền cao su đang thiếu nhân công”. Với biện pháp đó, Mĩ &#8211; Diệm đã đưa một số lượng lớn đồng bào di cư đến lao động ở các đồn điền. Theo tờ Le Monde (Pháp) ra ngày 29/1/1955, con số này là 5 vạn người. Tuy vậy, việc ổn định đời sống cho đồng bào di cư cho mãi đến cuối năm 1956, đầu năm 1957 vẫn chưa thực hiện được. Tình hình đó dẫn đến những cuộc đấu tranh của đồng bào di cư chống Mĩ &#8211; Diệm ngay khi họ mới đến miền Nam.</p>
<p>Ngày 24/1/1955, đồng bào di cư ở Khánh Hoà chống lại lệnh của Tỉnh trưởng buộc họ dỡ nhà đi nơi khác. Ngày 3/6/1955, đồng bào di cư ở Đà Nẵng, gồm hàng nghìn người, biểu tình đòi tiếp tế gạo và đòi trở về miền Bắc. Ngày 12/5/1955, 500 người di cư ở Sài Gòn biểu tình kéo đến trụ sở Uỷ ban Quốc tế đòi được cấp giấy tờ trở về miền Bắc. Trong các tháng 8, 9 &amp; 10/1955, có các cuộc đấu tranh của hàng nghìn đồng bào di cư ở Bình Thuận, Mĩ Tho, Quảng Nam, Thủ Đức (Sài Gòn) đòi giải quyết đời sống, đòi hiệp thương và đòi trở về miền Bắc.</p>
<p>Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của nông dân di cư ở Cái Sắn (Rạch Giá) chống ký kết khế ước, đòi quyền sở hữu đối với ruộng đất khai hoang. Phần lớn ruộng đất ở Cái Sắn trước kia thuộc sở hữu của các địa chủ, nhưng đã bỏ hoang từ trong chiến tranh. Diệm đưa về Cái Sắn 4 vạn đồng bào di cư để khai hoang. Công việc khai hoang xong, Diệm bắt nông dân ký khế ước, nhận làm tá điền trên ruộng đất họ vừa khai khẩn được. Đồng bào di cư, được sự phối hợp của đồng bào địa phương, đã chống trả quyết liệt. Tháng 8/1956, bà con di cư chống lệnh của Diệm bắt họ ký khế ước, đòi quyền sở hữu trên đất họ khai hoang. Địch đối phó lại bằng cách không phát tiền phụ cấp cho đồng bào.</p>
<p>Tiếp theo, ngày 2/10/1956, hơn 500 đồng bào di cư tập trung trước Văn phòng đại diện Phủ Tổng uỷ di cư ở quận, đòi phát phụ cấp hai tháng 8 &amp; 9. Địch hứa sẽ phát phụ cấp nhưng với điều kiện là đồng bào phải chịu ký khế ước. Chúng lại còn đưa lính đến uy hiếp nhân dân. Ngày 9/10/1956, gần 1.000 đồng bào di cư, với sự tham gia của đồng bào địa phương, tụ hợp lại để đưa yêu sách. Tên Quận trưởng đến ra lệnh bắt ký khế ước, bị đồng bào bắt giữ. Trước tinh thần kiên quyết của đồng bào, chính quyền Quận và đại diện Phủ Tổng uỷ di cư phải nhượng bộ, chịu phát phụ cấp và hoãn việc ký khế ước.</p>
<p><strong>b) Xây dựng LLVT, giữ gìn và phát triển lực lượng các mạng (1956 &#8211; 1959)</strong></p>
<p>Qua 2 năm sống dưới chế độ Mĩ &#8211; Diệm, nhân dân miền Nam không chỉ nằm trong tình cảnh đất nước bị chia cắt, chiến tranh đe doạ, mà hàng ngày, hàng giờ còn bị chính sách độc tài, phát xít của Mĩ &#8211; Diệm áp bức, bóc lột, tù tội, chém giết dã man. Qua các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, địch đã gây ra những tổn thất lớn đối với cách mạng miền Nam. Trước tình đó, từ ngày 8 đến ngày 9/6/1956, Bộ Chính trị TW Đảng đã họp, ra Nghị quyết về “Tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam”. Sau khi nhận định rằng: “Chế độ miền Nam là chế độ độc tài, phát xít…phản động nhất, đội lốt dân chủ”, Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Hình thức đấu tranh của ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải là đấu tranh vũ trang. Nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không dùng hình thức tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định, hoặc không tận dụng những lực lượng vũ trang của giáo phái chống Diệm”, Bộ Chính trị chủ trương phải “củng cố các lực lượng vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ làm chỗ dựa, đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh, làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang”, phải “tổ chức tự vệ trong quần chúng, nhằm bảo vệ các cuộc đấu tranh và giải thoát cán bộ khi cần thiết”.</p>
<p>Với Nghị quyết này, Bộ Chính trị đã vạch ra những vấn đề chỉ đạo chiến lược mới đối với cách mạng miền Nam, trong đó quan trọng nhất là vấn đề tự vệ vũ trang để bảo vệ phong trào đấu tranh của quần chúng cách mạng, bảo vệ cơ sở và cán bộ Đảng; vấn đề xây dựng lực lượng và căn cứ cách mạng. Đây thực sự là bước chuyển hướng đường lối cách mạng ở miền Nam. Tuy nhiên, do hạn chế về kỹ thuật của hệ thống thông tin liên lạc, nên Nghị quyết quan trọng này đến với các cơ sở rất chậm trễ, nhiều nơi không nhận được, nên không đáp ứng kịp sự chuyển biến của phong trào cách mạng miền Nam.</p>
<p>Tháng 8/1956, đồng chí Lê Duẩn, Uỷ viên BCT đang công tác ở miền Nam, trên cơ sở phân tích khoa học tình hình xã hội, tình hình địch, ta ở miền Nam cũng như cả trong nước và trên thế giới, đã thảo ra tài liệu “Đường lối cách mạng miền Nam” để làm phương hướng chỉ đạo cho phong trào cách mạng miền Nam. Bản “Đường lối cách mạng miền Nam” (8/1956) khẳng định: “Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống lại Mĩ &#8211; Diệm để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó không có con đường nào khác”.</p>
<p>Tiếp thu Nghị quyết của Bộ Chính trị (6/1956) và “Đường lối cách mạng miền Nam” (8/1956), tháng 12/1956 Xứ uỷ Nam Bộ tiến hành Hội nghị đề ra nhiệm vụ khẩn cấp cho cách mạng miền Nam là “phải dùng bạo lực tổng khởi nghĩa giành chính quyền”, trước mắt cần “tích cực xây dựng LLVT tuyên truyền, lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng căn cứ miền núi, tranh thủ vận động, cải tạo, tập hợp các lực lượng giáo phái bị Mĩ &#8211; Diệm đánh tan rã từng mảng vào hàng ngũ nhân dân và lợi dụng danh nghĩa giáo phái ly khai để diệt ác ôn”.</p>
<p>Những chủ trương trên đây của Đảng giúp phong trào cách mạng miền Nam từng nước tháo gỡ khó khăn. Phong trào đấu tranh của quần chúng từng bước được khôi phục, phát triển và giành lại thế chủ động.</p>
<p><strong>* Xây dựng LLVT và căn cứ địa cách mạng:</strong></p>
<p>Ở Nam Bộ, do có chuẩn bị trước, lại sớm tiếp thu “Đường lối cách mạng miền Nam”, nên lực lượng vũ trang mang danh nghĩa giáo phái được thành lập ở nhiều nơi. Các đội tự vệ võ trang bí mật thành lập ở hầu khắp các tỉnh, thành phố. Đến giữa năm 1957, ở rừng U Minh (Tây Nam Bộ), Đồng Tháp Mười (Trung Nam Bộ), các đội vũ trang cách mạng hoạt động dưới danh nghĩa giáo phái Bình Xuyên, Cao Đài, Hoà Hảo,…cũng được phát triển thành các đơn vị vũ trang tuyền truyền, như các tiểu đoàn Ngô Văn Sở, tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng ở Cà Mau, tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng ở Sóc Trăng, tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng ở Cần Thơ, tiểu đoàn U Minh ở Rạch Giá, tiểu đoàn 502 ở Kiến Phong, tiểu đoàn 504 ở Kiến Tường, tiểu đoàn 506 và 508 hoạt động ở Bắc &amp; Nam đường 4 và căn cứ Rừng Sác, tiểu đoàn 510 &amp; 512 hoạt động ở khu vực Sông Tiền và Bảy Núi. Tháng 8/1957, Vĩnh Long thành lập tiểu đoàn  Trần Hưng Đạo hoạt động ở vùng Lấp Vò, Tam Bình (Sa Đéc).</p>
<p>Tháng 10/1957, tại căn cứ chiến khu Đ cũ, một đơn vị chủ lực đầu tiên ở Nam Bộ, tiểu đoàn 250, chính thức được Xứ uỷ phê chuẩn thành lập. Sự kiện này đánh dấu một bước chuyển biến rất quan trọng trong quá trình phát triển của phong trào đấu tranh cách mạng miền Nam.</p>
<p>Để có vũ khí trang bị cho LLVT, tỉnh Tân An, Chợ Lớn đã đào được vũ khí trang bị cho 3 đại đội của 3 tỉnh Mĩ Tho, Gò Công, Tân An. Ở Kiến Tường, bộ đội chủ lực đào được 280 khẩu; các huyện du kích và tự vệ mật cũng đào được đủ số súng trang bị cho từ 1 – 2 trung đội. Bên cạnh việc thành lập các đơn vị vũ trang, cấp uỷ và cán bộ phong trào ở các địa phương miền Nam đã vận động xây dựng các tổ chức nòng cốt từ đảng viên, quần chúng trung kiên đến nhân dân, bí mật cài nhân cốt và đặt cơ sở mật trong nguỵ quyền thôn xã, dân vệ và các đơn vị nguỵ quân.</p>
<p>Cùng với việc xây dựng LLVT, từ đầu năm 1957, Xứ uỷ Nam Bộ đã có kế hoạch xây dựng căn cứ địa ở Đông Nam Bộ, gồm 2 vùng căn cứ Đông Bắc và Tây Bắc. Căn cứ Đông Bắc nguyên là địa bàn chiến khu Đ cũ, được mở rộng lên giáp với biên giới Việt Nam – Campuchia; căn cứ Tây Bắc, nguyên là căn cứ Dương Minh Châu, cũng được mở rộng thêm so với trước. Năm 1958, cùng với việc mở rộng các căn cứ địa, ta xây dựng và củng cố các công binh xưởng ở Mã Đà (vùng Đông Bắc), Bà Chiêm (vùng Tây Bắc), mở các lớp đào tạo y tá, huấn luyện bộ đội biệt động, đặc công. Đối với miền Trung và miền Tây Nam Bộ, Xứ uỷ chủ trương tăng cường cán bộ và chỉ thị cho các tỉnh củng cố và mở rộng căn cứ Đồng Tháp Mười và U Minh. Riêng Cà Mau, từ năm 1958, quần chúng cách mạng đã anh dũng chống lại sự khủng bố, dồn dân của địch, rồi chủ động dời làng vào cư trú ở rừng U Minh, rừng đước Ngọc Hiển, hình thành nên “làng rừng” đầu tiên. Có “làng rừng” đông tới hàng ngàn người. Trong “làng rừng” có những đội vũ trang tự vệ, trang bị súng trường, mã tấu. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Cà Mau, các “làng rừng” đã mau chóng trở thành những căn cứ cách mạng vững chắc. Đến cuối năm 1958, Cà Mau đã xây dựng được 15 “làng rừng” với số dân lên tới 20.000 người. Đây thực sự là những làng xã tự do đầu tiên ở Nam Bộ được xây dựng dưới thời Mĩ &#8211; Diệm.</p>
<p>Tây Nguyên và các tỉnh Trung Bộ là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng. Mùa hè 1958, Khu uỷ Khu V ra Nghị quyết về xây dựng căn cứ Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh Trung Trung Bộ, lập cơ sở sản xuất, dự trữ lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược, thuốc men; động viên nhân dân tích cực tham gia làm “rẫy cách mạng”, bước đầu xây dựng lực lượng bán vũ trang và một số đơn vị vũ trang tập trung. Khu uỷ cũng chỉ đạo cho các địa phương thành lập các đội tự vệ ở các buôn, làng, xã để bảo vệ cơ sở, hỗ trợ cho các cuộc đấu tranh của quần chúng tại chỗ, giải thoát cho cán bộ khi bị địch bắt, diệt các tên phản động ác ôn, phục hồi và mở rộng các cơ sở chính trị.</p>
<p>Thực hiện chủ trương trên đây, các cán bộ, đảng viên cả miền núi và đồng bằng nhanh chóng lập ra các “rẫy cách mạng”, sản xuất lương thực, thực phẩm, từng bước phát triển thành những căn cứ của khu, tỉnh. Trong khu căn cứ, các công binh xưởng sản xuất, sửa chữa vũ khí được xây dựng. Ở Kon Tum, có xã Đoàn, Hiếu, Tung Bung, Côxia, Tân Túc, Đắc Min; ở Gia Rai có huyện 2, huyện 7; Quảng Nam có căn cứ Hiên; ở Quảng Ngãi có khu căn cứ bao gồm 22 xã thuộc vùng cao 2 huyện Trà Bồng, Sơn Hà và 12 xã trong khu vực tiếp giáp giữa 3 huyện Sơn Hải, Minh Long, Ba Tơ và 8 xã thuộc địa phận phía Nam huyện Ba Tơ. Tỉnh Bình Định có khu căn cứ Vĩnh Thạnh; Phú Yên có các khu Thồ Lồ, Ma Dú; Đắc Lắc có Plây Ya; Khánh Hoà có Vĩnh Sơn, Khánh Sơn; Ninh Thuận có Bác Ái; Bình Thuận, Lâm Đồng có Tánh Linh, Di Linh nối liền nhau từ vùng giáp ranh đồng bằng đến ven đường quốc lộ 20.</p>
<p>Việc xây dựng các khu căn cứ cách mạng ở miền Nam có ý nghĩa chiến lược to lớn, nó tạo sức mạnh vật chất và lực lượng cho cách mạng. Từ các căn cứ kháng chiến này, lực lượng cách mạng được giữ gìn và phát triển.</p>
<p><strong>* Hoạt động vũ trang tự vệ hỗ trợ quần chúng đấu tranh chính trị:</strong></p>
<p>Khi Mĩ &#8211; Diệm mở các chiến dịch “tố cộng” giai đoạn II, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng đã có hoạt động vũ trang hỗ trợ. Tuy về quy mô và mức độ hỗ trợ ở các tỉnh không đều, nhưng các hoạt động vũ trang liên tục diễn ra. Những tên tay sai ác ôn, như Lê Phú Nhung &#8211; quận trưởng quận Đầm Dơi (Cà Mau), Lê Nhất Hữu &#8211; quận trưởng Ô Môn (Cần Thơ),…bị LLVT ta trừng trị. Ngay cả đến Ngô Đình Diệm cũng bị một thanh niên dùng tiểu liên ám sát, khi Diệm lên dự lễ khai mạc hội chợ tại Buôn Mê Thuột ngày 22/7/1957. Mặc dầu Diệm thoát chết, nhưng sự kiện này “đã bị báo chí phương Tây bàn tán nhiều, gây ảnh hưởng không tốt cho chính quyền Sài Gòn”.</p>
<p>Năm 1958, nổi bật là vụ diệt tên thiếu tá Lê Quang Phong, tỉnh trưởng tỉnh Kiên Giang; vụ diệt tên Võ Hoàng Nguyên – bí thư Đảng Cần Lao và là quận trưởng quận Ba Tơ (Quảng Ngãi)… tạo nên tiếng vang lớn, có tác dụng kích thích phong trào nhiều địa phương khác.</p>
<p>Số tề ác ôn ở cấp xã, thôn, ấp bị mất tích càng nhiều hơn. Theo báo cáo của Sứ quán Mĩ tại Sài Gòn (4/1958) thì mỗi tháng có chừng 25 tên tề của Diệm bị Việt cộng giết chết. Ngay cả chính quyền Ngô Đình Diệm cũng thú nhận nhân viên chính quyền xã thôn trong năm 1958 bị quần chúng trừng trị là 193 vụ và 4 tháng đầu năm 1959 là 119 vụ.</p>
<p>Song song với các hoạt động diệt ác, trừ gian, các LLVT cách mạng vừa được xây dựng, vừa tiến hành các cuộc tiến công, uy hiếp địch. Ban quân sự miền Đông Nam Bộ quyết định dùng LLVT mang danh nghĩa Bình Xuyên tiến công thị trấn Minh Thạnh (Thủ Dầu Một). Lực lượng tham gia bao gồm bộ đội tỉnh Thủ Dầu Một, đại đội 20 của tỉnh Tây Ninh, đại đội 60 của miền Đông và Xứ uỷ, cùng lực lượng bộ đội Bình Xuyên đã được giác ngộ (tổng cộng khoảng 21 tiểu đội). Lúc 9 giờ sáng ngày 10/8/1957, quân ta tiến công tiêu diệt các ổ đề kháng vòng ngoài và bọn cảnh sát, lính bảo vệ xung quanh, rồi đột nhập vào thị trấn, tiến đánh các mục tiêu bên trong. Ta tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, thu 10 xe GMC, nhiều vũ khí, lương thực và thực phẩm. Suốt đêm 10/8, ta huy động 20 xe tải và xe ngựa của sở cao su, cùng công nhân đồn điền chuyển chiến lợi phẩm về căn cứ. Đây được xem là trận đánh đầu tiên có quy mô tương đối lớn của LLVT tập trung miền Đông.</p>
<p>Ở Cần Thơ, tháng 10/1957, nhận được tin khoảng 1 đại đội quân nguỵ sẽ tràn vào ấp Hậu Bối (xã Vĩnh Lộc), Ban Chỉ huy tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng đã quyết định đánh trả. Trận đánh diễn ra bất ngờ, mau lẹ, số địch hành quân bị tiêu diệt hoàn toàn. Ta bắt sống tên Quận trưởng và một số tù binh, thu được 3 trung liên và hàng chục tiểu liên, súng trường.</p>
<p>Sang năm 1958, các đơn vị vũ trang Rạch Giá, Cần Thơ, Cà Mau, Long An, Bến Tre…liên tiếp tấn công địch, diệt ác ôn ở Đầm Dơi (Cà Mau), Vĩnh Bình, Chợ Mới (Rạch Giá), Châu Thành (Mĩ Tho), Long Mĩ, Vị Thanh, Ô Môn (Cần Thơ), Ba Tri (Bến Tre)…</p>
<p>Ở Tây Nguyên, ngày 7/6/1958, tù chính trị ở Chudron (Plâycu) được sự hỗ trợ của LLVT đã nổi dậy khống chế địch và sau đó toàn bộ thoát ly ra căn cứ. Theo báo cáo của Phó Tỉnh trưởng Plâycu – Hà Thúc Thảo gửi Bộ Nội vụ Sài Gòn thì: “Vào hồi 16h30’ ngày 7/6/1958, trong khi phạm nhân đang làm việc dưới sự canh gác của binh lính, thì một tiếng súng nổ từ bìa rừng. Ngay lúc đó chừng 100 phiến loạn xuất hiện từ bìa rừng xông vào tước khí giới và bắt giữ 2 binh lính có nhiệm vụ canh gác… Cùng lúc ấy…15 phạm nhân ở gần nhà bếp cùng xông vào tước khí giới của binh sĩ. Đối phương làm chủ tình thế trong vòng 20 phút, chúng lục soát doanh trại, tịch thu vũ khí, tiền bạc, phá huỷ dây trời của máy truyền tin…”.</p>
<p>Nổi bật nhất trong năm 1958 là cuộc tấn công chi khu, quận lỵ Dầu Tiếng. Lực lượng địch ở Dầu Tiếng gồm 2 tiểu đoàn chính quy, một đại đội bảo an và một trung đội lực lượng cảnh sát, dân vệ tại chỗ. Vào lúc 0 giờ ngày 11/10/1958, quân ta nổ súng tấn công. Sau 30 phút chiến đấu, quân diệt và làm bị thương 300 tên, bắt 30 tên, thu 20 súng và nhiều đồ dùng quân sự. Quân ta làm chủ quận lỵ trong 24 giờ. Quân địch đóng ở 20 đồn bốt xung quanh Dầu Tiếng hoang mang bỏ chạy. Đây là trận đánh lớn đầu tiên của LLVT cách mạng miền Nam, thể hiện bước phát triển mới về thế và lực của cách mạng.</p>
<p>Tiếp đó, ngày 25/10/1958, LLVT cách mạng đã tiến công trụ sở của phái đoàn cố vấn quân sự Mĩ (MAAG) tại Biên Hoà. Được sự giúp đỡ của nhân dân và tổ chức quần chúng địa phương, các chiến sĩ đặc công đã đột nhập voà nơi chiếu phim trong trụ sở, giữa lúc bọn Mĩ đang xem phim, bọn địch hoàn toàn bị bất ngờ. Ta giết chết 13 tên Mĩ và làm bị thương 6 tên. Cuộc tấn công này làm cho Nhà Trắng lo lắng, nghi ngờ về sự “ổn định” của chế độ Diệm.</p>
<p>Trên thực tế, những hoạt động vũ trang tự vệ đã có tác dụng kích thích tinh thần đấu tranh của quần chúng và răn đe đối phương. Nó đã trở thành một hình thức đấu tranh quan trọng và cần thiết để giữ vững phòng trào, bảo vệ cách mạng, có tác dụng thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam phát triển lên một bước mới cao hơn.</p>
<p><strong>* Phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ:</strong></p>
<p>Từ khi các đội vũ trang tuyên truyền, vũ trang tự vệ ra đời, tiến hành diệt trừ một số tay sai ác ôn và đánh thắng một số trận, thì quần chúng đã có chỗ dựa tin cậy. Hoạt động vũ trang đã hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân chống địch “tố cộng”, dồn dân ở nông thôn, đồng thời khích lệ tinh thần đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống sa thải, chống bắt bớ, giam cầm, đòi tự do nghiệp đoàn của công nhân và lao động ở thành thị.</p>
<p>Năm 1957, có 150 cuộc đấu tranh lớn nhỏ chống địch dồn dân, cướp đất, đuổi nhà; đòi tự do làm ăn sinh sống, tự do khai khẩn đất hoang, canh tác và gia hạn các khế ước vay nợ đối với địa chủ. Mở đầu cho phong trào đấu tranh này là cuộc đấu tranh của đại diện nông dân ở 14 tỉnh Nam Bộ trong tháng đầu năm 1957, đòi định lại giá cả đất đai canh tác. Tiếp đó, đại biểu nông dân ở 37 xã của tỉnh Gò Công, 600 nông dân tỉnh Sa Đéc, Vĩnh Long tổ chức mít tinh, biểu tình, đưa yêu sách đòi hạ mức thuế và không được xáo cấp ruộng đất, làm ảnh hưởng không tốt tới việc trồng cây của nông dân. Giữa năm 1957, bà con nông dân xã Phước Long (quận Thủ Đức &#8211; tỉnh Gia Định) đã tập hợp nhau đấu tranh chống địa chủ, đòi giảm mức tô, thuế, hạ thấp lãi suất cho vay nợ trong những thời điểm giáp hạt. Cuộc đấu tranh đã kéo dài hàng tuần và được Hội nông dân Gia Định, Sa Đéc, Rạch Giá, Hà Tiên, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh…ủng hộ mọi mặt. Trước khí thế đấu tranh không khoan nhượng của nông dân, đối phương phải chịu nhượng bộ.</p>
<p>Ở các tỉnh Vĩnh Long, Phước Tuy…nông dân đã tổ chức những cuộc mít tinh, viết đơn thư “thỉnh cầu” các cấp chính quyền Sài Gòn, yêu cầu sửa đổi thể lệ cho nông dân vay vốn tín dụng để sản xuất, kinh doanh… Nông dân Quảng Trị, Gia Định, Châu Đốc phản đối không cho quân nguỵ đến cào nhà, triệt làng, đào mồ mả để xây dựng căn cứ quân sự và trụ sở nguỵ quyền. Ở Cà Mau, Phong Dinh, Kiến Phong, Thừa Thiên… phong trào đấu tranh của nông dân lại hướng vào thực hiện những mục tiêu, như đòi tự do làm ăn sinh sống, chống bắt dân đi khai hoang xây dựng căn cứ quân sự của địch, tố cáo tội ác của bọn mật vụ, công an tra tấn, dùng nhục hình dã man với những người yêu nước.</p>
<p>Ở Ninh Thuận, đồng bào các dân tộc thiểu số đấu tranh không làm thẻ căn cước, không rời buôn làng vào khu tập trung. Tháng 4/1958, 3.000 đồng bào ở Bác Ái vùng dậy phá khu tập trung dân. Sau đó đồng bào kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang tự vệ, bảo vệ buôn rẫy, chống dồn dân. Đồng bào Khơme đấu tranh đòi được tự do học chữ và nói tiếng của họ. Đồng bào Chăm, Hoa kiều…ở vùng biên giới An Giang lên án chính quyền Sài Gòn bắt dân luyện tập quân sự, làm xâu đi xây dựng các công trình quân sự…</p>
<p>Ở Quảng  Ngãi, nhân dân huyện Mộ Đức và Đức Phổ không thực hiện chủ trương của Mĩ &#8211; Diệm bắt dời làng vào sống trong khu “dinh điền”. Ở huyện Sơn Tịnh, địch ép dân đi hôm trước, hôm sau đồng bào đã bỏ trại về quê gần hết. Ở những nơi địch khống chế, nhân dân đã chống lại bằng cách phá máy móc, công cụ sản xuất, cơ sở vật chất, trang bị, bí mật bắt cóc, thủ tiêu tên cầm đầu rồi nổi dậy phá trại trở về.</p>
<p>Ở Tây  Nguyên, những cuộc đấu tranh chống địch phá làng, phá buôn rẫy lập khu dinh điền thu hút đông đảo đồng bào Kinh, Thượng và một số nhân viên nguỵ quyền tham gia. Được cán bộ cách mạng trong buôn làng trực tiếp lãnh đạo, nhân dân đã cắm cọc, đào hào sâu, khoanh vùng rào giữ đất, không cho quân nguỵ lấn chiếm nương rẫy, bản làng. Khi địch dùng xe cơ giới ủi phá hàng rào, toàn bộ phụ nữ đã tập trung nhau lại chặn xe, chặn quân lính, không cho chúng hành động. Bọn chỉ huy ngoan cố ra lệnh cho lính xúc cả đất và người lên xe chở đi. Lập tức hàng trăm người trẻ, già, trai, gái xông vào dùng dao, cuốc, gậy gộc…đánh trả quân địch và cứu người bị nạn. Địch buộc phải lui quân, dừng hành động ủi phá buôn rẫy.</p>
<p>Từ những tháng đầu năm 1957, công nhân các đồn điền miền Nam đã đấu tranh quyết liệt với giới chủ, đòi cải thiện đời sống, cải tiến chế độ làm việc, chống khủng bố cán bộ cơ sở, nòng cốt và những công  nhân tích cực của phong trào. Mặc dầu giới chủ đồn điền một mặt dùng vũ lực đàn áp, mặt khác giải quyết nhỏ giọt một số quyền lợi về đời sống, điều kiện làm việc, nhưng các cuộc đình công, bãi công vẫn tiếp tục. Trong năm 1957, công nhân các đồn điền ở Biên Hoà, An Lộc, Minh Thạnh, Dầu Tiếng…đã tổ chức hơn 70 cuộc đấu tranh dưới các hình thức hợp pháp và không hợp pháp.</p>
<p>Để thống nhất chủ trương và hành động, cuối năm 1957, công nhân đồn điền các tỉnh miền Đông Nam Bộ tổ chức Đại hội Đại biểu, bầu ra cơ quan lãnh đạo thống nhất trong toàn ngành. Sau khi Đại hội kết thúc, hơn 10.000 công nhân các đồn điền Xa Cát, Xa Trạch, Dầu Tiếng và hàng nghìn công nhân Lộc Ninh, Phước Hoà, Tây Ninh, Khánh Hoà, 12.000 công nhân Đà Lạt, Plâycu, Kontum, Buôn Ma Thuột đã tổ chức cuộc đấu tranh đòi quyền sống, quyền làm việc, chống bắt bớ, đánh đập, sa thải công nhân, đòi thành lập nghiệp đoàn. Trước quy mô đấu tranh rộng lớn của phong trào, giới chủ đồn điền buộc phải thoả mãn một số yêu sách.</p>
<p>Ở đô thị, từ tháng 6 đến tháng 8/1957, công nhân các nhà ga xe lửa Chí Hoà, Dĩ An, Đà Nẵng đã tổ chức hàng chục cuộc biểu tình chống chế độ làm việc hà khắc, chống đuổi việc, đòi chấm dứt bắt bớ và tra tấn, tù đày các cán bộ nghiệp đoàn. Tháng 11/1957, công nhân toàn ngành hoả xa miền Nam tiến hành Đại hội vạch chủ trương, biện pháp đấu tranh, bảo vệ quyền lợi cho công nhân và ra kiến nghị đòi chính quyền Sài Gòn trả tự do cho Chủ tịch và Thư ký nghiệp đoàn ngành, cùng những công nhân đang bị giam giữ. Những kiến nghị và yêu sách của Đại hội ngành hoả xa đã được nghiệp đoàn công nhân các ngành khác ở Sài Gòn, Chợ Lớn và một số thành phố, thị xã đồng tình ủng hộ.</p>
<p>Chỉ tính trong năm 1957, các nghiệp đoàn công nhân miền Nam đã tổ chức được hơn 450 cuộc đấu tranh lớn nhỏ. Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5/1957 của 289.000 công nhân thuộc các nhà máy, đồn điền, công sở và nhân dân Sài Gòn – Gia Định, cùng các địa phương lân cận được tổ chức tại 3 trung tâm: Công trường Diên Hồng, trường Petrus Ký, sân Tao Đàn và cùng đưa yêu sách đòi ổn định cuộc sống và thống nhất đất nước. Đây thực sự là cái mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành về nhiều mặt của giai cấp công nhân miền Nam.</p>
<p>Sang năm 1958, phong trào công nhân vẫn tiếp tục diễn ra trên diện rộng. Phong trào công nhân có sự đoàn kết, ủng hộ của nghiệp đoàn nông dân Nam Bộ, Đà Nẵng. Đỉnh cao của tinh thần đoàn kết đấu tranh trong năm 1958 được thể hiện trong cuộc biểu tình chống Mĩ &#8211; Diệm của hơn 500.000 công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp lao động khác thuộc 144 nhà máy, xí nghiệp, vùng nông thôn ngoại thành Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định vào ngày 1/5. Những người biểu tình đưa ra khẩu hiệu đòi chính quyền không được khủng bố, bắt giam, thủ tiêu những người kháng chiến, đòi để cho quần chúng được tự do hội họp, cải thiện chế độ làm việc và tiền lương cho công nhân, viên chức, đặc biệt là những người trực tiếp lao động.</p>
<p>Cùng với những hoạt động của LLVT tự vệ và phong trào diệt ác, phá kìm, những cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động, trí thức… trong giai 2 năm 1957 – 1958, một mặt góp phần làm suy yếu chính quyền Ngô Đình Diệm về chính trị, khẳng định sự bấp bênh của một chính quyền tay sai không có cơ sở xã hội; mặt khác, nó đã tạo ra những tiền đề hết sức quan trọng nhằm chuyển phong trào cách mạng miền Nam sang một bước phát triển mới cao hơn.</p>
<p><strong>3. Phong trào “Đồng khởi” (1959 – 1960).</strong></p>
<p><strong>a) Những tiền đề của phong trào:</strong></p>
<p>Chính sách phát xít của Mĩ &#8211; Diệm làm cho các tầng lớp nhân dân miền Nam hết sức căm phẫn. Mặt trận đấu tranh chống Mĩ &#8211; Diệm đã hình thành, bao gồm mọi tầng lớp, nòng cốt là công nông. Trong hàng ngũ nguỵ quân, nguỵ quyền diễn ra những mâu thuẫn ngày càng sâu sắc. Báo chí chính quyền Sài Gòn cho biết: “Ở nông thôn, Hội đồng Hương chính lừng chừng, ở thành thị, công chức thiếu tin tưởng ở thắng lợi của chính phủ quốc gia, trí thức thì hiềm nghi chế độ cộng hoà”. Bản thân Diệm cũng lo sợ một cuộc lật đổ, nên đã ra sức sàng lọc, thanh trừng nội bộ gắt gao. Trong số 123 dân biểu Quốc hội khoá I (1956), Diệm đã gạt mất 73, trong đó có cả một số trước kia tích cực ủng hộ Diệm. Các vị trí then chốt trong Quốc hội, Diệm cũng thay bằng những tay chân thân tín của y.</p>
<p>Bước sang năm 1959, làn sóng đấu tranh của quần chúng ngày càng lên cao, hoạt động vũ trang tuyên truyền, vũ trang tự vệ phát triển trên toàn miền Nam, hỗ trợ tích cực cho quần chúng chống địch lập “khu trù mật”. Rầm rộ nhất là phong trào nhân dân chống bầu cử Quốc hội khoá II của Diệm (8/1959). Nhân dân tìm mọi cách không đi bỏ phiếu hoặc làm cho lá phiếu không hợp lệ. Ở Mỏ Cày (Bến Tre), nhân dân giết chết cán bộ của địch và cướp hòm phiếu. Tại nhiều nơi ở Nam Bộ và Liên khu V, nhân dân tổ chức mít tinh, biểu tình, rải truyền đơn chống bầu cử hoặc dùng các đội vũ trang tuyên truyền tiến công vào những nơi đặt thùng phiếu để nhân dân lấy cớ không đi bỏ phiếu. Trong lúc đó, trên thế giới, các chính quyền thân Mĩ ở Irắc, Nam Triều Tiên, Thổ Nhĩ Kỳ, Cu Ba bị lật đổ, làm cho Mĩ &#8211; Diệm thêm bối rối, nguỵ quyền hoang mang dao động, biểu hiện ở một số tề điệp, dân vệ, bảo an, binh lính…đi tìm các đoàn thể cách mạng để thanh minh. Cuối năm 1959, đầu năm 1960, “chế độ thống trị ở miền Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Tuy ở thành thị địch còn tương đối mạnh, nhưng trong nhiều vùng nông thôn rộng lớn, địch không thể cai trị nhân dân một cách bình thường được nữa, nguỵ quyền cơ sở từng phần đã suy yếu và bất lực. Còn quần chúng nhân dân, đặc biệt là nông dân thì sôi sục cách mạng đã tỏ ra kiên quyết và sẵn sang chiến đấu sống chết với quân thù. Đó là điều kiện chín muồi cho phép phát động quần chúng nông thôn nổi dậy khởi nghĩa từng phần, đập tan khâu yếu nhất trong hệ thống cai trị của địch”.</p>
<p>Cách mạng miền Nam đang đứng trước thử thách nghiêm trọng nhất, đòi hỏi có phương hướng chỉ đạo kịp thời để đối phó với địch, đồng thời để duy trì và phát triển phong trào.</p>
<p>Tháng 1/1959, Hội nghị TW Đảng lần thứ 15 họp và ra Nghị quyết về đường lối cách mạng của cả nước và của miền Nam. Sau khi phân tích tình hình cụ thể, Hội nghị xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: “Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Về phương pháp cách mạng, Nghị quyết chỉ rõ: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân” và “theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với LLVT để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.</p>
<p>Như vậy, phương hướng giành thắng lợi của cách mạng miền Nam là dùng khởi nghĩa của toàn dân để giành chính quyền, nhưng Nghị quyết cũng dự đoán khả năng rằng “đế quốc Mĩ là đế quốc hiếu chiến nhất, cho nên trong những điều kiện đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam có khả năng chuyển thành một cuộc đấu tranh vũ trang”.</p>
<p>Hội nghị lần thứ 15 của TW Đảng đã cắm một mốc quan trọng và có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong sự phát triển mới của phong trào cách mạng miền Nam, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của đông đảo quần chúng cách mạng. Hội nghị không những đã đề ra được đường lối có tính nguyên tắc cho cách mạng miền Nam, mà còn đặt cơ sở để tiến tới đề ra nhiệm vụ chiến lược một cách chính xác và toàn diện.</p>
<p>Nghị quyết của Hội nghị đã động viên mạnh mẽ tinh thần cách mạng của toàn dân, tăng cường hơn nữa sự nhất trí trong Đảng về đường lối cách mạng miền Nam, tạo nên một sự chuyển biến căn bản và nhảy vọt của phong trào cách mạng miền Nam trong những năm 1959 – 1960, mà đỉnh cao là phong trào “Đồng Khởi”.</p>
<p>Tuy nhiên, do tình hình diễn biến phức tạp mà Nghị quyết lịch sử này phải một thời gian sau, từ giữa đến cuối năm 1959 mới phổ biến trong toàn Đảng bộ miền Nam.</p>
<p><strong>b) Diễn biến phong trào:</strong></p>
<p>Từ khi có Nghị quyết 15 soi sáng, phong trào cách mạng miền Nam đã có những phát triển to lớn.</p>
<p>Tại Liên khu V, sau những cuộc nổi dậy của nhiều địa phương miền núi, đêm 7/2/1959, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, nhân dân vùng B’râu, huyện Bác Ái (Ninh Thuận) đã nổi dậy phá khu tập trung, kéo nhau về buôn làng cũ. Tháng 4/1959, toàn khu tập trung Tầm Ngân của địch lại bị nhân dân phá tan. Tiếp đó 12 xã thuộc huyện Bác Ái cũng nổi dậy phá bỏ hệ thống kìm kẹp ở cơ sở, lập chính quyền cách mạng, tổ chức làng chiến đấu, xây dựng đội du kích.</p>
<p>Tiếp theo Bác Ái, từ ngày 28/8/1959, đã diễn ra cuộc khởi nghĩa Trà Bồng, một huyện miền Tây Quảng Ngãi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, 16.000 đồng bào nổi dậy đấu tranh chính trị, có sự hỗ trợ của LLVT, quét sạch nguỵ quyền 16 xã, bức địch rút 7 đồn, diệt hàng trăm tên tề nguỵ ác ôn, thành lập chính quyền cách mạng ở thôn, xã dưới hình thức Uỷ ban nhân dân tự quản.</p>
<p>Từ Trà Bồng, cuộc khởi nghĩa lan sang các huyện khác, như Minh Long, Sơn Hà, Ba Tơ. Trên một địa bàn rộng (5.000km<sup>2</sup>) bao gồm 4 huyện, với 4 dân tộc (Cor, Hrê, Cà Dong, Kinh) đã giành được thắng lợi lớn.</p>
<p>Địch đối phó quyết liệt bằng các cuộc càn quét kết hợp với bao vây kinh tế. Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Khu uỷ và Tỉnh uỷ, có các huyện xung quanh thuộc Quảng Ngãi, Quảng Nam và LLVT tỉnh, khu chi viện, Trà Bồng vẫn giữ vững và mở rộng căn cứ địa liên hoàn với các huyện ở gần.</p>
<p>Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng được coi như là một trong những cuộc khởi nghĩa từng phần đầu tiên trong giai đoạn chuyển mình của cách mạng miền Nam vào cuối năm 1959, có tác dụng thúc đẩy phong trào chung tiến lên một cách mạnh mẽ.</p>
<p>Trong khi Bác Ái và Trà Bồng đang thu được những thắng lợi, thì tại đồng bằng Nam Bộ, trên nhiều vùng rộng lớn, quần chúng cũng nổi dậy diệt ác, phá thế kìm kẹp, làm tan rã từng mảng hệ thống nguỵ quyền ở cơ sở. Ngày 26/9/1959, tại Giồng Thị Đam, xã Tân Hội, huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp), LLVT tỉnh đã đánh thắng lớn ở Gò Quản Cung, tiêu diệt 1 tiểu đoàn và làm tổn thất nặng 1 tiểu đoàn khác của địch, phá tan cuộc càn quét của địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kìm ở nhiều nơi. Cuộc nổi dậy có tính chất điển hình là cuộc Đồng khởi của nhân dân Bến Tre; ở đây, quần chúng khởi nghĩa đã sáng tạo ra những hình thức đấu tranh hết sức phong phú theo tinh thần: “Chính trị là chủ yếu, vũ trang là đòn xeo và giữ thế hợp pháp của quần chúng”.</p>
<p>Bến Tre, một tỉnh nhỏ trong các tỉnh Trung Nam Bộ, nằm về phía Đông Nam, cách Sài Gòn 86 km. Tỉnh Bến Tre bốn bề là sông nước. Ở phía Bắc, con sông Tiền ngăn cách Bến Tre với Định Tường (Tiền Giang nay). Phía Tây và Nam, sông Cổ Chiên phân ranh giới Bến Tre và Vĩnh Long và Trà Vinh. Phía Đông là biển Đông với chiều dài bờ biển 65 km. Hai con sông Ba Lai và Hàm Luông chảy giữa tỉnh, chia Bến Tre thành nhiều cù lao. Trên mỗi cù lao, sông ngòi, kênh rạch chằng chịt.</p>
<p>Nhân dân Bến Tre có truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng kiên cường. Do vậy, địch đã chọn Bến Tre làm nơi thí điểm đánh phá phong trào cách mạng. Chúng chia Bến Tre thành 7 quận, 115 xã, đồng thời xây dựng các đơn vị chủ lực, bảo an, dân vệ đủ mạnh để đàn áp cách mạng. Các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của Mĩ &#8211; Diệm đã diễn ra một cách khốc liệt. Hàng loạt cán bộ, đảng viên bị thủ tiêu. Tính đến cuối năm 1959, địch đã sát hại 2.519 cán bộ, đảng viên, bắt 17.000 người. Trong 115 xã chỉ còn 18 xã có chi bộ Đảng. Mặc dù vậy, địch vẫn không khuất phục nổi nhân dân Bến Tre. Từ cuối năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Bến Tre, phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân đã diễn ra sôi nổi. Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi Hiệp thương tổng tuyển cử, đòi tự do dân chủ, chống khủng bố, đàn áp diễn ra ở nhiều nơi.</p>
<p>Hai năm đấu tranh bằng phương pháp hoà bình không mang lại kết quả, nhân dân Bến Tre bắt đầu tổ chức những vụ diệt ác bí mật, lẻ tẻ, từng bước hình thành LLVT ngầm và bắt đầu đột nhập chiếm lấy một số đồn bốt của địch. Tình thế cách mạng trực tiếp đã xuất hiện ở Bến Tre. Ngày 17/1/1960, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Bến Tre, lệnh “Đồng khởi” được phát ra từ xã Định Thuỷ, huyện Mỏ Cày, mở đầu bằng cuộc bao vây, tiến công tiêu diệt tổng đoàn dân vệ xã. Quần chúng đồng loạt nổi dậy giương cờ và biểu ngữ, nổi chiêng trống, tạo thế uy hiếp, bao vây lực lượng dân vệ và các trụ sở tề ở thôn, xã, lùng bắt bọn ác ôn, giải tán chính quyền địch, phá bỏ tổ chức liên gia, tuyên bố quân lệnh của cách mạng: “Bọn ác ôn có nợ máu và bọn địa chủ cướp ruộng đất của nông dân sẽ bị trừng trị… Binh sĩ, sĩ quan đã có tội đến đâu mà biết hối cải đều được khoan hồng, nếu mang súng trở về với nhân dân sẽ được khen thưởng… Tề xã, ấp, liên gia trưởng, công an, chỉ điểm, đi trả chức với nhân dân sẽ được khoan hồng. Ai trái lệnh sẽ bị nhân dân trừng trị”.</p>
<p>Tỉnh uỷ đề ra yêu cầu, mục tiêu khởi nghĩa là dùng mọi cách phát động quần chúng nổi dậy mạnh mẽ, liên tục, phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ của nhân dân; ra sức phát triển lực lượng chính trị và vũ trang; củng cố và phát triển cơ sở Đảng; giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân.</p>
<p>Yêu cầu của phong trào là phải diễn ra trên một diện rộng, cùng một lúc nổi dậy ở nhiều nơi, căng lực lượng của địch, phân tán sự đối phó của chúng. Thuật ngữ “Đồng khởi” ra đời từ đây.</p>
<p>Cùng với Định Thuỷ, các xã Phước Hiệp, Bình Khánh nổi dậy phối hợp. Chỉ trong đêm 17/1/1960, cách mạng đã giành thắng lợi ở cả 3 xã, rồi lan sang các xã khác trong toàn huyện, rồi đến các huyện Thạnh Phú, Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri. Trong 8 ngày, 17 – 24/1/1960, lực lượng cách mạng đã giải phóng 22 xã, diệt hơn 200 tên địch, đánh lui nhiều cuộc càn quét, thu hơn 100 súng, bao vây bức hàng, bức rút 37 đồn bốt, phá tan bộ máy kìm kẹp trên một vùng nông thôn rộng lớn. Từ trong phong trào Đồng khởi, đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập. Vừa mới ra đời, đơn vị vũ trang đã tổ chức chiến đấu dũng cảm, diệt đồn bốt địch, lấy súng địch trang bị cho mình.</p>
<p>Ngày 22/2/1960, địch huy động 10.000 quân chủ lực từ thị xã Bến Tre, Mĩ Tho, Trà Vinh và Sài Gòn, 15 tàu chiến cùng với máy bay, đại bác tập trung tấn công vào 3 xã Định Thuỷ, Binh Khánh và Phước Hiệp. LLVT của ta sau khi làm nhiệm vụ đánh chặn, tiêu hao sinh lực địch, đã được lệnh rút khỏi vòng vây của địch.</p>
<p>Trong phong trào Đồng khởi Bến Tre, đội quân chính trị mà nòng cốt là phụ nữ đã biểu tình ngăn chặn quân địch càn quét, đấu tranh đòi chấm dứt bắn phá, đòi bồi thường nhân mạng và tài sản; kéo lên quận, tỉnh đòi địch phải bảo vệ dân, chấm dứt đưa quân càn quét, khủng bố… Tên gọi “Đội quân tóc dài” ra đời từ đây và đi vào lịch sử cách mạng Việt Nam như một dấu son chói lọi về vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp chống Mĩ cứu nước.</p>
<p>Rút kinh nghiệm của đợt I, Đảng bộ Bến Tre quyết định tổ chức Đồng khởi đợt II với quy mô lớn hơn. Huyện Giồng Trôm được chọn làm trọng điểm. Ngày 24/9/1960, nhân dân Ba Châu (Châu Phú, Châu Thời, Châu Hoà) bằng sự kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận, đã lấy gọn được 3 đồn địch, thu 60 súng mà không tốn 1 viên đạn, 1 giọt máu nào.</p>
<p>Từ thắng lợi đó, làn sóng Đồng khởi toả ra các huyện khác. Cho đến 22/10/1960, Đồng khởi đợt II đã thu được thắng lợi rực rỡ: 60 đồn địch bị san phẳng, 400 địch bị giết, 48 xã hoàn toàn giải phóng.</p>
<p>Từ Bến Tre, phong trào Đồng Khởi nhanh chóng lan rộng ra nhiều tỉnh ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh đồng bằng Liên khu V. Cách mạng đã làm chủ được một vùng rộng lớn có ý nghĩa chiến lược nối liền từ Tây Nguyên xuống miền Đông, miền Tây Nam Bộ, Nam Trung Bộ, các tỉnh đồng bằng khu V, đồng thời cũng đã thúc đẩy quần chúng ở các đô thị, đặc biệt là Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn đứng lên đấu tranh mạnh mẽ.</p>
<p>Từ phong trào Đồng Khởi, các LLVT cách mạng không ngừng lớn mạnh, tổ chức được những trận đánh có hiệu suất cao, tiêu biểu là trận Tua Hai (Tây Ninh) ngày 26/1/1960. Trong trận này, LLVT cách mạng đã diệt và làm bị thương 400 tên địch, trên 1.000 sĩ quan và binh lính nguỵ ra hàng. Trận Tua Hai là trận mở đầu cho thời kỳ đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang ở Đông Nam Bộ.</p>
<p>Với phong trào Đồng Khởi của nhân dân miền Nam trong năm 1959 – 1960, hệ thống kìm kẹp của Mĩ &#8211; Diệm ở các vùng nông thôn bị phá vỡ từng mảng, chính quyền cách mạng thành lập dưới hình thức “Uỷ ban nhân dân tự quản”, vùng giải phóng hình thành và mở rộng liên hoàn nhiều xã. Tính đến cuối năm 1960, tại các tỉnh Nam Bộ, cách mạng đã làm chủ 600 trong tổng số 1.298 xã, trong đó có 116 xã hoàn toàn giải phóng. Ở các tỉnh Trung Bộ, có 904 trong tổng số 3.829 thôn được giải phóng. Ở Tây Nguyên có tới 3.200 trong tổng số 5.721 thôn không còn chính quyền nguỵ. Theo sự thú nhận của Cục tình báo Trung ương Mĩ thì đây là “một thời kỳ nghiêm trọng đối với Tổng thống Ngô Đình Diệm và Việt Nam công hoà hiện đang ở ngay trước mắt… Trên một nửa toàn bộ vùng nông thôn nằm ở phía Nam và Tây Nam Sài Gòn, cũng như một số vùng ở phía Bắc đã nằm dưới quyền kiểm soát của cộng sản…”.</p>
<p><strong>c) Ý nghĩa của phong trào:</strong></p>
<p>Đối với địch, phong trào Đồng khởi đã “giáng một đòn bất ngờ vào chiến lược Aixenhao, làm thất bại một hình thức thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ”, làm lung lay tận gốc chính quyền Ngô Đình Diệm. Mâu thuẫn nội bộ chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng gia tăng. Ngày 26/4/1960, một nhóm cựu Bộ trưởng cùng với một số giới chức các tôn giáo và quân nhân nhóm họp tại Khách sạn Caraven (Sài Gòn) ra Tuyên ngôn tố cáo Diệm độc tài. Đỉnh cao mâu thuẫn nội bộ chính quyền Ngô Đình Diệm là cuộc đảo chính Diệm ngày 11/11/1960. Cuộc đảo chính đã bị thất bại, nhưng “nó nói lên lòng căm thù của nhân dân và binh sĩ miền Nam đối với chế độ độc tài hung bạo của Mĩ &#8211; Diệm, nó vạch trần sự thối nát, sự suy yếu và sụp đổ không thể tránh được của chính quyền Ngô Đình Diệm, tay sai của Mĩ”.</p>
<p>Đối với ta, thắng lợi của phong trào Đồng Khởi đã “đánh dấu một bước nhảy vọt quan trọng chuyển cách mạng miền Nam sang thế tiến công, phát triển cao trào cách mạng ra khắp miền với sự kết hợp cả hai hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự”. Một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở của địch ở nông thôn bị phá vỡ. Chính quyền cách mạng đã được thành lập trên một vùng rộng lớn co ý nghĩa chiến lược, nối liền từ Tây Nguyên đến miền Đông và Tây Nam Bộ, và xuống giáp đồng bằng các tỉnh ven biển miền Trung, tạo điều kiện cho nhân dân miền Nam đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” tiếp theo sau đó của đế quốc Mĩ. “Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành lấy thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thành bước đầu LLVT của nhân dân”. Nó chứng minh tính đúng đắn của Nghị quyết 15 và tính năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo của các Đảng bộ miền Nam. Thắng lợi ấy tạo ra bước phát triển nhảy vọt của lực lượng cách mạng cả về quân sự và chính trị, đẩy chính quyền Sài Gòn vào thế khủng hoảng triền miên kéo dài.</p>
<p>Phong trào Đồng Khởi đã ghi vào lịch sử cách mạng miền Nam như là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Từ trong phong trào Đồng Khởi, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời (20/12/1960) tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (Tân Biên nay), tỉnh Tây Ninh. Mặt trận chủ trương đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược và tay sai Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền liên minh dân tộc rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hoà bình, thống nhất Tổ quốc.</p>
<p><strong>IV. Miền Bắc xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội (1961 &#8211; 1965) </strong>(4 tiết).</p>
<p><strong>1. ĐHĐB Toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9 &#8211; 1960)</strong></p>
<p>Cho đến năm 1960, sự nghiệp cách mạng ở 2 miền Bắc – Nam đã có những bước tiến quan trọng, đòi hỏi Đảng phải khẳng định đường lối chiến lược, có bước đi phù hợp để đưa cách mạng Việt Nam không ngừng tiến lên. Đáp ứng đòi hỏi này, lần đầu tiên sau 30 năm hoạt động bí mật và chiến tranh, từ 5 – 12/9/1960, ĐHĐB toàn quốc lần thứ III của Đảng được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội. Tham gia đại hội có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước. Có gần 20 đoàn đại biểu các Đảng Cộng sản anh em, các đảng phái và đoàn thể trong MTTQVN đã đến dự và chúc mừng Đại hội.</p>
<p>Sau bài Diễn văn khai mạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội tập trung thảo luận “<em>Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của Kế hoạch 5 năm 1961 &#8211; 1965</em>”,… Đại hội đã kiểm điểm quá trình gần 10 kể từ Đại hội II (2/1951), cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, vạch ra đường lối đấu tranh thống nhất nước nhà và đường lối cách mạng XHCN ở miền Bắc.</p>
<p>Đại hội khẳng định rằng: Với việc miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, với những thành quả to lớn của cuộc cách mạng ruộng đất, của kế hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh, của kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế và xã hội, miền Bắc đã có thể và cần thiết phải chuyển sang giai đoạn Cách mạng XHCN. Do đó, Đại hội III được coi là “Đại hội xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà”.</p>
<p>Đại hội đã phân tích, nhận định 3 đặc điểm của miền Bắc khi bước vào thời kỳ quá độ tiến lên CNXH là:</p>
<p>- Một là, kinh tế miền Bắc là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chủ yếu dựa trên sản xuất nhỏ cá thể, cơ sở kinh tế của chủ nghĩa tư bản hết sức kém cỏi, non yếu. Công nghiệp mới phôi thai, nông nghiệp và thủ công nghiệp phân tán chiếm bộ phận lớn trong nền kinh tế quốc dân. Diện tích canh tác bình quân đầu người trên dưới 1/10 ha. Trình độ văn hoá của nông dân còn thấp, cơ sở vật chất do chế độ cũ để lại hầu như không có gì. Nền kinh tế miền Bắc trải qua 15 năm chiến tranh bị tàn phá nặng nề, năng suất lao động thấp, đời sống của nhân dân thiếu thốn về nhiều mặt. Tình hình đó, một mặt gây khó khăn cho miền Bắc khi xây dựng CNXH, nhưng mặt khác lại đòi hỏi miền Bắc phải tiến nhanh lên CNXH trên cơ sở tích cực sử dụng những thuận lợi căn bản để khắc phục khó khăn.</p>
<p>- Hai là, sự lớn mạnh của phe XHCN đứng đầu là Liên Xô là thuận lợi căn bản bảo đảm cho miền Bắc có thể bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, tiến thẳng lên CNXH.</p>
<p>- Ba là, miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN trong hoàn cảnh đất nước bị chia làm 2 miền. Miền Bắc cần phải tỏ rõ tính hơn hẳn so với miền Nam, đồng thời làm cơ sở vững chắc cho nhân dân cả nước trong cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.</p>
<p>Trên cơ sở đó, Đại hội xác định nhiệm vụ chung của cách mạng cả nước lúc này là: “<em>Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình, đẩy mạng cách mạng XHCN ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng DTDCND ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe XHCN và bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới</em>”.</p>
<p>Căn cứ vào đặc điểm tình hình ở mỗi miền, Đại hội chỉ rõ cả nước thực hiện hai chiến lược cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng DTDCND ở miền Nam, và nhấn mạnh: “Đưa miền Bắc tiến lên CNXH là một nhiệm vụ tất yếu sau khi đã hoàn thành cách mạng DTDCND. Đưa miền Bắc tiến lên CNXH, làm cho miền Bắc được ngày càng vững mạnh về mọi mặt thì chúng ta càng có lợi cho cách mạng giải phóng miền Nam… Vì vậy, tiến hành cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà”, rằng “trong sự nghiệp cách mạng DTDCND trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà, đồng bào miền Nam có nhiệm vụ trực tiếp đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mĩ và bọn tay sai của chúng để giải phóng miền Nam”.</p>
<p>Đại hội đã phân tích về mối quan hệ gắn bó, vai trò, vị trí của 2 chiến lược cách mạng: “<em>Nhiệm vụ cách mạng miền Bắc và cách mạng ở miền Nam thuộc 2 chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt. Hai nhiệm vụ đó lại nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta với đế quốc Mĩ và bọn tay sai của chúng. Thực hiện mục tiêu chung trước mắt là hoà bình thống nhất Tổ quốc</em>”.</p>
<p>Đại hội cho rằng: “Công cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc phải là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt, nhằm đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể về TLSX tiến lên nền kinh tế XHCN dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, từ chế độ sản xuất nhỏ tiến lên chế độ sản xuất lớn XHCN, từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu xây dựng thành một nền kinh tế cân đối và hiện đại”.</p>
<p>Cải tạo XHCN và xây dựng CNXH là 2 mặt của cuộc cách mạng XHCN. Do tình hình cụ thể của miền Bắc mà trong thời kỳ đầu, cải tạo XHCN là trọng tâm, trong đó cải tạo nông nghiệp là khâu chính của toàn bộ công cuộc cải tạo XHCN. Khi công cuộc cải tạo XHCN đã giành thắng lợi có tính chất quyết định thì sẽ chuyển sang lấy xây dựng CNXH làm trọng tâm, thực hiện công nghiệp hoá XHCN đồng thời hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN. Quá trình cải biến cách mạng để đưa miền Bắc tiến lên CNXH là một quá trình kết hợp cải tạo và xây dựng kinh tế với cải tạo và xây dựng văn hoá, giải quyết tốt quan hệ giữa xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng.</p>
<p>Đại hội Đảng lần III, xuất phát từ quan điểm cho rằng công nghiệp hoá XHCN là con đường duy nhất để cải biến tình trạng nông nghiệp lạc hậu, đưa nước ta từ chế độ sản xuất nhỏ lên chế độ sản xuất lớn XHCN, đã coi công nghiệp hoá XHCN là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ, trong đó, điểm mấu chốt là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trong đó ngành chế tạo máy là then chốt.</p>
<p>Như vậy, theo nhận thức và quan điểm của Đảng ta vào thời điểm đó (và trong suốt nhiều năm sau này) thì ĐHĐB Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III là cái mốc đánh dấu sự kết thúc thời kỳ cải tạo nền kinh tế về mặt sở hữu và sự mở đầu của thời kỳ xây dựng kinh tế có kế hoạch trên quy mô lớn. Ý tưởng giải quyết mâu thuẫn giữa chính quyền cách mạng tiên tiến với QHSX lạc hậu bằng cải tạo XHCN, giải quyết mâu thuẫn giữa QHSX tiên tiến với cơ sở kinh tế kỹ thuật lạc hậu bằng kế hoạch 5 năm công nghiệp hoá XHCN, lấy cách mạng KHKT làm then chốt…đã chi phối mọi hoạt động xã hội trong suốt một thời kỳ dài mà Đại hội III là một sự khẳng định chắc chắn về đường lối.</p>
<p>Từ đây, miền Bắc nước ta chuyển sang thời kỳ lấy xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH làm nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời tiếp tục hoàn thành cải tạo XHCN, củng cố và hoàn thiện QHSX mới, với khẩu hiệu hành động từ cuộc chỉnh huấn mùa xuân năm 1961, khẩu hiệu mà bây giờ chúng ta cho rằng nóng vội, chủ quan, duy ý chí, nhưng vào thời điểm đó thì hừng hực khí thế cách mạng, là “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH”.</p>
<p>Đại hội đã bầu ra BCHTW mới của Đảng gồm 47 Uỷ viên chính thức và 31 Uỷ viên dự khuyết; Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng; Lê Duẩn được bầu làm Bí thư Thứ nhất BCHTW Đảng; Bộ Chính trị gồm 11 Uỷ viên chính thức và 2 Uỷ viên dự khuyết.</p>
<p>ĐHĐB toàn quốc lần thứ III của Đảng là một sự kiện rất trọng đại trong lịch sử cách mạng nước ta. Căn cứ vào sự phát triển của thực tiễn cách mạng ở 2 miền nước ta và chiều hướng chung của cách mạng trên thế giới, Đại hội đã vạch ra được đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo nhằm đẩy mạnh cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng DTDCND ở miền Nam, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả 2 cuộc cách mạng lớn của thời đại ở trong nước và trên thế giới để đánh thắng đế quốc Mĩ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Đại hội là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng, toàn dân ta xây dựng thắng lợi CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.</p>
<p><strong>2. Miền Bắc thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1961 &#8211; 1965)</strong></p>
<p>Về cách mạng XHCN ở miền Bắc, Đại hội III của Đảng đã xác định: “<em>Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn, truyền thống phấn đấu anh dũng và lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước anh em…để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà</em>”.</p>
<p>Để đạt được mục tiêu trên đây trong thời kỳ quá độ đưa miền Bắc tiến lên CNXH, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã đề ra 5 nhiệm vụ cơ bản của Kế hoạch KTXH 5 năm 1961 – 1965:</p>
<p>“<em>a) Ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện một bước việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, phát triển công nghiệp nhẹ, phát triển giao thông vận tải, tăng cường thương nghiệp quốc doanh và thương nghiệp HTX, chuẩn bị cơ sở để tiến lên biến nước ta thành một nước công nghiệp và nông nghiệp XHCN.</em></p>
<p><em>b) Hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp TBCN tư doanh, tăng cường mối quan hệ giữa sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, mở rộng QHSX XHCN trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.</em></p>
<p><em>c) Nâng cao trình độ văn hoá nhân dân, đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ xây dựng kinh tế và công nhân lành nghề, nâng cao năng lực quản lí kinh tế của cán bộ, công nhân và nhân dân lao động, đẩy mạnh công tác khoa học và kỹ thuật, đẩy mạnh thăm dò tài nguyên thiên nhiên và điều tra cơ bản, nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế và văn hoá.</em></p>
<p><em>d) Cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân thêm một bước, làm cho nhân dân ta được ăn no, mặc ấm, tăng thêm sức khoẻ, có thêm nhà ở và được học tập; mở mang sự nghiệp phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị.</em></p>
<p><em>e) Đi đôi và kết hợp với việc phát triển kinh tế, cần ra sức củng cố quốc phòng, tăng cường trật tự an ninh, bảo vệ sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc</em>”.</p>
<p>Để cụ thể hoá đường lối cách mạng XHCN do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã thông qua, TW Đảng và Chính phủ xác định những phương hướng và chỉ tiêu cơ bản phát triển kinh tế quốc dân trong Kế hoạch 5 năm và các mối quan hệ giữa nông nghiệp với công nghiệp; giữa nhiệm vụ cải tạo XHCN với tăng cường thành phần kinh tế quốc doanh; giữa nhiệm vụ phát triển văn hoá – giáo dục với đạo tạo đội ngũ công nhân &#8211; cán bộ KHKT; giữa phát triển kinh tế với nâng cao đời sống nhân dân và tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ miền Bắc và tăng cường chi viện cho miền Nam.</p>
<p><strong>* Phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất &#8211; kỹ thuật của CNXH:</strong></p>
<p><strong><span style="text-decoration:underline;">- Về nông nghiệp:</span></strong></p>
<p>Nhiệm vụ cơ bản của KH 5 năm là: “<em>ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện</em>”. Nông nghiệp được coi là cơ sở để phát triển công nghiệp. Trong những năm đầu của KH, việc củng cố và phát triển các HTX quy mô thôn được đẩy mạnh ở đồng bằng và trung du. Trong KH phát triển nông nghiệp – nông thôn, TW coi trọng việc áp dụng những tiến bộ KHKT trong nông nghiệp, phát triển chăn nuôi, mở mang thêm nghề rừng và các nghề phụ khác, sử dụng tốt sức lao động tập thể trong các HTX, tận dụng sức lao động trong các gia đình xã viên.</p>
<p>Trong quá trình cải tiến quản lý, các HTX nông nghiệp đã tiếp tục chuyển lên bậc cao. Tính đến tháng 10/1961, trên 9.000 HTX (trong tổng số 41.000 HTX) đã lên cấp cao quy mô liên thôn. Trong những vụ đầu, năm đầu, hầu hết số HTX bậc cao ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đã phát huy sức mạnh vật chất, tinh thần, tập trung cải tạo các hệ thống thuỷ lợi nội đồng, mở mang bờ vùng bờ thửa, chủ động tưới tiêu, củng cố đê điều phòng chống lũ lụt.</p>
<p>Để khắc phục tình trạng quản lý HTX còn kém, tổ chức lao động chưa tốt, tệ tham ô, lãng phí khá phổ biến, từ năm 1963 đến năm 1965, Đảng và Chính phủ tiến hành cuộc vận động cải tiến quản lý HTX, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc.</p>
<p>Nhiều công trình thuỷ lợi được xây dựng, nhiều trạm bơm, hồ chứa nước được hoàn thành, như trạm bơm sông Mã, trạm bơm La Khê (Hà Đông), công trình thuỷ lợi Ấp Bắc – Nam Hồng (ngoại thành Hà Nội), hồ chức nước La Ngà (Vĩnh Linh),… Những công trình thuỷ lợi này đã hình thành nên một mạng lưới thuỷ lợi rộng lớn, bảo đảm tưới và tiêu nước cho 73% diện tích gieo trồng.</p>
<p>Nhằm từng bước xoá bỏ tình trạng lao động thủ công, lạc hậu trong nông nghiệp, Nhà nước chú trọng nhiều trong việc cải tiến công cụ phục vụ, phương tiện vận tải và trang bị máy kéo và các loại máy công nghiệp cho các HTX. So với năm 1960, đến năm 1965 số trạm máy kéo tăng gấp 3,3 lần, số máy kéo phục vụ các HTX nông nghiệp tăng 7,2 lần, diện tích gieo trồng được cày bằng máy tăng gấp 14,5 lần, số máy bơm nước tăng gấp 9,7 lần…</p>
<p>Những biện pháp trên đã làm tăng năng suất lúa. Đến cuối 1965, có 7 huyện và 610 HTX đạt hoặc vượt mức năng suất 5 tấn thóc/héc-ta. Nông nghiệp cũng từng bước phá thế mất cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi; năm 1955 chăn nuôi đạt 15,3% tổng giá trị sản lượng nông nghiệp, năm 1965 đạt tới 22,9%.</p>
<p>Kết thúc KH 5 năm (1961 &#8211; 1965) có 90,1% số hộ nông dân vào HTX, trong đó có 60,1% HTX bậc cao, với số diện tích đưa vào sản xuất tập thể là 80,3% toàn bộ diện tích canh tác. Các HTX Đại Phong (Quảng Bình), Tân Phong (Thái Bình),… đã trở thành ngọn cờ đầu, tiêu biểu cho phong trào nông nghiệp miền Bắc ở thời kỳ này.</p>
<p>* Những hạn chế của nền nông nghiệp miền Bắc thời kỳ này:</p>
<p>Vật tư nông nghiệp thiếu trầm trọng. Lao động thủ công vẫn chiếm đại bộ phận trong các HTX, lao động cơ giới chiếm tỷ lệ không đáng kể (năm 1965 có 1,9% diện tích được cày bằng máy). Trình độ văn hoá, KHKT của nông dân chưa thay đổi bao nhiêu. Tốc độ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mới trong các HTX còn rất chậm. Năm 1962, trung bình mỗi HTX chỉ có 78,4ha đất canh tác, 41 con trâu bò, 55 chiếc cày bừa cải tiến, 0,3 chiếc máy tuốt lúa, 0,3 chiếc máy bơm, 10 chiếc xe và thuyền vận tải thô sơ.v.v.</p>
<p>Sự trói buộc của cơ chế quản lý quan liêu bao cấp, sự yếu kém về trình độ, sự lúng túng trong cách làm ăn mới, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, thiên tai luôn đe doạ.v.v.là những nguyên nhân chủ yếu khiến nông nghiệp phát triển chậm.</p>
<p>Việc hợp tác hoá và phát triển HTX bậc cao bị nhiều địa phương do chạy theo thành tích nên làm ồ ạt, không theo đúng hướng dẫn của TW, khả năng quản lý lại yếu nên dẫn đến tình trạng các HTX trì trệ, yếu kém. Bên cạnh những HTX có sự phát triển tốt, rất nhiều HTX sản xuất kém, đời sống xã viên thấp. Năm 1963 có đến 52% số hộ thiếu ăn từ 2 tháng trở lên; có 44.659 hộ xã viên xin ra khỏi HTX (chiếm 17% nông hộ toàn miền Bắc). Một số HTX có quy mô quá lớn (liên thôn, xã) do không quản lý nổi, lại phải tách nhỏ trở lại.</p>
<p>Rõ ràng, tư tưởng chủ quan, duy ý chí, vội vã thủ tiêu nền kinh tế nhiều thành phần, đánh đồng giữa hợp tác hoá với tập thể hoá, thiếu tôn trọng tính tự nguyện của người nông dân.v.v. đã dẫn đến những hạn chế to lớn trong nông nghiệp. Một cái nhìn chung cho thấy: nền nông nghiệp những năm đầu sau khi hợp tác hoá phát triển chưa cao, chưa vững chắc, chưa có những chuyển biến thật sự mạng tính cách mạng.</p>
<p>Tuy nhiên, những thành tựu của nông nghiệp, của HTX có được trong giai đoạn này vẫn có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển trong giai đoạn sau đó, giai đoạn chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ.</p>
<p><strong><span style="text-decoration:underline;">- Về công nghiệp:</span></strong></p>
<p>Trong thời kỳ 1961 – 1965, Nhà nước đã dành ưu tiên đầu tư đến 48% vốn xây dựng cơ bản của nền kinh tế quốc dân để đầu tư cho công nghiệp nói chung, trong đó đầu tư cho công nghiệp nặng chiếm 80%. Nhiều xí nghiệp công nghiệp nặng với quy mô tương đối lớn và trang bị hiện đại đã được xây dựng. Một số đã được cơ khí hoá hoặc tự động hoá một phần dây chuyền sản xuất. Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên được khởi công xây dựng từ tháng 9/1960, sau KH 5 năm đã có nhiều hạng mục công trình được hoàn thành, như nhà máy điện Thái Nguyên, Lò cao số 1, số 2 và Xưởng luyện cốc. Tháng 1/1964, nhà máy nhiệt điện Uông Bí đã đi vào sản xuất. Tháng 8/1964, công trình thuỷ điện Thác Bà được khởi công. Một số nhà máy điện phục vụ địa phương cũng được xây dựng, như ở Việt Trì, Thanh Hoá,… Đến năm 1965, sản lượng điện tăng gấp 2,5 lần so với năm 1960, trong đó sản lượng điện phục vụ nông nghiệp tăng gấp 8,4 lần 1960. Những xí nghiệp hoá chất, như Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao, Nhà máy phân đạm Bắc Giang cũng đã bước vào sản xuất trong thời kỳ này.</p>
<p>Trong KH 5 năm 1961 – 1965, ngành công nghiệp nhẹ cũng được chú ý phát triển, tập trung vào các ngành công nghiệp thực phẩm, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, như các nhà máy giấy, đường, miến, mì chính, sứ, pin, dệt kim… Cuối năm 1965, miền Bắc đã sản xuất gần tới 80% hàng tiêu dùng trong nước với 12.000 mặt hàng khác nhau.</p>
<p>Để đáp ứng sự phát triển của công nghiệp và nông nghiệp, các công trình giao thông đã được xây dựng thêm. Cầu Hàm Rồng và đoạn đường sắt Vinh &#8211; Đồng Hới đã hoàn thành. Các tuyến đường ô tô đến các huyện miền núi được mở thêm. Năm 1964, khối lượng hàng hoá do ngành đường sắt vận chuyển tăng gấp 3 lần so với năm 1938 trên toàn Đông Dương; hàng hoá vận chuyển bằng đường ô tô năm 1965 tăng gấp 6 lần năm 1955, đường sông tăng gấp 4,5 lần.</p>
<p>* Những hạn chế trong công nghiệp:</p>
<p>Điện mới chỉ chủ yếu phục vụ công nghiệp, còn nông nghiệp và thủ công nghiệp và phục vụ dân sinh thì chưa được bao nhiêu. Ngành cơ khí cũng chỉ mới đáp ứng được khoảng 10% thiết bị, còn lại phải nhập khẩu. Ngành than năng suất thấp, sản lượng không tăng, chất lượng kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của các ngành trong nước và xuất khẩu. Ngành luyện kim mới ở giai đoạn đầu, sản phẩm còn ít ỏi. Ngành vật liệu xây dựng mới chỉ đáp ứng được nhu cầu Nhà nước, chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu nhân dân, kỹ thuật còn thô sơ. Nhiều ngành công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng còn yếu, chưa giải quyết được sự khan hiếm hàng hoá và nhu cầu của nhân dân ngày một gia tăng(dệt, da, may mặc…).</p>
<p>Tóm lại, công nghiệp miền Bắc 1961 – 1965 có một bước tiến đáng kể. Phần lớn công nghệ phẩm phục vụ nhu cầu nhân dân là do công nghiệp trong nước sản xuất. Các ngành công nghiệp cơ bản như điện, cơ khí, luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng, nhiên liệu, dệt, da…đã hình thành dù còn nhỏ bé, nhưng là chỗ dựa, là nòng cốt của toàn bộ nền công nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào mục tiêu công nghiệp hoá XHCN mà Đảng đề ra thì rõ ràng là nền công nghiệp miền Bắc chưa đạt được trình độ mong muốn. Giá trị sản lượng công nghiệp mới chỉ đạt khoảng 50% tổng giá trị công nông nghiệp. Sô nhân công trong công nghiệp mới chỉ chiếm 5% số người trong độ tuổi lao động. Năng suất lao động còn quá thấp. Khả năng cung cấp TLSX cho các ngành kinh tế quốc dân còn quá nhỏ bé (Ngành cơ khi mới chỉ cung cấp được 20% máy móc cần thiết, chất lượng thấp). Tốc độ phát triển công nghiệp chậm hơn so với thời kỳ khôi phục và cải tạo.v.v. Nguyên nhân hạn chế là do không giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp nặng với công nghiệp nhẹ, giữa xí nghiệp quy mô lớn với quy mô nhỏ, giữa xây dựng xí nghiệp mới và cải tạo xí nghiệp cũ; do KHKT chưa đáp ứng được những yêu cầu của các ngành sản xuất công nghiệp (các cơ quan nghiên cứu phục vụ sản xuất, cán bộ KHKT ít và hạn chế, khả năng quản lý xí nghiệp còn yếu).v.v. Rõ ràng, việc ưu tiên phát triển thái quá ngành công nghiệp và khu vực kinh tế quốc doanh trong kế hoạch phát triển đầu tiên này đã dẫn đến tình trạng mất hiệu quả kinh tế, phụ thuộc vào nước ngoài, nông nghiệp đình trệ. Tuy nhiên, vẫn phải khẳng định những gì mà ngành công nghiệp đạt được trong KH 1961 – 1965 cũng rất đáng kể, là bước đầu quan trọng đặt nền tảng xây dựng nền công nghiệp nước nhà.</p>
<p><strong><span style="text-decoration:underline;">- Về thương nghiệp quốc doanh:</span></strong></p>
<p>Do được Nhà nước ưu tiên phát triển nên đã nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường, góp phần củng cố QHSX XHCN. Năm 1965, cùng với HTX mua bán, thương nghiệp quốc doanh đã bán lẻ được khối lượng hàng hoá tăng 84,3% so với năm 1960.</p>
<p>Riêng ngoại thương, có 35 nước ở khắp các châu lục có quan hệ buôn bán, trao đổi với nước ta (so với 1955 có 10 nước, trong đó có 7 nước XHCN). Ngoại thương phát triển đã góp phần bảo đảm cung cấp thiết bị cho công nghiệp và kích thích nhiều ngành sản xuất, đặc biệt là thủ công nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu.</p>
<p><strong>* Phát triển văn hoá, giáo dục, y tế:</strong></p>
<p>- Đời sống kinh tế phát triển đòi hỏi sự nghiệp giáo dục phát triển để nâng cao đời sống văn hoá của nhân dân. Số học sinh phổ thông năm học 1965 – 1966, khi kết thúc KH 5 năm, là 2.934.900 người (năm học 1960 – 1961 là 1.899.000). Xã nào cũng có trường cấp I; trung bình 2 xã có 1 trường cấp II. Số người học bổ túc văn hoá khoảng 1 triệu. Trình độ văn hoá của công nhân, viên chức nói chung được nâng lên ngang cấp II; trình độ cán bộ xã và HTX nâng lên ngang lớp 4 – 5. Nhiều trường phổ thông nông nghiệp, công nghiệp, trường thanh niên lao động XHCN được thành lập đã giải quyết được việc nâng cao trình độ văn hoá cho người lớn tuổi.</p>
<p>Ngành giáo dục đại học phát triển với 3 hình thức đào tạo: dài hạn, chuyên tu và tại chức. Năm học 1965 – 1966 có 21 trường với 3.390 giảng viên và 34.208 sinh viên (gấp hơn 2 lần 1960 – 1961 có 10 trường với 1.260 giảng viên và 16.690 sinh viên).</p>
<p>Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp cũng được mở rộng, năm 1965 có 154 trường với 3.159 giáo viên và 60.018 học sinh.</p>
<p>Việc đào tạo giáo viên một cách chính quy được đẩy mạnh: năm 1960 có trên 44 nghìn giáo viên phổ thông và hơn 1.200 giảng viên đại học; năm 1965 có gần 79 nghìn giáo viên phổ thông và trên 2.500 giảng viên đại học.</p>
<p>Công tác nghiên cứu, thí nghiệm và áp dụng KHKT được đẩy mạnh. Việc nâng cao trình độ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa KHKT vào sản xuất, đặc biệt là trong nông nghiệp và giao thông vận tải.</p>
<p>Đánh giá một các tổng quát, có thể thấy sự nghiệp giáo dục đào tạo sau hơn 10 năm đã có một bước phát triển nhanh chóng và toàn diện, cả về ngành học, số người học, về đội ngũ giáo viên, cũng như việc xoá mù chữ, nâng cao trình độ học vấn cho các tầng lớp nhân dân nói chung. Mặc dù trình độ chưa thật cao, nhưng sự tiến bộ của trình độ học vấn đã tạo điều kiện tốt để tiếp thu đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, tiếp thu và ứng dụng các thành tựu KHKT, thưởng thức các tác phẩm văn học, nghệ thuật.</p>
<p>Cùng với sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp y tế cũng đạt được nhiều thành tích đáng kể. Tính đến cuối 1965, toàn miền Bắc đã có 1.525 bác sỹ, tăng gấp 3 lần so với năm đầu KH, với 618 bệnh viện, bệnh xá và viện điều dưỡng. Khắp các xã đều có mạng lưới phòng và chữa bệnh, bao gồm hơn 6 vạn y sĩ, y tá và nữ hộ sinh với hơn 5.000 trạm y tế xã. Việc bảo vệ bà mẹ và trẻ em được chăm lo. Công tác phòng chống dịch được thực hiện tốt, các bệnh phổ biến như sốt rét, lao, đau mắt hột.v.v. được đẩy lùi.</p>
<p>* Về đời sống nhân dân:</p>
<p>Tốc độ sinh đẻ tăng nhanh, tỷ lệ chết giảm mạnh, sau 10 năm dân số tăng thêm 6 triệu người, là một áp lực đáng kể lên việc thực hện KH 5 năm.</p>
<p>Mặc dù Đảng – Nhà nước có nhiều cố gắng, nhưng do còn nhiều khó khăn, nên mức sống vật chất của người dân còn chưa được cải thiện nhiều. Phần thu nhập chính của nhân dân rất thấp, chủ yếu dành cho ăn, còn vấn đề mặc, ở và các chi khác là rất ít. Việc ăn cũng chỉ đang ở mức phấn đấu đủ ăn (trung bình 10kg gạo/người), nông thôn hàng năm có từ 8 – 15% thiếu ăn. Về vải mặc, trung bình mỗi người được 3,5m/năm. Mới chỉ khoảng 15% dân số có đủ chăn màn và quần áo ấm. Năm 1965, với trên 15 triệu nông dân, cứ 300 hộ mới có 1 hộ làm nhà mới, số nhà ngói chiếm 17% ở khu vực đồng bằng.</p>
<p>Tuy nhiên, các thành tựu về giáo dục, y tế, văn hoá lại có ý nghĩa rất lớn đối với việc không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Tất cả, từ những biến đổi còn nhỏ nhoi về đời sống vật chất đến những thay đổi lớn lao trong đời sống văn hoá tinh thần, đã góp phần tạo nên một sắc thái mới, một khi thế mới trong xã hội, là nguồn động lực cho các phong trào thi đua yêu nước của nhân dân miền Bắc trong thời kỳ thực hiện KH 5 năm lần thứ nhất.</p>
<p><strong>* Các phong trào thi đua tiêu biểu: </strong></p>
<p>Trong nông nghiệp có phong trào “Học tập, tiến kịp và vượt HTX nông nghiệp Đại Phong”. Đại Phong(Quảng Bình), lá cờ đầu của ngành nông nghiệp, trở thành mục tiêu phấn đấu của nông dân miền Bắc, nhất là thanh niên nông thôn. TW Đoàn phát động thành phong trào thi đua phấn đấu trở thành “Trai, gái Đại Phong”.</p>
<p>Trong công nhân có phong trào “Học tập Duyên Hải, thi đua với Duyên Hải”. Nhà máy cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng).</p>
<p>Trong thủ công nghiệp có HTX Thành Công (Thanh Hoá).</p>
<p>Trong ngành giáo dục có phong trào thi đua “Hai tốt” (Học thật tốt, dạy thật tốt) theo gương thầy trò trường cấp II Bắc Lý (Lý Nhân – Hà Nam)</p>
<p>Trong quân đội có phong trào “Ba nhất”</p>
<p>Cả miền Bắc đều lấy những điển hình của ngành mình, dấy lên một phong trào thi đua sôi nổi “Gió Đại Phong, sóng Duyên Hải, cờ Ba Nhất, trống Bắc Lý”. Trong công nhân viên chức, Đảng – Nhà nước phát động phong trào thi đua “Tổ đội lao động XHCN”. Tháng 5/1962, Đại hội anh hùng chiến sỹ thi đua toàn quốc lần III được tổ chức, tuyên dương 4 tập thể điển hình trên và 45 anh hùng lao động khác.</p>
<p>Tháng 3/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “Hãy đẩy mạnh phong trào thi đua “mỗi người làm việc bằng hai”, kiên quyết vượt mọi khó khăn, ra sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam”. Cả miền Bắc sôi nổi hưởng ứng, bước vào công cuộc vừa sản xuất vừa chiến đấu xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam. Các phong trào thi đua mới lại xuất hiện.</p>
<p>Trong thanh niên có phong trào “Ba sẵn sàng”, xuất phát từ sáng kiến của thanh niên Hà Nội, do TW Đoàn phát động 2/1965 (Sẵn sàng chiến đấu dũng cảm và sẵn sàng vào bộ đội; Sẵn sàng khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, học tập trong bất kỳ tình huống nào; Sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến). Đến 5/1965 đã có 2,5 triệu nam nữ thanh niên tham gia “Ba sẵn sàng”. Đó là một phong trào cách mạng rộng lớn, một chiến trường lập công, một trường học vĩ đại bồi dưỡng thế hệ thanh niên anh hùng của dân tộc.</p>
<p>Trong phụ nữ có phong trào “Ba đảm đang” (3/1965). Đó là: Đảm đang sản xuất, thay thế chồng con đi chiến đấu; Đảm đang gia đình để chồng con yên tâm chiến đấu; Đảm đang công tác xã hội và phục vụ chiến đấu khi cần thiết. Đến 7/1965 đã có 1,7 triệu phụ nữ tham gia “Ba đảm đang”.</p>
<p>Rõ ràng, những điều kiện lịch sử mới của công cuộc xây dựng CNXH đã tạo cơ sở cho phong trào quần chúng, cho việc huy động sức mạnh toàn dân và nâng lên tầm vóc mới; đến lượt nó, phong trào và sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân trong điều kiện mới đã góp phần quyết định hoàn thành KH 5 năm lần thứ nhất, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam.</p>
<p><strong>* Củng cố vào bảo vệ chính quyền cách mạng:</strong></p>
<p>Những thành tựu về các mặt kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế trong KH 5 năm (1961 &#8211; 1965) không tách rời với việc củng cố chính quyền nhân dân các cấp từ TW xuống các địa phương. Tháng 10/1962, Quốc hội thông qua Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân các cấp. Đạo luật này quy định tất cả các đơn vị hành chính địa phương đều có Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính. Hội đồng nhân dân sẽ quyết định các vấn đề về kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương; quy định trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc thực hiện kế hoạch kinh tế, văn hoá của Nhà nước; đồng thời cũng quy định sự lãnh đạo thống nhất của Hội đồng Chính phủ và các Uỷ ban Hành chính cấp trên đối với cấp dưới.</p>
<p>Ngày 27/3/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập “Hội nghị Chính trị đặc biệt” tại Hà Nội, gồm các đại biểu thay mặt các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo; đồng bào miền Nam tập kết, kiều bào mới về nước và các tầng lớp nhân dân để đánh giá và biểu dương thành tích đấu tranh và xây dựng của nhân dân ta trong 10 năm. Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định sau 10 năm khôi phục, cải tạo “miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội, con người đều đổi mới”. Cũng tại Hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Hiện nay, bọn hiếu chiến Mĩ và bè lũ tay sai mới của chúng lại ba hoa hô hào “Bắc tiến”. Nhưng chúng phải hiểu rằng: Nếu chúng liều lĩnh động đến miền Bắc thì nhất định chúng sẽ bị thất bại thảm hại. Vì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đánh lại chúng, vì các nước XHCN và nhân dân tiến bộ toàn thế giới sẽ hết lòng ủng hộ ta; vì nhân dân Mĩ và các nước đồng minh của Mĩ cũng sẽ phản đối chúng.</p>
<p>Tình hình miền Nam hiện nay chứng tỏ một cách rõ rệt sự thất bại không thể tránh khỏi của đế quốc Mĩ trong cuộc chiến tranh đặc biệt này”; đồng thời kêu gọi nhân dân miền Bắc ra sức thi đua “mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp lại đồng bào miền Nam ruột thịt”.</p>
<p>Tiếp theo, ngày 26/4/1964, cuộc bầu cử Quốc hội khoá III đã được tiến hành trên toàn miền Bắc.Tổng số đại biểu trúng cử là 366, bao gồm đại biểu công nhân, nông dân, quân nhân, trí thức, dân tộc thiểu số. Quốc hội khoá III còn có 87 đại biểu miền Nam đã trúng trúng cử khoá II được kéo dài nhiệm kỳ, nên tổng số đại biểu Quốc hội khoá III là 453 người.</p>
<p>Thời gian thực hiện KH 5 năm (1961 &#8211; 1965) cũng là thời gian đế quốc Mĩ tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, và đẩy mạnh hoạt động gián điệp khiêu khích đối với miền Bắc. Vì vậy, việc tăng cường xây dựng LLVT được Đảng và Chính phủ quan tâm xúc tiến. Ngày 15/4/1960, Luật Nghĩa vụ quân sự được ban hành. Các tổ chức công an, toà án, viện kiểm sát nhân dân được tăng cường xây dựng và hoạt động, kiên quyết trấn áp những phần tử phản động cùng bọn gián điệp, biệt kích do Mĩ &#8211; Diệm tung ra phá hoại công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân miền Bắc.</p>
<p>Công tác đối ngoại cũng được Đảng và Chính phủ quan tâm phát triển. Năm 1961, nhiều đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ và Quốc hội đã đi thăm các nước Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp Khắc, Ba Lan, Mông Cổ. Năm 1965, các đoàn đại biểu kinh tế Chính phủ Việt Nam đã có những cuộc đàm phán với các nước anh em, góp phần tăng cường lực lượng kinh tế, quốc phòng và tăng sức chiến đấu của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước.</p>
<p>Cũng trong thời gian này, quan hệ Việt Nam với các nước Á, Phi, Mĩ La Tinh cũng được mở rộng hơn. Tháng 1/1960, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Cu Ba. Năm 1961, đặt quan hệ ngoại giao với Cộng hoà Ghinê và Cộng hoà Mali,… Quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Campuchia được đặc biệt quan tâm. Từ ngày 1 – 9/3/1965, ba nước đã tổ chức Hội nghị Nhân dân Đông Dương, khẳng định quyết tâm đoàn kết của nhân dân 3 nước trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân.</p>
<p>Với những thành tựu quan trọng đạt được trong KH 5 năm lần thứ nhất, bộ mặt miền Bắc đã có nhiều thay đổi và đã trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc của cách mạng Việt Nam, chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. Trong hai năm 1963 – 1964, nhiều tiểu đoàn, trung đoàn bộ đội đã được cử vào miền Nam chiến đấu, số quân bổ sung cho chiến trường miền Nam tăng hơn 2 lần so với hai năm trước đó. Tuyến chi viện hậu cần Bắc – Nam được mở rộng, khối lượng vũ khí, đạn dược được chuyển vào chiến trường miền Nam cũng tăng gấp 1,5 lần.</p>
<p>Kế hoạch 5 năm đang thực hiện có kết quả tốt, thì ngày 5/8/1964, đế quốc Mĩ cho máy bay ném bom bắn phá một số nơi trên miền Bắc. Đến ngày 7/2/1965, Mĩ chính thức gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân trên toàn bộ lãnh thổ miền Bắc nước ta. Từ đó, miền Bắc phải chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế cho phù hợp với tình hình thời chiến.</p>
<p>Ngày nay nhìn lại, chúng ta thấy đường lối xây dựng và phát triển KTXH trong thời kỳ 1961 – 1965 thực chất là đường lối thực hiện kế hoạch hoá tập trung với toàn bộ xã hội. Chiến lược kinh tế dựa trên công nghiệp hoá (mà đặc thù của nó là quá chú trọng vào các ngành công nghiệp cơ bản), thiên về mục đích tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp, ít quan hệ buôn bán với nước ngoài, một nền nông nghiệp với giai cấp nông dân đã được tập thể hoá và những hạn chế ngặt nghèo đối với kinh tế tư nhân, cá thể đã làm nảy sinh những hậu quả nghiêm trọng mà suốt một thời kỳ dài chúng ta chưa nhận thức được đầy đủ. Trước đây, mọi sự đánh giá đều lấy chuẩn mực là việc hoàn thành hay không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước đặt ra cho mỗi ngành, mỗi cơ quan, đơn vị. Bao trùm và xuyên suốt tất cả là cái gọi là QHSX XHCN. Thời kỳ 1961 – 1965 vẫn được coi là thời kỳ xác lập một cách dứt khoát QHSX XHCN. Và QHSX XHCN cũng từng được coi là thành tựu lớn nhất của thời kỳ này. Kinh tế quốc doanh hoạt động dựa vào sự bao cấp hoàn toàn của Nhà nước và do vậy có tốc độ tăng trưởng khá, dần dần chiếm lĩnh vị trí chủ đạo của nền kinh tế. Kinh tế tập thể &#8211; nông nghiệp là chủ yếu, kế đó là thủ công nghiệp và một số ngành khác – cũng được bao cấp một phần, cũng buộc phải hoạt động theo sự chỉ đạo của Nhà nước, từ khâu sản xuất cho đến khâu lưu thông, phân phối sản phẩm. Trong khi nội dung của QHSX XHCN chưa được nhận thức một cách rõ ràng, mà mọi hoạt động của xã hội lại đều hướng vào mục tiêu củng cố và hoàn thiện nó, do vậy ở hầu hết các ngành đều vấp phải những lúng túng, vá víu, méo mó, khập khiễng, thậm chí có cả sự đổ vỡ. Những mục tiêu kinh tế lớn mà KH 5 năm lần thứ nhất đề ra, trong thực tế đã không thực hiện được trọn vẹn. Tuy nhiên, cần phải nói rằng, về mặt văn hoá, xã hội, thời kỳ 1961 – 1965, miền Bắc đã đạt được những thành tựu lớn lao. Đó là thành tựu trong việc tạo nên sự bình đẳng xã hội, trong việc cung cấp những dịch vụ xã hội cơ bản trên diện rộng và cố gắng thu hẹp khoảng cách về đời sống giữa nông thôn và thành thị. Đặc biệt hệ thống giáo dục và y tế phục vụ mọi người là một tài sản quan trọng đối với một nước có điều kiện lịch sử như nước ta vào thời kỳ này. Đó chính là nền tảng, là động lực của phong trào thi đua yêu nước, tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng đất nước trong hoàn cảnh đói ăn, thiếu mặc, thiếu tri thức của các tầng lớp nhân dân lao động miền Bắc, nhằm hướng tới một cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc; hướng tới một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.</p>
<p><strong>V. Miền Nam chiến đấu chống &#8220;Chiến tranh đặc biệt&#8221; của Mĩ (1961 &#8211; 1965)</strong> (4 tiết).</p>
<p><strong>1. Mĩ tiến hành chiến lược &#8220;Chiến tranh đặc biệt&#8221; ở miền Nam.</strong></p>
<p>Phong trào Đồng Khởi 1959 – 1960 đã đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của cách mạng miền Nam. Từng mảng bộ máy cai trị và hệ thống kìm kẹp của nguỵ quyền Sài Gòn ở thôn xã bị phá vỡ. Phong trào Đồng Khởi rõ ràng đã làm tiêu tan hy vọng của Mĩ trong việc muốn biến miền Nam Việt Nam thành “con đê” ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam châu Á, làm lộ rõ bộ mặt tay sai bán nước của tập đoàn Ngô Đình Diệm, tạo ra một bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến lược ở miền Nam Việt Nam theo hướng có lợi cho cách mạng. Trong báo cáo gửi Tổng thống Mĩ cuối năm 1960, Đại sứ Nâutinh đã thú nhận: “<em>Việt cộng dần dần mở rộng quyền kiểm soát ở nông thôn, nếu những tiến bộ như hiện nay của cộng sản cứ tiếp diễn thì có nghĩa là sẽ mất Việt Nam vào tay cộng sản</em>”. Rõ ràng, trong thực tế, với phong trào Đồng Khởi, chính sách xâm lược của Mĩ ở miền Nam bằng những biện pháp cổ truyền (điển hình) của chủ nghĩa thực dân mới đã bị thất bại.</p>
<p>Mặt khác, cuối những năm 50, đầu những năm 60, tình hình thế giới đã có nhiều chuyển biến không có lợi cho các nước đế quốc nói chung, Mĩ nói riêng. Năm 1958, chính phủ thân Mĩ ở Irắc bị lật đổ. Năm 1959, cách mạng Cu Ba thắng lợi. Tháng 4/1961, Mĩ thất bại trong vụ đưa quân đánh thuê xâm lược Cu Ba ở vịnh Con Lợn và vấp vào vụ khủng hoảng tên lửa ở vùng Caribê tháng 10/1962, buộc phải cam kết không xâm lược Cu Ba để đổi lấy việc Liên Xô rút tên lửa khỏi nước này. Ở Lào, cuộc đảo chính ngày 9/8/1960 dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền thân Mĩ. Cũng thời điểm này, chiến lược quân sự toàn cầu “Trả đũa ồ ạt” tượng trưng cho sức mạnh của Mĩ cùng với những chính sách và biện pháp để thực hiện chiến lược đó đã không ngăn chặn được sự lớn mạnh của các nước XHCN, nhất là Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Cuộc chạy đua vũ trang giữa Mĩ và Liên Xô đang diễn ra gay gắt. Liên Xô đã vượt Mĩ về chế tạo vũ khí hạt nhân.</p>
<p>Trong tình thế đó, để tiếp tục giữ vững miền Nam trong quỹ đạo của Mĩ, năm 1961, vừa bước vào Nhà Trắng, tập đoàn Kennơđi – Giônxơn đã xem xét, đánh giá lại toàn bộ tình hình thế giới và trong nước, và đi đến quyết định loại bỏ chiến lược “trả đũa ồ ạt”, vì không ngăn chặn nổi những cuộc chiến tranh nổi dậy (chiến tranh giải phóng), tiêu biểu là ở Việt Nam và chấp nhận phương hướng chiến lược toàn cầu mới do Macxim Taylo đề xướng: Chiến lược quân sự “Phản ứng linh hoạt”. Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là 1 trong 3 loại chiến tranh của chiến lược quân sự “Phản ứng linh hoạt” (Chiến tranh thế giới, Chiến tranh cục bộ, Chiến tranh đặc biệt).</p>
<p>Ngày 29/4/1961, Hội đồng An ninh Quốc gia Mĩ duyệt y bản “Chương trình hành động của Mĩ ở Nam Việt Nam”, gồm chính sách, biện pháp và các bước tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam. Ngày 11/5/1961, Kennơđi chính thức phê chuẩn các quyết định của Hội đồng An ninh Quốc gia, trong đó mục tiêu và hành động của Mĩ ở miền Nam được xác định là nhằm: “<em>Để ngăn chặn cộng sản thống trị Nam Việt Nam,… để xúc tiến với nhịp độ ngày càng nhanh một loạt những hoạt động hỗ trợ lẫn nhau có tính chất quân sự, chính trị, kinh tế, tâm lí và không công khai nhằm thực hiện mục tiêu nói trên</em>”; đồng thời với việc chuẩn y các biện pháp trên đây, để tranh thủ các đồng minh châu Á và làm cho chính quyền quân sự Sài Gòn yên tâm về chính sách của Mĩ, thăm dò khả năng triển khai quân Mĩ vào miền Nam Việt Nam, ngay trong tháng 5/1961, Chính phủ Mĩ cử Phó Tổng thống Giôn-xơn sang thăm các nước Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Ấn Độ, Pakitxtan và miền Nam Việt Nam. Tại Sài Gòn, ngày 13/5/1961, Giôn-xơn và Ngô Đình Diệm đã kí với nhau một bản <span style="text-decoration:underline;">Thông cáo chung</span>, gồm một số nội dung chủ yếu là:</p>
<p><em>1) Mĩ tăng cường viện trợ quân sự, kinh tế và cố vấn cho Nam Việt Nam.</em></p>
<p><em>2) Tăng cường và mở rộng LLVT, bán vũ trang của Sài Gòn gồm quân chủ lực, bảo an và dân vệ.</em></p>
<p><em>3) Lập nhóm chuyên viên kinh tế, tài chính, quân sự cao cấp của hai bên để xây dựng kế hoạch hành động chung giữa Chính phủ Mĩ và Chính phủ Sài Gòn.</em></p>
<p><em>4) Mĩ hoan nghênh các nước khác viện trợ và hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm.</em></p>
<p><em>5) Triển khai mạnh mẽ chương trình “Ấp chiến lược”.</em></p>
<p>Ngoài ra, Thông cáo chung Giônxơn – Ngô Đình Diệm còn khẳng định những biện pháp mà hai bên đã thoả thuận “<em>có thể sẽ được tiếp nối bằng những biện pháp rộng lớn hơn nữa</em>” khi tình hình đòi hỏi.</p>
<p>Thực hiện Thông cáo chung trên đây, ngày 19/6/1961, Tổng thống Mĩ Kennơđi cử một “<span style="text-decoration:underline;">Phái đoàn kinh tế đặc biệt</span>” do Stalây dẫn đầu sang Nam Việt Nam giúp Diệm xây dựng chương trình bình định. Sau gần một tháng nghiên cứu tình hình Nam Việt Nam, cuối tháng 7/1961, phái đoàn Stalây trình lên Kennơđi bản báo cáo trong đó yêu cầu Chính phủ Mĩ tăng thêm viện trợ về quân sự và kinh tế để phục vụ cho kế hoạch bình định.</p>
<p>Tiếp theo, ngày 18/10/1961, Chính phủ Mĩ cử một phái đoàn gồm các chuyên gia về quân sự, dân sự do Taylo cầm đầu sang miền Nam Việt Nam để nghiên cứu, đánh giá lại tình hình cụ thể và kết luận tại chỗ, đề ra các phương án đối phó. Ngày 3/11/1961, Taylo gửi về Nhà Trắng bản báo cáo, trong đó kiến nghị một loạt biện pháp cấp bách để cứu vãn tình hình, như cử các cố vấn hành chính tham gia bộ máy chính quyền Sài Gòn; tiến hành các biện pháp cần thiết để cải thiện các mạng lưới tình báo quân sự, chính trị trong chính quyền và quân đội; mở các cuộc điều tra rộng lớn trên khắp miền Nam liên quan tới “<em>công tác chống nổi loạn</em>” để có thêm cơ sở cho việc đề ra các biện pháp hiệu quả hơn; tăng cường viện trợ vũ khí, trang bị và huấn luyện cho các lực lượng bảo an, dân vệ để các lực lượng này đủ sức thay thế các đơn vị chính quy làm nhiệm vụ “giữ đất”, tạo điều kiện cho các đơn vị chính quy đẩy mạnh các cuộc hành quân cơ động, có tính tiến công; giúp đỡ chính quyền Sài Gòn giám sát và kiểm soát vùng biển và các đường thuỷ nội địa bằng cách cung cấp cố vấn, nhân viên điều hành và phương tiện cần thiết cho nhiệm vụ này; đưa vào miền Nam Việt Nam một lực lượng quân sự đặc nhiệm gồm 6.000 – 8.000 quân hoạt động dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Mĩ để tạo sự có mặt về quân sự, hỗ trợ các hoạt động quân sự và khi cần có thể mở các cuộc hành quân mang tính chất tiến công; tăng thêm viện trợ để hỗ trợ thích đáng chương trình “chống nổi loạn mở rộng”.</p>
<p>Ngoài các biện pháp kể trên, phái đoàn Taylo còn kiến nghị một “<em>Chương trình tham gia có giới hạn</em>” của Mĩ trong lĩnh vực quân sự; cử sang Nam Việt Nam các cố vấn cấp cao tham gia vào các cơ quan Chính phủ và các Bộ chủ chốt; thành lập Ban Thanh tra Quân sự hỗn hợp từ TW xuống Quân khu và các Tỉnh; đưa thêm các lực lượng đặc biệt Mĩ để cùng lực lượng đặc biệt Sài Gòn tăng cường cho vùng biên giới; đẩy mạnh các hoạt động tiến công bí mật ra miền Bắc Việt Nam, Lào, kể các những hoạt động biệt kích bằng không quân, nếu tình hình Nam Việt Nam tiếp tục xấu đi Mĩ sẽ ném bom miền Bắc để gây áp lực.</p>
<p>Những kiến nghị của phái đoàn Taylo (11/1961) chính là sự bổ sung vào những chủ trương do phái đoàn Stalây (7/1961) để trở thành một kế hoạch hành động tương đối hoàn chỉnh của Mĩ trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam. Vì vậy, kế hoạch này được gọi là “<span style="text-decoration:underline;">Kế hoạch Stalây &#8211; Taylo</span>”, gồm 3 giai đoạn:</p>
<p>+ <em>Giai đoạn I</em>: dự định trong 18 tháng (từ giữa 1961 đến cuối 1962) cơ bản bình định xong miền Nam Việt Nam bằng cách triển khai mạnh mẽ việc tập trung dân vào 16.000 ấp chiến lược/17.000 ấp của toàn miền Nam, nhằm triệt phá hết các cơ sở cách mạng ở nông thôn; phát triển quân đội Sài Gòn gồm quân chính quy, bảo an và dân vệ, đồng thời tăng cường lực lượng yểm trợ Mĩ nhằm tiêu diệt LLVT cách mạng miền Nam; thiết lập hệ thống cứ điểm chốt chặn ở biên giới và giới tuyến quân sự tạm thời, tăng cường tuần tra, kiểm soát vùng biển để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam; đẩy mạnh các hoạt động tình báo, gián điệp, biệt kích, chiến tranh tâm lý.v.v. chống phá miền Bắc, hỗ trợ cho nỗ lực bình định miền Nam.</p>
<p>+ <em>Giai đoạn II</em>: dự kiến trong năm 1963, củng cố những kết quả của “giai đoạn I”, bằng cách tập trung vào việc khôi phục kinh tế miền Nam, hoàn tất chương trình bình định, tiếp tục tăng cường thêm quân đội Sài Gòn, đẩy mạnh các hoạt động gây rối, phá hoại miền Bắc.</p>
<p>+ Giai đoạn III: dự kiến trong hai năm 1964 – 1965, hoàn tất các mục tiêu của chiến lược chiến tranh đặc biệt bằng việc chuyển hẳn trọng tâm sang phát triển kinh tế miền Nam, trong khi đó vẫn tiếp tục tăng cường nguỵ quân, làm cho miền Nam trở thành một quốc gia mạnh về quân sự, phồn vinh về kinh tế của “thế giới tự do”.</p>
<p>Trong 3 giai đoạn trên đây, Mĩ cho rằng “giai đoạn I” có tầm quan trọng và có tính quyết định nhất. Và cũng cần thấy thêm rằng, đối với Mĩ, việc tiến hành “Chiến tranh đặc biệt”, ngoài mục đích tiêu diệt cách mạng miền Nam, còn nhằm mục đích rút kinh nghiệm để đàn áp phong trào dân tộc ở các nước khác trên thế giới.</p>
<p>Để đạt được những mục tiêu của “giai đoạn I” của Kế hoạch Stalây – Taylo, trước hết Mĩ tăng viện trợ tài chính để nâng số nguỵ quân đạt tới ưu thế 20 chọi 1. Viện trợ Mĩ tăng dần, từ 321,7 triệu đô la (đó có 80 triệu đô la vũ khí) trong tài khoá 1961 – 1962, lên 675 triệu đô la (100 triệu đô la vũ khí) trong tài khoá 1962 – 1963. Năm 1960, quân chính quy của Diệm là 15 vạn, đến năm 1962 là 36,2 vạn, chưa kể 17,4 vạn lực lượng bảo an và 128 đại đội dân vệ ở khắp các ấp, xã; đồng thời trang bị cho quân đội Sài Gòn nhiều vũ khí hiện đại nhất, như máy bay, xe thiết giáp và những phương tiện thông tin hiện đại, bảo đảm tính cơ động cao để đối phó có hiệu quả với chiến tranh du kích. Riêng năm 1962, Mĩ đưa vào miền Nam khoảng 500 máy bay, nhất là máy bay trực thăng, để thực hiện chiến thuật mới là chiến thuật đánh dài tay và chớp nhoáng bằng trực thăng vận, thiết xa vận.</p>
<p>Đội quân nguỵ do hệ thống cố vấn Mĩ chỉ huy. Tháng 3/1961, Mĩ đưa vào miền Nam hơn 400 lính thuộc lực lượng đặc biệt và 100 cố vấn quân sự, 1.600 chuyên gia giúp chính quyền Ngô Đình Diệm mở rộng, cải tạo quân ngụy. Tổng số quân Mĩ ở miền Nam từ 1.077 tên (1960) lên 10.960 tên (1962), rồi 22.000 tên (1963) và 26.200 tên (cuối 1964). Tháng 8/1962, Mĩ lập Bộ chỉ huy quân sự Mĩ (MACV) tại Sài Gòn do tướng Hackin chỉ huy thay cho phái đoàn MAAG. Mĩ triển khai các đơn vị hỗn hợp đặc biệt Mĩ &#8211; Ngụy ở nhiều căn cứ bố trí dọc biên giới Việt – Lào – Campuchia nhằm chống sự xâm nhập của quân chủ lực miền Bắc, phá rối các đường hành lang và các vùng căn cứ của cách mạng. Trên vùng biển, địch tổ chức các đơn vị hải quân tuần tiễu, dùng cả không quân để kiểm soát chặt chẽ việc đi lại.</p>
<p>Để tăng cường khả năng chỉ huy và tận dụng được lực lượng ngụy quân trong công tác “bình định”, ngay từ tháng 4/1961, hệ thống tổ chức chiến trường theo từng “quân khu” được chuyển thành “vùng chiến thuật”. Mỗi vùng chiến thuật do một quân đoàn chủ lực đảm nhiệm với đủ thành phần các quân địa phương, quân, binh chủng yểm trợ, như pháo binh, công binh, thiết giáp, biệt động, biệt kích, không quân, hải quân, tiếp vận,… Dưới các “vùng chiến thuật” là các “khu chiến thuật”; tiếp đó là các “tiểu khu” (tỉnh), chi khu (quận, huyện) và “phân chi khu” (xã); riêng Sài Gòn được tổ chức thành “Biệt khu Thủ đô”.</p>
<p>Biện pháp thứ hai là phải dập tắt phong trào cách mạng ở nông thôn, tách nhân dân ra khỏi các lực lượng du kích, triệt hạ nguồn tiếp tế và làm chỗ mất ẩn náu của du kích, bằng cách lập một hệ thống “Ấp chiến lược”, coi đây là “quốc sách” và là “xương sống” của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Theo quan điểm của Mĩ &#8211; Diệm, quốc sách “Ấp chiến lược” là một cuộc chiến tranh tổng lực trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế đến xã hội, tâm lý và gián điệp, nhằm mục đích cuối cùng là tiêu diệt các cơ sở cách mạng ở hạ tầng, đẩy du kích ra khỏi thôn ấp, xiết chặt ách kìm kẹp dân chúng.</p>
<p>Để chuẩn bị tư tưởng, tâm lý, niềm tin, cũng như “cảnh báo sự kiên quyết” của chính quyền Sài Gòn trong việc thực hiện quốc sách ấp chiến lược, Mĩ &#8211; Diệm đã tập trung mọi phương tiện tuyên truyền: sách, báo, tạp chí, khẩu hiệu, áp phích, đài phát thanh,…với quy mô lớn, nhằm cổ vũ cho chương trình ấp chiến lược trên toàn miền Nam, nào là “<em>ấp chiến lược nhằm mục đích cao cả là xây dựng một xã hội mới, trong đó con người được hoàn toàn giải phóng về phương diện vật chất cũng như tinh thần</em>”; nào là “<em>ấp chiến lược vừa có tính chất kiến quốc, vừa có tính chất cứu quốc</em>”; “<em>ấp chiến lược là một công tác tổng hợp, gắn liền với đường lối, mục đích toàn bộ cuộc đấu tranh của dân tộc: đấu tranh chống cộng sản, đấu tranh chống chậm tiến, đấu tranh chống chia rẽ</em>”; nào là “<em>ấp chiến lược là cơ sở kiến tạo một nền văn minh mới</em>”; nào là “<em>ấp chiến lược không phải chỉ nhằm mục đích thuần tuý quân sự là bảo vệ an ninh, hay mục tiêu kinh tế là cải thiện dân sinh. Việc lập ấp chiến lược ngày nay nhằm mục đích cao cả là cải tạo toàn diện xã hội: biến đổi từ một xã hội cũ đầy rẫy bất công, thành kiến, hủ bại và sai lầm, tiến lên kiến tạo một xã hội mới, trong đó mỗi người sẽ có đủ cơ hội và điều kiện để phát huy khả năng tự tạo một đời sống hạnh phúc, nhân phẩm được tôn trọng</em>”.</p>
<p>Từ đầu tháng 7/1961, Mĩ &#8211; Ngụy mở đợt thí điểm dồn dân lập ấp chiến lược ở hai trọng điểm là Vĩnh Long (Nam Bộ) và Quảng Ngãi (Trung Bộ) để rút kinh nghiệm. Tháng 8/1961, chương trình được triển khai rộng rãi trên quy mô toàn miền Nam với tên gọi “<strong>chiến dịch xây dựng nông thôn</strong>”. Đến ngày 17/4/1962, Quốc hội Sài Gòn thông qua Nghị quyết nâng chương trình lập ấp chiến lược lên hàng quốc sách và tập trung mọi nỗ lực cao nhất để thực hiện cho được các mục tiêu đã đặt ra; đồng thời Uỷ ban liên Bộ đặc trách Ấp chiến lược của Diệm còn đưa ra đề nghị “đưa ngày 17/4 lên ngày Quốc lễ, có tầm quan trọng ngang hàng với ngày Quốc khánh 26/10,…”. Ngô Đình Nhu, người trực tiếp điều hành chương trình ACL khẳng định: “<em>Thôn ấp là vấn đề sinh tử, quyết định sự thắng lợi của chúng ta</em>”.</p>
<p>Tiếp theo, ngày 19/10/1961, Ngô Đình Diệm tuyên bố tình trạng khẩn cấp, kéo dài thêm thời hạn quân dịch, gọi sĩ quan và binh lính trù bị nhập ngũ; tiến hành các cuộc hành quân càn quét, dồn dân với sự chi viện, yểm trợ hoả lực bằng các chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, lợi dụng phương tiện vận tải và thông tin liên lạc hiện đại để hành quân chớp nhoáng, đánh bất ngờ, đánh nhanh, rút nhanh. Riêng năm 1961, có 1.253 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn trở lên. Năm 1962, địch mở tới 20 chiến dịch lớn đánh vào vùng giải phóng nhằm tiêu diệt lực lượng du kích, gom dân lập ACL. Có những trận càn dài ngày như chiến dịch “<em>Mặt trời mọc</em>”, kéo dài 9 tháng ở miền Đông Nam Bộ, chiến dịch “<em>Hải Yến</em>” kéo dài 8 tháng ở Phú Yên.</p>
<p>Để đảm bảo cho sự chắc thắng của kế hoạch đặt ra, ngoài việc mời đoàn cố vấn chuyên về “<em>các vấn đề hành chính và chính sách</em>” do Tômxơn, chuyên gia về chống du kích của Anh ở Malaixia cầm đầu sang miền Nam giúp chính quyền Sài Gòn thực hiện quốc sách ACL, Mĩ &#8211; Diệm còn cử nhiều đoàn cán bộ bình định sang Malaixai và một số nước khác nghiên cứu, học tập kinh nghiệm chống chiến tranh du kích và dồn dân lập ACL.</p>
<p>Cần phải thấy rằng, ACL mà Mĩ &#8211; Diệm triển khai trong giai đoạn “Chiến tranh đặc biệt” là sự kế thừa và phát triển chính sách “dinh điền” và “khu trù mật” lên một mức cao, cả về quy mô, hình thức và thủ đoạn kìm kẹp đối với nhân dân miền Nam. Nếu “dinh điền” mới chỉ là những trại tập trung được xây dựng ở những vùng xa xôi, hẻo lánh để giam giữ những người kháng chiến và gia đình cách mạng xen kẽ với đồng bào Thiên Chúa giáo di cư; “khu trù mật” được dựng lên ở những khu vực thuận tiện giao thông cơ động, gần các căn cứ quân sự…để gom dân từ các địa bàn nhỏ lẻ, hiểm trở, đường sá đi lại khó khăn về tập trung quản chế; thì ACL được xây dựng rộng rãi ở khắp cả nông thôn đồng bằng, miền núi, kể cả vùng vành đai các đô thị để gom toàn bộ nhân dân miền Nam vào sinh sống tại đây. Đây là một điểm mới, một sự “<em>phát triển hơn hẳn cả về lượng và chất</em>” của ACL so với chính sách dinh điền và khu trù mật mà Mĩ &#8211; Diệm đã thực hiện trong những năm trước đó.</p>
<p>Mặc dù vấp phải sự chống trả quyết liệt và mạnh mẽ của quân và dân khắp các địa phương miền Nam, nhưng sau hơn 1 năm thực hiện quốc sách này, Mĩ &#8211; Diệm đã đạt được những kết quả nhất định. Theo tổng kết của Tômxơn, nếu vào tháng 7/1962, số ACL hoàn thành ở miền Nam là 2.559 ấp, thì đến tháng 12/1962 đã lên tới 4.080 ấp, đến tháng 8/1963 đã đạt tới 8.095 ấp; trong đó có những tháng đạt khá cao như tháng 9/1962 đạt 428 ấp, tháng 12/1962 đạt 530 ấp, tháng 2/1963 đạt 608 ấp, tháng 6/1963 đạt 646 ấp.</p>
<p>Mỗi ACL thực sự là một “pháo đài quân sự” bởi bao bọc chung quanh là 3 lớp hàng rào tre và hệ thống dây kẽm gai; giữa 2 hàng rào là hào rộng 2m, sâu 1,5m, có cắm chông và gài mìn. Muốn vào trong ấp phải vượt qua 3 hàng rào và 2 hào sâu kể trên. Sự liên lạc giữa bên ngoài và bên trong ấp là cực kỳ khó khăn. Bốn góc ACL có bót gác, tối đến các cổng ra vào đều đóng kín. Các ACL xung yếu có đồn lính đóng bên cạnh. Ở mỗi ACL có Ban Trị sự, đứng đầu là những tên ấp trưởng, ấp phó khét tiếng gian ác, kìm kẹp nhân dân bằng bộ máy quân sự hoá,… Do vậy, cả người tu hành sống dưới chế độ Mĩ &#8211; Diệm cũng phải thốt lên những lời ca than: “ACL như những chiếc nơm sắt, lớn và chắc”, là “cơn ác mộng khủng khiếp”.v.v.</p>
<p>Cùng với các biện pháp trên đây, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức vơ vét nhân lực, tài lực phục vụ cho chiến tranh, tăng cường thuế má làm cho giá cả hàng hoá lên cao, lập thêm thuế đảm phụ quốc phòng. Hơn thế nữa, chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục chính sách đàn áp, khủng bố nhân dân; duy trì và củng cố chế độ độc tài gia đình trị, thanh trừng những phần tử đối lập. Nhà giam của chính quyền Diệm luôn chật ních tù chính trị. Trung tâm cải huấn Thừa Thiên, số phòng ốc chỉ vừa đủ cho 600 can phạm, nhưng địch đã giam đến 700 người,… Vì vậy, từ khi bắt đầu thực hiện kế hoạch Stalây – Taylo, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bị công kích, bị các nhóm thân Mĩ chống Diệm tiếp tục hoạt động chống đối. Vụ hai phi công trong quân đội Sài Gòn ném bom dinh Độc Lập ngày 27/2/1962 là một minh chứng.</p>
<p>Trên lĩnh vực tôn giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm đẩy mạnh chính sách kỳ thị đối với Phật giáo. Chính sách này vốn đã được tiến hành ngay từ khi chính quyền Diệm vừa được thành lập. Nhiều gia đình tín đồ Phật giáo bị bắt phải “cải đạo”, bị bắt di dân, nhất là tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Kháng thư đề ngày 23/9/1961 của Khuôn hội Phật giáo xã Sơn Mĩ (Quảng Ngãi) cho biết: “<em>Trong thời gian gần đây, cứ theo các bức báo cáo có ông thầy Du người Công giáo ở Phú Hoà về giảng đạo và dạy thuyết duy linh tại xã Sơn Mĩ, đi đến thôn, ông ấy dùng lời lẽ ép người hội viên chính thức của Phật giáo, buộc họ ký đơn tình nguyện vào Thiên Chúa giáo, nếu không thì dùng biện pháp chính quyền khủng bố, như ghép vào tội tình nghi, lướng hướng, bắt học tập, thu giấy căn cước và thẻ chứng minh của Phật giáo, làm cho sự sinh hoạt trở ngại</em>”. Hoặc theo “Biên bản Hội nghị rộng rãi” ngày 13/7/1961 của Khuôn hội Phật giáo Hoà Quang quận Tuy Hoà, thì: “<em>Vào ngày 6 và 7/7/1961, liên gia mời toàn thể đồng bào trong thôn tập trung tại 3 địa điểm…nhưng đến nơi không học tập mà lại được tuyên bố rằng: Ai chịu ký tên vô Công giáo thì sẽ được về nhà làm ăn, bằng không thì ở lại học tập mãi bao giờ chịu ký mới về</em>”. Bằng mọi cách, chính quyền Diệm đã ép buộc tín đồ Phật giáo theo Thiên Chúa giáo. Cán bộ xã, thôn của Diệm đã dùng lời lẽ hăm doạ tín đồ Phật giáo: “<em>Bây giờ anh vô thì không có gì hết mà không vô thì tôi cho anh biết nội trong năm nay không biết tháng nào anh cũng bị người ta, anh có biết không? Ông quận trưởng cũng công giáo, chi công an cũng công giáo, đại diện xã cũng công giáo, tôi thường đi nhà thời huyện, tôi biết người ta ngó chăm chăm trong đạo Phật của anh và nói chung trong gia đình đạo Phật nhiều hơn…những người vô công giáo nếu truyền đơn gạc rải một bên không sao, chứ Phật giáo người ta túm cổ</em>”. Hoặc có trường hợp tín đồ Phật tử bị thủ tiêu bằng cách chôn sống, như trường hợp các ông Nguyễn Chuyển, Đỗ Thìn ở thôn Mậu Lâm xã Hoà Quang quận Tuy Hoà.</p>
<p>Như vậy, trên lĩnh vực tôn giáo, điều không chối cãi được là “<em>bất chấp mọi điều kiện lịch sử và tâm lý dân tộc, Mĩ &#8211; Diệm đã có nhiều cố gắng hướng “công giáo hoá” nhân dân ta, biến Thiên Chúa giáo thành quốc giáo ở miền Nam</em>”. Chính Thượng nghị sĩ Manxphin (Mansfield) người đã từng ủng hộ Ngô Đình Diệm một cách nhiệt thành, cũng phải thừa nhận: “<em>Hiện nay, chẳng những dư luận báo chí Mĩ, mà phần lớn các nhân vật trong chính phủ Mĩ đều cho rằng chế độ ông Diệm là một chế độ độc tài, gia đình trị, công giáo trị</em>”.</p>
<p>Dã man hơn nữa, Mĩ bắt đầu sử dụng chất độc hoá học để phát quang các vùng căn cứ cách mạng, các đường hành lang dọc theo dải Trường Sơn từ Bắc vào Nam. Từ tháng 8/1961 đến tháng 5/1964, Mĩ đã rải chất độc hoá học trên 200 lần xuống nhiều vùng, phá huỷ trên 300.000 ha lúa và hoa màu.</p>
<p>Chính sách thống trị của Mĩ &#8211; Diệm, đặc biệt là chính sách dồn dân, lập ACL, chính sách kỳ thị tôn giáo như đã trình bày, càng làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam với Mĩ &#8211; Diệm thêm sâu sắc, ngọn lửa đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, do vậy, càng phát triển trên một quy mô rộng lớn hơn so với trước.</p>
<p><strong>2. Chiến đấu chống chiến lược &#8220;Chiến tranh đặc biệt&#8221; của Mỹ.</strong></p>
<p><span style="text-decoration:underline;">a) Chủ trương của Đảng:</span></p>
<p>Trước những thắng lợi dồn dập của cách mạng miền Nam từ sau ngày Đồng Khởi, tháng 1/1961, Hội nghị Bộ Chính trị TW Đảng họp, đã cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng về phương hướng và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam.</p>
<p>Về tình hình chính trị miền Nam, Bộ Chính trị nhận định: “<em>Thời kỳ tạm thời ổn định của chế độ Mĩ &#8211; Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suy sụp nghiêm trọng đã bắt đầu… Đến nay, cách mạng miền Nam đương phát triển theo con đường tiến lên tổng khởi nghĩa với những đặc điểm mới và khả năng hoà bình phát triển của cách mạng miền Nam không còn nữa… Hình thái du kích cục bộ và khởi nghĩa từng phần đã xuất hiện… Hình thái du kích cục bộ và khởi nghĩa từng phần ấy mở ra một cao trào cách mạng và ngày càng phát triển mạnh mẽ</em>”. Tuy nhiên, do Mĩ &#8211; Diệm quyết tiêu diệt cách mạng bằng bạo lực, nên phương hướng giành thắng lợi sắp tới phải bằng “<em>cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa của nhân dân…để lật đổ chính quyền Mĩ &#8211; Diệm, giải phóng miền Nam</em>”.</p>
<p>Về các hình thức và phương châm đấu tranh, Bộ Chính trị cho rằng, nếu như trong Nghị quyết HNTW lần thứ 15, cũng như trong các Chỉ thị tiếp theo của TW, vấn đề xây dựng và sử dụng các LLVT tuyên truyền tới một mức độ nhất định để tự vệ và để phục vụ cho đấu tranh chính trị. Đấu tranh chính trị là chủ yếu, đấu tranh quân sự là để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị. Nhưng tình hình mới, tương quan lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi, cần phải chuyển phương châm đấu tranh: “<em>Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời <span style="text-decoration:underline;">đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị</span>, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự</em>”.</p>
<p>Song do đặc điểm của phong trào cách mạng miền Nam phát triển không đều, so sánh lực lượng giữa ta và địch trên từng vùng cũng khác nhau, cho nên phải vận dụng phương châm đấu tranh chính trị song song với đấu tranh vũ trang linh hoạt, phù hợp từng vùng. Bộ Chính trị đề ra phương châm công tác 3 vùng như sau: “<em>Ở các vùng <span style="text-decoration:underline;">rừng núi, lấy đấu tranh quân sự làm chủ yếu</span> và đề ra nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch để mở rộng thêm căn cứ và xây dựng lực lượng của ta. Ở các vùng <span style="text-decoration:underline;">đồng bằng, đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự ngang nhau</span>, tuỳ tình hình cụ thể từng nơi ở đồng bằng mà cân nhắc mức độ giữa hai hình thức, và mức độ tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Ở các vùng <span style="text-decoration:underline;">đô thị, lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu</span>, gồm cả hai hình thức hợp pháp và không hợp pháp</em>”.</p>
<p>Cũng cần thấy rằng, trong giai đoạn này, địch tuy bị suy yếu về chính trị, nhưng lực lượng quân sự của chúng hầu như còn nguyên vẹn và đang được Mĩ phát triển về quân số cũng như về trang bị và đang tìm mọi cách để phản công quyết liệt lực lượng cách mạng. Vì vậy, Bộ Chính trị còn nhấn mạnh: “<em>Nhiệm vụ công tác cách mạng miền Nam là ra sức xây dựng mau chóng lực lượng của ta về cả hai mặt chính trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng, phát động một phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của quần chúng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên một phạm vi ngày càng rộng lớn; tiến lên làm chủ rừng núi, giành lại toàn bộ đồng bằng, ra sức xây dựng cơ sở và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị; tạo mọi điều kiện và nắm mọi thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mĩ &#8211; Diệm, giải phóng miền Nam</em>”.</p>
<p>Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị ngày 31/1/1961 là sự chỉ đạo chiến lược rất quan trọng đối với cách mạng miền Nam. Đó là sự vận dụng sáng tạo các Nghị quyết của Hội nghị TW Đảng lần thứ 15 và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III một cách sáng tạo trong những điều kiện mới, đề ra được những vấn đề cơ bản về đường lối và phương pháp cách mạng cho miền Nam trong giai đoạn mới, tiếp tục đưa cách mạng tiến lên.</p>
<p>Suốt năm 1961 và đầu năm 1962, các tổ chức chính trị, các đoàn thể quần chúng của các giai cấp, các giới đã lần lượt thành lập và gia nhập Mặt trận. Cho đến tháng 10/1962, Mặt trận đã có trên 20 tổ chức chính trị lớn: Hội Lao động giải phóng, Hội Nông dân giải phóng, Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng, Hội Phụ nữ giải phóng, Hội Liên hiệp sinh viên &#8211; học sinh giải phóng, Hội Văn nghệ giải phóng, Hội các nhà báo yêu nước và dân chủ, Hội luật gia dân chủ, Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng, Hội những người kháng chiến cũ, Nhóm công – thương gia chống Mĩ &#8211; Diệm, Nhóm binh sĩ trở về với nhân dân đấu tranh chống Mĩ &#8211; Diệm, Nhóm những người đấu tranh cho hoà bình thống nhất độc lập của Tổ quốc Việt Nam, các Hội quần chúng có tính chất tôn giáo của các tín đồ Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, các Đảng xã hội cấp tiến của trí thức, Đảng Dân chủ của tư sản dân tộc.v.v. Trong các thành viên của Mặt trận có những Hội có tới hàng chục vạn hội viên, như Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng; có những hội hoạt động mạnh mẽ trên trường quốc tế như Hội Lao động giải phóng, Hội Phụ nữ giải phóng…</p>
<p>Sự phát triển của lực lượng cách mạng còn thể hiện ở chỗ Mặt trận Dân tộc đã nhanh chóng xây dựng được cơ sở của mình từ xã đến quận, tỉnh, miền. Đến tháng 10/1962, khắp các địa phương từ Quảng Trị tới Cà Mau, kể cả Tây Nguyên, đều có Uỷ ban của Mặt trận. 38/41 tỉnh, thành miền Nam đã có Uỷ ban Mặt trận ra mắt nhân dân.</p>
<p>Ngày 15/5/1961, Quân Giải phóng miền Nam chính thức thành lập tại Chiến khu Đ (Tây Ninh). “<em>Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam do Đảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo… Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam kế tục truyền thống anh dũng, tinh thần quật khởi và đoàn kết chiến đấu của nhân dân Việt Nam anh hùng, kế tục truyền thống vẻ vang phục vụ nhân dân của Quân đội Nhân dân Việt Nam</em>”. Ngày 1/1/1962, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam tuyên bố thành lập và đứng vào hàng ngũ Mặt trận Dân tộc giải phóng. Sự kiện này càng củng cố uy tín và sự lãnh đạo của Mặt trận đối với phong trào cách mạng miền Nam. Ngày 17/11/1961, Mặt trận Dân tộc giải phóng đã ra lời kêu gọi toàn thể nhân dân miền Nam kiên quyết đứng lên đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ, đập tan chế độ Ngô Đình Diệm để tiến tới thống nhất nước nhà.</p>
<p>Qua năm 1962, trước việc Mĩ &#8211; Diệm đẩy mạnh việc dồn dân lập ACL, đưa cố vấn quân sự và phương tiện chiến tranh vào miền Nam ngày càng nhiều, tháng 2/1962, Bộ Chính trị họp bàn về công tác trước mắt của cách mạng miền Nam. Bộ Chính trị nhận định sự can thiệp mạnh mẽ hơn của đế quốc Mĩ có gây thêm nhiều khó khăn cho cách mạng miền Nam, làm cho cuộc chiến tranh ngày càng trở nên ác liệt, nhưng thực tế, so sánh lực lượng giữa ta và địch căn bản chưa có gì thay đổi. Bộ Chính trị đề ra chủ trương trước mắt của ta là: “<em>Kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh chính trị, quân sự, giành và giữ thế chủ động, đẩy địch vào thế bị động hơn nữa, tích cực xây dựng lực lượng về mọi mặt, ra sức phá hoại kế hoạch Stalây – Taylo, mở rộng hơn nữa phong trào giải phóng dân tộc, tăng cường chặt chẽ hơn nữa khối đoàn kết dân tộc, khơi sâu hơn nữa mâu thuẫn nội bộ của địch, tranh thủ mạnh mẽ sự ủng hộ và đồng tình của lực lượng hoà bình, dân chủ, độc lập dân tộc và CNXH trên thế giới chống sự can thiệp vũ trang quy mô của đế quốc Mĩ vào miền Nam Việt Nam, tiến lên giành những thắng lợi to lớn hơn nữa</em>”.</p>
<p>Từ ngày 16/2 – 3/3/1962, Mặt trận DTGPMN họp Đại hội lần thứ I với sự tham gia của hơn 100 đại biểu gồm đủ mọi tầng lớp xã hội, tôn giáo, dân tộc thuộc nhiều xu hướng chính trị khác nhau. Đại hội đã thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ của Mặt trận trong tình hình mới, các chính sách lớn của Mặt trận về các vấn đề hoà bình, trung lập, vấn đề dân tộc, ruộng đất, các chính sách đối với giai cấp tư sản, đối với trí thức, ngoại kiều, tôn giáo, binh sĩ và nhân viên nguỵ quyền miền Nam.</p>
<p>Đại hội đã bầu ra Uỷ ban TW chính thức của Mặt trận do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch.</p>
<p>Đại hội ra một bản Tuyên bố khẳng định nhiệm vụ chung của Mặt trận là: “<em>Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mĩ, thành lập một chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới</em>”.</p>
<p>Sau Đại hội, Mặt trận công bố 4 chủ trương cứu nước khẩn cấp trước tình hình đế quốc Mĩ ngày càng leo thang vũ trang xâm lược miền Nam nước ta:</p>
<p><em>1) Đế quốc Mĩ phải đình chỉ chiến tranh xâm lược miền Nam</em></p>
<p><em>2) Giải tán các ACL</em></p>
<p><em>3) Thành lập ở miền Nam một chính phủ liên hiệp dân tộc</em></p>
<p><em>4) Thi hành đường lối đối ngoại hoà bình, trung lập.</em></p>
<p><span style="text-decoration:underline;">b) Bước đầu đánh thắng kế hoạch Stalây – Taylo (1961 &#8211; 1962)</span></p>
<p>Tiến hành “Chiến tranh đặc biệt”, Mĩ và chính quyền Diệm sử dụng lực lượng quân sự là chủ yếu, và về mặt lực lượng quân sự, vũ khí, chúng có ưu thế tuyệt đối so với lực lượng cách mạng. Nhưng vì đây là loại hình chiến tranh của chủ nghĩa thực dân mới nên chúng không thể không dùng các thủ đoạn chính trị, kinh tế, văn hoá để lừa bịp và bóc lột nhân dân, đó là chỗ yếu căn bản của địch; trong khi về mặt này, lực lượng cách mạng lại có ưu thế tuyệt đối. Trong tình hình so sánh lực lượng chính trị, quân sự như vậy, để chống lại “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ, dưới ánh sáng của NQĐH Đảng lần thứ III và NQ của Bộ Chính trị (1/1961 và 2/1962), quân và dân miền Nam tiếp tục phát triển cuộc chiến tranh du kích rộng rãi và mạnh mẽ, đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài, vừa đấu tranh vũ trang, vừa kết hợp với đấu tranh chính trị.</p>
<p>Trên chiến trường Đông Nam Bộ, LLVT cách mạng tiến công một loạt đồn bốt của địch cỡ trung đội, đại đội, uy hiếp các thị trấn Gò Dầu, Trảng Bàng, Bến Cầu. Ở Tây Nguyên, hoạt động du kích cũng diễn ra khá mạnh mẽ. Đêm 30/8/1961, quân giải phóng tỉnh Kontum tập kích quận lỵ Đắc Hà và bắt sống hàng trăm tên địch, rồi thừa thắng bao vây, bức rút nhiều đồn bốt từ Gia Vụt đến Măng Đen, diệt một số đồn trên đường 14 từ Kontum đi Động Tranh. Tiếp theo, ngày 18/9/1961, quân ta tiến công Phước Vĩnh và thị xã Phước Thành, diệt và đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn ngụy, thu 500 súng các loại, làm chủ thị xã.</p>
<p>Phối hợp với đòn tiến công quân sự, mũi tiến công chính trị tiếp tục diễn ra quyết liệt ở nông thôn và đô thị. Quần chúng kiên quyết chống lại chính sách dồn dân, lập ACL của địch, đấu tranh chống địch hành quân càn quét, bắn phá, triệt phá xóm làng, tàn sát dân thường. Đồng bào nông thôn biểu tình, kéo vào thị trấn, thị xã và thành phố tố cáo tội ác của địch, đòi bồi thường tính mạng và tài sản của nhân dân. Năm 1961, có đến 33,8 triệu lượt người tham gia các cuộc đấu tranh, trong đó có cả gia đình ngụy quân, ngụy quyền làm binh vận chống địch bắt lính. Tác dụng của phong trào đấu tranh của quần chúng đã làm cho 14.500 lính ngụy đào ngũ.</p>
<p>Năm 1962, đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị tiếp tục phát triển với những thắng lợi mới. Ở Nam Bộ, tháng 2/1962, Mĩ &#8211; ngụy tập trung 9 tiểu đoàn chủ lực kết hợp với các đơn vị địa phương quân, mở cuộc càn quét vào địa bàn U Minh Hạ, phục vụ cho kế hoạch dồn 6 vạn dân ở đây vào ACL. Trước sự càn quét ác liệt của địch, các cơ sở cách mạng đã tập hợp hàng ngàn quần chúng, tổ chức xuống đường, kéo đến trụ sở ngụy quyền, vào các đồn bốt, “gặp gỡ” chỉ huy cuộc hành quân để phản đối hành động bắn phá, giết chóc do binh sĩ ngụy gây ra cho nhân dân, đòi chấm dứt hành quân; mặt khác dùng một bộ phận LLVT bất ngờ tấn công căn cứ Đầm Dơi, Cái Nước,… loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm binh sĩ ngụy. Tháng 3/1962, LLVT 6 tỉnh Bình Dương, Bình Long, Phước Tuy, Biên Hoà, Tây Ninh và Gia Định, quần chúng nhân dân nổi dậy đấu tranh chính trị phối hợp chống trả quyết liệt các cuộc hành quân bình định mang mật danh “Mặt trời mọc” của hơn 8.000 quân ngụy.</p>
<p>Ở Khu V, đầu năm 1962, các LLVT và quần chúng nhân dân đã liên tiếp mở những cuộc tiến công và nổi dậy giành được những thắng lợi quan trọng. Quân dân Phú Yên đánh bại cuộc hành quân “Hải Yến”. Quân dân Bình Định bẻ gãy cuộc hành quân “Đồng Tiến”, phá vỡ kế hoạch xây dựng ACL của Mĩ &#8211; ngụy ở Bình Định. Phối hợp với mũi tấn công quân sự, quân dân các địa phương nổi dậy đấu tranh chính trị và binh vận, phá banh, phá rã được một số ACL. Đến tháng 5/1962, đã có 15 vạn nhân dân thuộc các huyện Bình Sơn, Nghĩa Hành, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) giành được quyền làm chủ; 157 thôn ấp của các huyện Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mĩ, Bình Khê (Bình Định) và 125 thôn thuộc 25 xã với gần 55 vạn dân của Phú Yên được giải phóng; 24 ACL ở Quảng Nam bị phá banh, phá rã.</p>
<p>Thắng lợi bước đầu của phong trào phá ACL ở miền Nam trong năm 1961 và 6 tháng đầu năm 1962 là rất quan trọng, song quân và dân miền Nam cũng phải chịu nhiều tổn thất: 36.200 cán bộ, chiến sỹ hy sinh và bị thương; ở miền Tây Nam Bộ, số ấp giải phóng từ 2.543 (1960) xuống còn 1.520 (6/1962); ở Trung Nam Bộ, từ 73 xã giải phóng (đầu 1962) xuống còn 63 xã (6/1962); tại đồng bằng Khu V, chỉ còn 904 thôn có cơ sở với 700 đảng viên trong tổng số 3.829 thôn trên toàn Khu,… Nguyên nhân của tình trạng trên là do LLVT địa phương còn hạn chế về số lượng, vũ khí, trang bị và kinh nghiệm chống càn; nhiều địa phương hoạt động quân sự và chính trị chưa kết hợp với nhau một cách chặt chẽ, chưa tạo điều kiện cho chủ lực bám trụ hoạt động dài ngày; trong lúc đó khối chủ lực chưa thật mạnh, chưa có những đòn tiêu diệt có ý nghĩa, nhất là việc chống các chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của địch. Do vậy, tại nhiều địa phương, sau khi chủ lực rút đi, lực lượng tại chỗ không giữ được địa bàn; ngụy quân, ngụy quyền nhanh chóng tái lập ACL, kìm kẹp nhân dân chặt chẽ hơn.</p>
<p>Mặt khác, để nhanh chóng khắc phục khó khăn, nửa cuối năm 1962, TW Cục đã cử nhiều cán bộ xuống các tỉnh; Ban Quân sự Miền cũng đưa cán bộ xuống bám địa bàn, trực tiếp chỉ đạo. Nhờ những hoạt động khẩn trương và phù hợp này, phong trào đấu tranh trên toàn miền Nam dần dần được “xốc” lại và giành được những kết quả mới.</p>
<p>Ngày 4/8/1962, tại Khu V, bộ đội Bình Thuận tiến công thị xã Hàm Tân, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy, phá rã các ACL Tam Tân, Gò Đình, Cử Cạn, Tân Hiệp. Ở Nam Bộ, 3 tháng cuối năm 1962, quân dân các tỉnh Cà Mau, Mĩ Tho, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Long An, Tây Ninh, Bình Dương cùng một số đơn vị chủ lực Miền đánh bại các cuộc hành quân bình định của địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch, bảo vệ vững chắc địa bàn giải phóng và căn cứ. Cùng thời gian trên, tiểu đoàn 514 của Mỹ Tho tổ chức đánh địch trên lộ 4; bộ đội huyện Cai Lậy và du kích Mỹ Hạnh Đông liên tục tổ chức chống càn, làm thất bại kế hoạch dồn dân lập ACL của địch ở Mỹ Tho.</p>
<p>Được đòn quân sự tạo thế, phong trào đấu tranh chính trị và binh vận chống càn quét, chống dồn dân lập ACL đã thu hút hàng triệu lượt người tham gia. Với khẩu hiệu “ngày làm đêm phá”, nhân dân và du kích đã phối hợp phá các ACL bằng cách ban đêm dân trong ấp tự nhóm lửa đốt nhà, nổi trống, mõ và hô hào “có Việt cộng xâm nhập”, làm xáo động an ninh, tạo điều kiện cho du kích từ ngoài đột nhập vào ấp diệt ác, giải tán lực lượng bảo vệ và ban trị sự ấp, hỗ trợ cho nhân dân phá rào, san lấp hào, phá ấp. Đối với vùng đồng bằng sông nước, như Châu Phú (Châu Đốc), các cơ sở bí mật đã huy động hàng trăm ghe xuồng chở người biểu tình chạy dọc các luồng lạc thị uy, phản đối hành động càn quét, gom dân lập ACL của Mĩ &#8211; ngụy.</p>
<p>Song song với phong trào phá ACL, nét nổi bật trong cuộc đấu tranh giành dân và giữ dân năm 1962 là các địa phương sau khi phá ACL, phá kìm, đã khẩn trương xây dựng các ấp, xã thành các “làng chiến đấu”. Điển hình như ở Cần Thơ, sau khi phá xong ACL Đông Phước, nhân dân đã tự nguyện dỡ nhà, chặt tre, vót 6 triệu cây chông, đặt 29.460 hầm chông lộ thiên, 13.000 hầm chông bí mật và xây dựng hệ thống công sự bố phòng xung quanh, bố trí lực lượng sẵn sàng chiến đấu chống trả các cuộc hành quân càn quét của địch.</p>
<p>Mặt khác, ta đã động viên hàng ngàn thanh niên tòng quân xây dựng LLVT giải phóng. Mỗi tỉnh lúc này đều có 2 – 3 đại đội hoặc tiểu đoàn bộ đội địa phương, các huyện đều có 1 – 2 trung đội và ở dưới xã là dân quân du kích gồm hàng chục vạn người cầm súng. Trước sự phát triển nhanh chóng của LLVT, tháng 5/1962, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu V quyết định thành lập 3 trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu (lúc ấy gọi là các Công Trường): Trung đoàn 1 hoạt động ở Quảng Nam; Trung đoàn 2 hoạt động ở Quảng Ngãi và KonTum; Trung đoàn 3 hoạt động ở Bình Định, Phú Yên và Gia Lai.</p>
<p>Cuộc đấu tranh dồn dân lập ACL diễn ra dai dẳng, ác liệt. Địch dồn dân lập ACL, ta lãnh đạo nhân dân phá ấp, địch lập lại, ta lại phá, giằng co hàng chục lần mới giành thắng lợi. Tính đến cuối năm 1962, bằng sự kết hợp sức mạnh tổng hợp 3 mũi giáp công, quân và dân miền Nam đã phá được 2.665 ACL; trong đó có 484 ấp bị phá dứt điểm, 115 ấp sau khi phá đã xây dựng được thành làng chiến đấu, giải phóng được 6,5 triệu dân/14 triệu dân.</p>
<p>Ở đô thị, trong hai năm 1961 – 1962, đấu tranh chính trị cũng diễn ra, tuy không rộng lớn như ở nông thôn, nhưng cũng khá mạnh. Trong năm 1961, có 4.416 cuộc đấu tranh với 294.000 lượt người tham gia, trong đó có 147 cuộc đấu tranh lớn đòi cải thiện đời sống, tăng lương, chấm dứt đuổi thợ và giảm thợ. Nổi bật nhất là cuộc đình công chiếm xưởng của 400 công nhân hãng dầu Mĩ Xtanvac ở Sài Gòn ngày 4/9/1961, được hàng vạn công nhân cao su Biên Hoà, Thủ Dầu Một, trên 100 nghiệp đoàn ở Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn, 40.000 lái xe và bà con nông dân đã lên tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh. Cuộc đấu tranh kéo dài 3 tháng làm tê liệt 100 trạm bán dầu, khiến chủ hãng thiệt hại 3 – 5 triệu đồng mỗi ngày.</p>
<p>Sang năm 1962, phong trào công nhân, lao động miền Nam tiếp tục phát triển mạnh. Trong 5 tháng đầu năm 1962, công nhân Sài Gòn đã tiến hành 82 cuộc đấu tranh, trong đó có 10 cuộc đấu tranh quyết liệt với hình thức đình công, bãi công. Cuộc đấu tranh nổi bật là cuộc bãi công của 800 công nhân hãng dệt Vimytexdip ngày 17/2/1962, đòi sửa đổi chế độ làm việc đúng với luật lao động. Mặc dù bị khủng bố, hàng trăm công nhân bị sa thải, nhưng công nhân vẫn tiếp tục kiên quyết đấu tranh với chủ hãng. Cuối cùng, chủ hãng phải huỷ bỏ lệnh sa thải 100 công nhân và hứa giải quyết các yêu sách do công nhân nêu ra.</p>
<p>Trong năm 1962, phong trào học sinh, sinh viên diễn ra sôi nổi. Nổi bật nhất là phong trào đấu tranh kéo dài trong nhiều tháng của sinh viên, học sinh chống vụ án Mĩ &#8211; Diệm xử Lê Quang Vịnh. Ngày 23/5/1962, Toà án Quân sự Đặc biệt Sài Gòn tuyên án tử hình Lê Quang Vịnh. Tại toà, Giáo sư Lê Quang Vịnh, người thanh niên 27 tuổi, đã nói thẳng vào mặt bọn quan toà bán nước: “Tôi tiếc là không giết được kẻ cầm đầu bọn xâm lược” và hô to: “Đả đảo pháp luật phát xít”, “Tinh thần bất khuất của sinh viên, học sinh muôn năm”. Căm phẫn trước pháp luật dã man của Mĩ &#8211; Diệm, gần 1 vạn sinh viên, học sinh và phụ huynh ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân An họp mít tinh, biểu tình dài 5 – 6 km phản đối vụ án. Làn sóng phản đối mạnh mẽ dấy lên liên tiếp khắp trong nước và thế giới, đòi xoá bản án đối với các chiến sĩ yêu nước. Sau này, trước sức ép của dư luân, địch phải giảm án cho Lê Quang Vịnh xuống thành chung thân.</p>
<p>Ngoài ra, Mặt trận DTGP đã cử nhiều đoàn đại biểu đi thăm các nước XHCN, tham gia nhiều hội nghị quốc tế, đặt quan hệ ngoại giao với một số nước nhằm nâng cao uy tín của Mặt trận và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam.</p>
<p>Cùng với phong trào đấu tranh chung của nhân dân miền Nam, từ cuối năm 1961, đầu năm 1962, các tổ chức Phật giáo, từ khuôn hội, quận hội, tỉnh hội, tổng hội gửi các cấp chính quyền Ngô Đình Diệm từ địa phương đến TW hàng loạt đơn khiếu nại. Nội dung đơn vạch rõ nỗi thống khổ của tín đồ Phật giáo trước chính sách khủng bố của chính quyền Diệm, đòi chính quyền Diệm thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo. Đơn của Chi hội trưởng Chi hội Phật giáo Tuy Hoà (18/7/1961) gửi Quận trưởng Tuy Hoà tố cáo chính quyền địa phương “khủng bố, bắt ép phải bỏ Phật giáo mà vô Công giáo, nếu không nghe theo thì gán cho tội này, tội nọ…nhất là bị oan than và theo cộng sản.v.v.”. Đơn của Giáo hội Tăng già Bình Định gửi Quận trưởng Tuy Phước tố cáo chính sách bất công của chính quyền Diệm trong chính sách di dân: “Nếu phải đi di dân theo tiêu chuẩn thì dù Phật giáo hay Công giáo cũng thế mới công bằng và hợp lý, chứ tại sao khi ở Phật giáo thì có tiêu chuẩn đi di dân mà cũng con người ấy khi vào Công giáo thì mất tiêu chuẩn”.</p>
<p>Đặc biệt, ngày 20/2/1962, Hội Phật giáo Trung phần đã gửi kháng thư đến Ngô Đình Diệm và Quốc hội của y, vạch rõ chính sách khủng bố, áp bức, giết hại Phật giáo đồ của chính quyền Diệm đang diễn ra khắp nơi: “Những kẻ chủ động vừa có quyền hành tại các xã, vừa là nhân viên ban truyền giáo công giáo tiến hành, đã lợi dụng quyền hành nhà chức trách để bắt nạt, khủng bố dân lành. Có người bị chôn sống như trường hợp ông Nguyễn Chuyển, thôn Mậu Lâm, mà toà án Tuy Hoà đã chứng minh khi bới lên, có kẻ bị hành hạ bị tắt thở tại Phú Yên, có người đập đầu vào nhà để chết vì uất ức hay tự tử vì bất công ở Bình Định. Cho đến việc lợi dụng sự bất an để sát hại hội viên thuần thành của chúng tôi như ở Quế Sơn, Quảng Nam”. Kháng thư khẳng định: “Hàng ngày, chúng tôi nhận được thư từ kêu van từ nhiều nơi gởi về tỏ sự khủng bố, áp bức, bất công ở hạ tầng đối với Phật giáo chúng tôi không kể xiết” và yêu cầu Ngô Đình Diệm “công minh xét đoán gấp những nguyện vọng khẩn thiết trên đây cho hàng Phật tử”.</p>
<p>Trong kháng thư gửi Quốc hội Diệm, sau khi vạch rõ nỗi thống khổ của tín đồ Phật giáo do chính sách kỳ thị tôn giáo gây nên, giới lãnh đạo Phật giáo cho hay đã đến lúc tôn giáo của họ cần phải được bảo vệ: “Tình trạng giết chóc, bắt bớ, đàn áp bất công ở hạ tầng đã gây nên sự hoang mang, khủng khiếp trong hàng Phật tử chúng tôi và làm cho họ gần như mất hết sự tin tưởng cần thiết.</p>
<p>Đề đạt tập hồ sơ này đến Quốc hội, chúng tôi muốn tránh cho dân tộc một chấm đen đồng thời muốn ngăn ngừa một tai hoạ quốc gia khi mà hàng Phật tử chúng tôi thấy cần bảo vệ đúng mức tôn giáo của mình”. Rõ ràng, đối với Phật giáo, họ cũng đã đến lúc không còn chịu đựng được nữa, mà cần phải vùng lên chống lại chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm.</p>
<p>Mặt khác, những thắng lợi trên cả hai mặt trận quân sự và chính trị của ta đã khoét sâu mâu thuẫn trong nội bộ của kẻ thù, cô lập bọn hiếu chiến ngoan cố. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã bị công kích, bị các nhóm thân Mĩ chống Diệm tiếp tục hoạt động chống đối. Cuộc ném bom dinh Độc Lập do hai phi công trong quân đội Sài Gòn thực hiện ngày 27/2/1962 là một minh chứng.</p>
<p>Qua hai năm đấu tranh (1961 &#8211; 1962), trên cả hai mặt trận chính trị và quân sự, ta đã từng bước làm cho kế hoạch Stalây – Taylo bị thất bại. Thật vậy, đối với Mĩ &#8211; Diệm, ACL được xác định là nội dung cốt lõi của kế hoạch này, được dự kiến hoàn thành trong 18 tháng, với chỉ tiêu đặt ra lúc đầu (giữa 1961) dồn 10 triệu nông dân miền Nam vào 16.000 ACL, tuy đến đầu năm 1962 đã điều chỉnh hạ xuống còn 7.000 ấp, nhưng thực tế đến cuối năm 1962 (thời hạn cuối cùng của kế hoạch) chỉ đạt được 3.900 ấp. Như vậy, chương trình bình định 18 tháng đã căn bản bị thất bại. Các chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận không đạt được kết quả mong muốn. Đây là thất bại bước đầu của chương trình lập ACL. Chính Kennơđi, Tổng thống Mĩ, thừa nhận: “<em>Chúng ta hiện đang ở đường hầm chưa thấy lối ra</em>”. Để xoay chuyển tình thế, bên cạnh việc tiếp tục tăng viện trợ tài chính, vũ khí cho chính quyền và quân đội Sài Gòn, Mĩ &#8211; ngụy quyết định kéo dài thời gian thực hiện Kế hoạch Stalây – Taylo thêm 1 năm nữa (1963).</p>
<p><strong>c) Những thắng lợi tiêu biểu của quân dân miền Nam trong năm 1963</strong></p>
<p><span style="text-decoration:underline;">* Chiến thắng Ấp Bắc (2/1/1963):</span></p>
<p>Tháng 11/1962, TW Cục và Bộ Chỉ huy Quân sự Miền tổ chức Hội nghị dân quân, du kích toàn Nam Bộ lần thứ I tại căn cứ Dương Minh Châu<sup>*</sup>. Qua báo cáo kinh nghiệm của các địa phương, Hội nghị rút ra kết luận: “<em>Muốn đánh bại địch, ta phải kết hợp chặt chẽ ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận. Riêng lực lượng chủ lực, phải trụ lại chống càn, không né tránh, đánh cả máy bay trực thăng, xe tăng, thiết giáp. LLVT có chủ động tiến công địch, thọc sâu, trụ lại mới hỗ trợ được cho nhân dân phá ACL có hiệu quả</em>”.</p>
<p>Từ sau Hội nghị trên, LLVT và nhân dân các địa phương trên toàn miền Nam khẩn trương chuẩn bị về tinh thần, vật chất và phương pháp chống càn, quyết tâm đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của địch, mà tiêu biểu là trận chống càn ở Ấp Bắc ngày 2/1/1963.</p>
<p>Ấp Bắc thuộc chiến trường Quân khu VIII (Trung Nam Bộ), địa bàn đã từng có phong trào Đồng Khởi mạnh mẽ và tiêu biểu, nay cũng là nơi phong trào du kích đang phát triển mạnh. Tại đây, với chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận và phương tiện chiến tranh hiện đại, ở buổi đầu địch làm cho ta lúng túng, gây cho ta những thiệt hại đáng kể, như tháng 3/1962, địch sử dụng máy bay trực thăng, xe M113 đánh trạm giao liên Hương Điền (Kiến Tường), một tiểu đội ta hy sinh; ngày 18/8/1962, ở Tân Hoà Đông, trực thăng vận, thiết xa vận đánh trúng “Công trường” và quân y tỉnh Mỹ Tho, phá nát căn cứ, 20 chiến sỹ hy sinh trong lúc đang chuẩn bị lên chiến trường miền Đông; trận ác chiến Hưng Thạnh (9/1962) để lại cảnh tượng “dưới kênh máu đỏ, trên bờ thây phơi”, Đại đội 2/514 Mỹ Tho giết được 40 địch, nhưng mất đi nhiều chiến sỹ, cộng cả số cơ quan là 52 người, trong đó có 1 Thường vụ Tỉnh uỷ &#8211; nhưng trận này để lại một “gợi ý” rất giá trị: 1 Trung đội bật công sự phân tán chống đỡ bị thiệt hại nặng, nhưng 1 Trung đội khác lại tập trung, dựa vào công sự giáng trả địch, diệt 40 tên, hạ 1 máy bay, không hy sinh người nào.</p>
<p>Cái giá phải trả cho những tổn thất ban đầu là khó tránh khỏi. Nhưng, qua thực tế chiến đấu đã giúp quân và dân miền Nam, nhất là quân, dân khu VIII, nắm bắt một cách cụ thể chỗ mạnh, chỗ yếu của địch, nhanh chóng tổng kết kinh nghiệm để phá cho được các biện pháp chiến thuật, phương tiện chiến tranh mới của địch. Trận chiến Ấp Bắc diễn ra trong bối cảnh đó.</p>
<p>Ấp Bắc là tên gọi của 2 ấp thuộc xã Nhị Bình và xã Dưỡng Điềm (huyện Châu Thành), nằm giáp ấp Tân Bình thuộc xã Tân Phú (huyện Cai Lậy). Trận đánh Ấp Bắc diễn ra trên một phạm vi rộng, nhưng chủ yếu diễn ra ở ấp Tân Bình và Tân Thới thuộc xã Tân Phú.</p>
<p>Trước lúc trận chiến diễn ra, đêm 31/12/1962, tiểu đoàn 514 Mỹ Tho, tiểu đoàn 261 của Quân khu VIII đang tập trung tại Ấp Bắc để huấn luyện cách đánh máy bay trực thăng, xe bọc thép, cách tổ chức bố trí lực lượng, xây dựng hệ thống trận địa trong làng, xã để chiến đấu.</p>
<p>Về phía địch, qua mạng lưới trinh sát, điệp báo, chúng phát hiện được lực lượng của ta đang bố trí thế trận tại Ấp Bắc. Bộ Tư lệnh viện trợ quân sự Mĩ tại Sài Gòn, đứng đầu là Tướng Hackin, cùng Bộ Tư lệnh Quân lực VNCH cấp tốc vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và phương tiện chiến tranh, tổ chức cuộc hành quân càn quét quy mô lớn mang tên là cuộc hành quân “Đức Thắng” hòng “tiêu diệt và bắt gọn Việt cộng” trong khu vực này.</p>
<p>Nhận được tin này, Khu uỷ Khu VIII, Tỉnh uỷ Mỹ Tho điều động Đại đội 1 tiểu đoàn 261 và đại đội 1 tiểu đoàn 514, một khẩu pháo cối 60 ly và trung đội bộ đội chủ lực huyện Châu Thành, do một tiểu đoàn trưởng chỉ huy thống nhất, khẩn trương chuẩn bị mọi mặt, sẵn sáng đánh thắng cuộc càn quét của địch vào Ấp Bắc.</p>
<p>Để tạo ưu thế tuyệt đối về sức mạnh, địch huy động vào cuộc hành quân 3 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn Bộ binh số 7, một tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn Dù, hai đại đội biệt động quân, ba đại đội bảo an, ba đại đội dân vệ biệt kích, 13 xe thiết giáp M113, 13 tàu chiến trên sông, 6 máy bay khu trục B26, 15 máy bay trực thăng (10 CH21; 5 HU1A), 4 máy bay trinh sát L19, 7 máy bay vận tải C47; các trận địa pháo binh của Sư đoàn 7 bố trí trên lộ số 4 là hoả lực chi viện trực tiếp khi cuộc hành quân bắt đầu. Toàn bộ lực lượng hỗn hợp trên với 2.000 quân, đặt dưới sự chỉ huy của Đại tá Bùi Đình Đạm – Tư lệnh Sư đoàn 7, Trung tá Van Pôn &#8211; Cố vấn trưởng vùng IV chiến thuật.</p>
<p>Cuộc giao chiến giữa ta và địch kéo dài từ 6 giờ sáng đến 17 giờ ngày 2/1/1963; quân ta đã bám trụ, dựa vào làng chiến đấu, bẻ gãy 5 đợt tiến công của địch; kết quả: ta giết và làm bị thương 450 tên (trong đó có 19 cố vấn Mĩ), bắn rơi và bắn hỏng 8 trực thăng (5 chiếc bị bắn hạ), bắn cháy 3 thiết giáp M113, bắn chìm 1 tàu chiến trên sông, buộc địch phải bỏ dở cuộc càn quét và rút bỏ cuộc hành quân.</p>
<p>Phối hợp nhịp nhàng với quân dân Ấp Bắc, LLVT và nhân dân các huyện Cai Lậy, Châu Thành và thị xã Mỹ Tho đã đồng loạt tiến công và nổi dậy: trưa 2/1/1963, hơn 700 quần chúng thuộc các xã Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Phước Tây đã dùng xuồng “tản cư ngược” tiến lên bao vây các trận địa pháo binh địch, ngăn các trận pháo kích vào khu dân cư, đồng thời hỗ trợ cho quần chúng trong khu trù mật Mỹ Phước Tây nổi dậy đấu tranh phá thế kìm kẹp. Cùng ngày, các tổ chức binh vận đã vận động hơn 200 gia đình ngụy quân, ngụy quyền kéo về bệnh viện Mỹ Tho đòi chồng con, đưa yêu sách, làm cho tình hình thêm rối ren, tạo thuận lợi cho quân dân Ấp Bắc chiến đấu thắng lợi.</p>
<p>Đây là lần đầu tiên, trên địa bàn sông nước, chủ lực Quân Giải phóng và LLVT địa phương với quy mô tiểu đoàn đã đánh bại cuộc hành quân càn quét của nguỵ với lực lượng gấp 10 lần, trang bị vũ khí, hoả lực chi viện mạnh, sức cơ động cao, chiến thuật tân kỳ…</p>
<p>Chiến thắng Ấp Bắc đã gây một tiếng vang lớn trong phong trào cách mạng Khu VIII nói riêng và toàn miền Nam nói chung. Nó là mốc son lịch sử quan trọng đánh dấu sự phát triển cả về số lượng và chất lượng của cuộc kháng chiến; là kết quả của sự vận dụng linh hoạt, đạt yêu cầu cao của 3 mũi giáp công, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận. Đây cũng là lần đầu tiên quân và dân ta đánh bại những hình thức chiến thuật mới nhất của địch (trực thăng vận, thiết xa vận) vốn được coi là “con át chủ bài” trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Chiến thắng Ấp Bắc đánh sụp lòng tin của quân ngụy vào trang bị, vũ khí, kỹ thuật hiện đại của Mĩ, chứng tỏ quân và dân miền Nam hoàn toàn có khả năng đánh thắng “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ về quân sự.</p>
<p>“Trận Ấp Bắc (Cai Lậy) chẳng những cổ vũ và đem lại niềm tin mới cho nhân dân ta, khích lệ nhân dân và các LLVT tự vệ ở khắp nơi thi đua chống càn, tiến lên tiêu diệt địch nhiều hơn nữa, mà còn làm cho địch bối rối, kinh hoàng, gây nhiều tiếng vang trên thế giới, nâng cao thanh thế của phong trào cách mạng miền Nam Việt Nam”. Chính giới báo chí Mĩ có mặt tại chỗ coi Ấp Bắc là “trận đánh đẫm máu nhất của Nam Việt Nam trong 4 năm đánh Việt cộng” và “một trong những thất bại tốn kém nhất và nhục nhã nhất của quân đội Nam Việt Nam và của cố vấn Mĩ”. Báo chí của Diệm cũng thừa nhận: “Khỏi cần phải nói cũng có thể hiểu rằng, sau trận Ấp Bắc, Việt cộng lại càng được thế giới bên ngoài kính nể, và bọn phản chiến khắp thế giới càng có lý do để mạt sát cuộc chiến đấu bất lợi của quân lực VNCH”. Ấp Bắc thực sự “gây tiếng vang tai hại lớn tại quốc nội cũng như quốc ngoại và là nguồn gốc gây ra nhiều mâu thuẫn giữa các giới Việt Nam cũng như Hoa Kỳ”.</p>
<p>Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “<em>Sau Ấp Bắc, Mĩ thấy không thắng được ta trong Chiến tranh đặc biệt</em>”.</p>
<p>Nắm bắt kịp tình hình, TW Cục miền Nam liên tiếp phát động trên toàn miền Nam phong trào “<em>Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công</em>” nhằm phá quốc sách ACL, đánh bại ngụy, tiến lên đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ. Sau Ấp Bắc, Quân Giải phóng còn giành được những thắng lợi lớn, như trận tiêu diệt Trung tâm huấn luyện Plâymơrông (1/1963) ở Plâycu, trận chống càn ở Giồng Trôm (7/1963) ở Bến Tre, trận tiêu diệt Chi khu Đầm Dơi – Cái Nước (9/1963), trận đánh Sân bay Sóc Trăng (9/1963), trận Lộc Ninh (10/1963).</p>
<p>Nổi bật nhất là trận tiêu diệt gọn Tiểu đoàn Biệt động quân 32 (Cọp Đen) ở Đường Long &#8211; Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một (Bình Dương nay) ngày 31/12/1963. Mặc dù địch dùng máy bay ném bom bắn phá dữ dội, kể cả việc sử dụng bom Napan, tiểu đoàn “Cọp Đen” của địch vẫn bị ta xoá sổ hoàn toàn, loại khỏi vòng chiến đấu 250 tên, bắt 58 tên, bắn rơi 3 trực thăng, thu 110 súng các loại và đồ dùng quân sự. Trận Đường Long &#8211; Bến Cát là một trận chống càn trong đó quân ta đã giữ thế chủ động, kiên quyết tiến công địch, có cách đánh tốt và đã giành được thắng lợi dòn dã. Đây là trận tiêu diệt gọn 1 Tiểu đoàn ngụy quân đầu tiên trên chiến trường miền Nam từ sau ngày Đồng Khởi, kết thúc thắng lợi năm 1963, mở đầu cho những trận đánh tiêu diệt địch quy mô ngày càng lớn hơn. Tính chung trong năm 1963, quân và dân miền Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 7,8 vạn tên (trong đó có 600 lính Mĩ).</p>
<p><strong>* Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963:</strong></p>
<p>Trong năm 1963, cùng với phong trào đấu tranh vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị cũng phát triển mạnh mẽ và rộng khắp hơn so với năm 1962. Ở nông thôn và vùng rừng núi, phong trào đấu tranh chính trị phát triển kết hợp với phong trào đấu tranh vũ trang, với số lượt người tham gia đấu tranh cao hơn (trên 23 triêu lượt người), tiếp tục chống địch càn quét, gom dân lập ACL, nhất là phong trào phá ACL. Trong năm 1963, ta đã phá 2.895 ACL (trong tổng số 6.114 ACL), giải phóng 12.000 thôn, ấp. Nhiều cuộc biểu tình, tuần hành lớn kéo từ nông thôn vào đô thị, như ngày 15/4/1963 hơn 10.000 đồng bào Bến Tre đã kéo vào thị xã đấu tranh chống Mĩ &#8211; Diệm rải chất độc hoá học, càn quét, khủng bố, dồn dân vào các ACL.</p>
<p>Nổi bật nhất trong phong trào đấu tranh chính trị năm 1963 là phong trào Phật giáo, diễn ra từ đầu tháng 5/1963. Nguyên nhân sâu xa của phong trào này là do chính sách phản dân tộc, chính sách kỳ thị Phật giáo hết sức nặng nề của chính quyền Ngô Đình Diệm qua suốt 9 năm thống trị (1954 &#8211; 1963). Tiến thêm một bước nữa trong chính sách kỳ thị Phật giáo, vào dịp lễ Phật đản năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh triệt hạ cờ Phật giáo. Vào lúc 20h30’ ngày 6/5/1963, bức Công điện số 9195 của Phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm được chuyển đến chùa Từ Đàm (Huế) với nội dung cấm treo cờ Phật giáo. Công điện triệt hạ cờ Phật lập tức vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của Tăng, Ni, Phật tử miền Nam, trước hết là ở Huế.</p>
<p>Ngay trong đêm 6/5/1963, giới lãnh đạo Phật giáo đã mở ngay một cuộc họp tại chùa Từ Đàm và đi đến thống nhất phản đối Công điện 9195 của chính quyền Diệm qua 3 bức Điện văn: một gửi Phật giáo thế giới; một gửi Ngô Đình Diệm; một gửi cho các đoàn thể Phật giáo. Điện văn gửi Ngô Đình Diệm viết: “Phật giáo rất xúc động nhận được Công điện 9195 không cho treo cờ Phật giáo ngay trong ngày đại lễ Phật đản quốc tế. Chúng tôi không tin rằng quyết định đó xuất phát từ Tổng thống. Thỉnh cầu Tổng thống ra lệnh điều tra và thu hồi Công điện nói trên. Trân trọng”. Điện văn gửi các tổ chức Phật giáo viết: “Cờ Phật giáo bị triệt hạ bởi Công điện 9195. Đã điện Phật giáo Thế giới can thiệp và điện Tổng thống thỉnh cầu đình chỉ. Nhưng các tập đoàn vẫn thông báo các đơn vị và chờ chỉ thị”.</p>
<p>Trước thái độ kiên quyết của giới lãnh đạo Phật giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm buộc phải tạm thời chấp nhận thương lượng. Sáng ngày 7/5/1963, cuộc hội kiến giữa giới lãnh đạo Phật giáo và Ngô Đình Cẩn đã đi đến thống nhất để Phật giáo treo cờ trở lại để đón mừng Phật đản. Nhưng sau khi kết thúc cuộc hội kiến, Ngô Đình Cẩn ra lệnh cho Trưởng ty Cảnh sát thành phố Huế tập trung lực lượng thi hành việc triệt hạ cờ Phật giáo. 14h ngày 7/5/1963, cảnh sát, mật vụ thành phố Huế được tung ra để triệt hạ cờ Phật giáo, giành giật, xé nát và vứt xuống đường, công khai đánh chửi, hăm dọa bắt và bỏ tù những tăng ni Phật tử có hành động chống đối. Không chỉ cờ Phật giáo, mà tất cả những chiếc đèn lồng nếu có dấu hiệu của Phật giáo thì cũng chung số phận.</p>
<p>Hành động thô bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây nên phản ứng dữ dội trong hàng ngũ Tăng, Ni, Phật tử Huế. Quần chúng Phật tử đã xuống đường kéo đến tỉnh toà yêu cầu giải quyết. Khí thế của quần chúng Phật tử làm cho “phố phường như bừng dậy trong một cuộc động quân. Khắp các đường phố, từ trong thành, Đông Ba, Gia Hội, từng đoàn người lũ lượt kéo qua cầu Trường Tiền. Từ Vĩ Dạ lên, từ trên ga xuống, phía Kho Rèn, An Cựu về, dân thị xã và vùng phụ cận đổ về phía tỉnh đường đông nghịt cả người, đông một cách đáng sợ, như cuồng phong tới, như bão tố lên”. Trước áp lực mạnh mẽ của tăng ni Phật tử, Tỉnh trưởng Thừa Thiên buộc phải nhượng bộ bằng việc tuyên bố chấp nhận cờ Phật giáo được treo trở lại như cũ để đón mừng Phật đản.</p>
<p>Tối 7/5/1963, giới lãnh đạo Phật giáo tổ chức một cuộc họp mật tại chùa Từ Đàm và đã đi đến quyết định đoàn rước Phật sáng hôm sau (8/5/1963) từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm “sẽ là một cuộc biểu tình có tổ chức, chính thức mở màn cho cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam dưới hình thức công khai”.</p>
<p>Sáng 8/5/1963, cuộc rước Phật từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm bắt đầu từ 6h30’. Trên đường đi, quần chúng đã giương cao nhiều biểu ngữ có nội dung tố cáo chính sách bất công, gian ác của chính quyền Ngô Đình Diệm và bày tỏ quyết tâm đấu tranh của mình. Mỗi khẩu hiệu được hô to, nhất là khi đi qua trước Tỉnh toà và cứ thế cho đến khi đoàn rước Phật về đến chùa Từ Đàm.</p>
<p>Tại chùa Từ Đàm, trước lúc cử hành lễ chính thức, giới lãnh đạo Phật giáo đã giải thích từng câu biểu ngữ và cho rằng: “Nguyện vọng của Phật giáo đồ rất chính đáng và có tính chất xây dựng, không chỉ có lợi cho Phật giáo, các tôn giáo khác, mà còn lợi ích cho cả chính phủ nữa” và tố cáo chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tôn giáo và đòi thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo.</p>
<p>Theo chương trình đã được loan báo, vào 20h05’ ngày 8/5/1963, Đài Phát thanh Huế sẽ truyền thanh lại buổi lễ Phật đản đã tổ chức tại chùa Từ Đàm lúc sáng. Tuy nhiên đến giờ đó, chương trình truyền thanh đã bị chính quyền huỷ bỏ. Quần chúng Phật tử khắp nơi trong thành phố Huế kéo đến Đài phát thanh đấu tranh. Khoảng 21 giờ, Đài phát thanh Huế đã bị quần chúng bao vây. Khi cuộc đàm phán diễn ra bên trong Đài phát thanh giữa giới lãnh đạo Phật tử và viên Tỉnh trưởng, thì ở bên ngoài, viên Phó Tỉnh trưởng phụ trách Quân sự chỉ huy binh lính, cảnh sát, xe tăng mở cuộc đàn áp. Xe cứu hoả xịt nước, cảnh sát ném lựu đạn cay, trái phá, tiếp đến là xe tăng từ nhiều hướng lao vào đám đông quần chúng Phật tử. Cuộc đàn áp làm nhiều người bị thương và 8 Phật tử (hầu hết ở tuổi thiếu niên) bị thiệt mạng. Một số thi thể bị xe thiết giáp cán vỡ đầu hoặc dập nát mình.</p>
<p>Ngày hôm sau (9/51963), đông đảo quần chúng Phật tử đổ ra đường biểu tình, tố cáo sự tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm và yêu cầu giới lãnh đạo Phật giáo tiếp tục cuộc đấu tranh để bảo vệ Đạo pháp.</p>
<p>Sáng 10/5/1963, giới lãnh đạo Phật giáo huy động đông đảo quần chúng Phật tử tập trung về chùa Từ Đàm, tổ chức mít tinh lên án chính quyền Ngô Đình Diệm. Tại cuộc mít tinh, Hoà thượng Thích Tịnh Khiết thay mặt Tổng hội Phật giáo Việt Nam công bố “Bản Tuyên ngôn của tăng, tín đồ Phật giáo Việt Nam”, trong đó đưa ra 5 nguyện vọng khẩn thiết đòi chính quyền Ngô Đình Diệm phải giải quyết:</p>
<p>“1) Yêu cầu Chính phủ Việt Nam cộng hoà thu hồi vĩnh viễn Công điện triệt giáo kỳ của Phật giáo.</p>
<p>2) Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một quy chế đặc biệt như các Hội truyền giáo Thiên Chúa đã được ghi trong Dụ số 10.</p>
<p>3) Yêu cầu Chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố tín đồ Phật giáo.</p>
<p>4) Yêu cầu cho tăng, tín đồ Phật giáo được tự do truyền đạo và hành đạo.</p>
<p>5) Yêu cầu Chính phủ phải đền bồi một cách xứng đáng cho những kẻ bị giết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải đền bồi đúng mức”.</p>
<p>Tuyên ngôn khẳng định quyết tâm đấu tranh của tăng, tín đồ Phật giáo Việt Nam: “Chúng tôi sẵn sàng hy sinh cho đến lúc nào những nguyện vọng hợp lý trên đây được thực hiện”.</p>
<p>Vụ đàn áp đẫm máu của chính quyền Ngô Đình Diệm ở Huế đã gây ra một phản ứng mạnh mẽ khắp nơi trong cả nước và trên thế giới. Ngày 9/5/1963, giới lãnh đạo Phật giáo tại Sài Gòn lên tiếng vạch trần những tội ác của chính quyền Ngô Đình Diệm trong suốt 9 năm thống trị, rằng “Phật tử chúng ta (cả xuất gia và tại gia) có nơi bị chôn sống, bị vu khống, bị tù đày, bị thiên cư, bị nhục mạ, ngày nay lại thêm một cái tát đau đớn nữa là lá cờ Phật giáo quốc tế &#8211; linh hồn của Phật giáo &#8211; bị huỷ bỏ ngay ngày kỷ niệm đấng Giáo chủ của chúng ta, đến nỗi cuộc hy sinh vì đạo đã phải diễn ra tại Huế”, đồng thời kêu gọi “toàn thể Phật giáo đồ, không phân biệt xuất gia hay tại gia, người Việt hay ngoại kiều, hễ ai còn nhiệt tâm vì đạo, chúng ta hãy tự bình tĩnh, luôn luôn muôn người như một, sẵn sàng bảo vệ đạo, chết vì đạo”.</p>
<p>Ngày 14/5/1963, Mặt trận DTGPMNVN ra tuyên bố: “Cuộc đàn áp đẫm máu của chính quyền phát xít Mĩ &#8211; Diệm đối với đồng bào biểu tình tay không ngày 8/5 ở Huế là một hành động tội ác tày trời không thể tha thứ được đối với nhân dân ta nói chung và đối với đồng bào theo đạo Phật nói riêng… Cuộc đàn áp đẫm máu lần này đã bóc trần lời của Mĩ &#8211; Diệm vẫn thường vỗ ngực tự xưng là hữu thần, là tôn trọng tự do tín ngưỡng, và nhất định nó sẽ càng nung nấu thêm lòng căm thù và chí kiên quyết tiêu diệt chúng của tín đồ các tôn giáo ở miền Nam Việt Nam”. Bản Tuyên bố ủng hộ 5 nguyện vọng đã nêu trong Bản Tuyên ngôn ngày 10/5/1963 của tăng, tín đồ Phật giáo miền Nam. Xã luận báo Nhân Dân ngày 15/5/1963 khẳng định: “Cuộc đấu tranh của đồng bào theo đạo Phật và các tầng lớp đồng bào khác ở Huế là một cuộc đấu tranh chính nghĩa, được nhân dân cả nước ủng hộ. Nhân dân miền Bắc vô cùng khâm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào Huế được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi ở miền Nam. Chúng ta tin chắc cuộc đấu tranh bền bỉ và anh dũng của đồng bào Huế và ở toàn miền Nam mặc dù phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng”.</p>
<p>Tại Sài Gòn, ngày 15/5/1963, Ngô Đình Diệm tiếp đoàn đại biểu Phật giáo. Cuộc tiếp kéo dài hơn 3 tiếng đồng hồ, nhưng không một nguyện vọng nào của Phật giáo được giải quyết. Ngược lại, Ngô Đình Diệm cho rằng, thủ phạm tại Đài phát thanh Huế chính là cộng sản.</p>
<p>Do chính quyền Ngô Đình Diệm không chịu giải quyết những nguyện vọng của Phật giáo, từ cuối tháng 5, đầu tháng 6/1963, cuộc đấu tranh của tăng, tín đồ Phật giáo miền Nam chuyển sang một bước phát triển mới. Ngày 30/5/1963, cuộc tuyệt thực của giới lãnh đạo Phật giáo được tiến hành trên toàn miền Nam. Sáng ngày 1/6/1963, khi cuộc tuyệt thực sắp chấm dứt, song 5 nguyện vọng của Phật giáo vẫn không được chính quyền Ngô Đình Diệm thoả mãn, quần chúng Phật tử hết sức công phẫn, từ chùa Từ Đàm và chùa Diệu Đế, họ kéo về Tỉnh toà biểu tình, đưa kiến nghị, khẳng định quyết tâm “đồng lòng cùng sống cùng chết dẫu một mất một còn cũng cương quyết đấu tranh cho đến cùng”. Sau đó đoàn người về chùa Từ Đàm tiếp tục cuộc tuyệt thực thêm 24 giờ đồng hồ nữa.</p>
<p>Ngày 3/6/1963, 500 sinh viên Phật tử Huế biểu tình trước trụ sở “Đại biểu Chính phủ” miền Bắc Trung nguyên Trung phần. Cuộc biểu tình đã bị cảnh sát Diệm đàn áp và giải tán bằng hơi cay. Cũng trong ngày 3/6/1963, khi quần chúng Phật tử trên đường đến chùa Từ Đàm, họ bị LLVT của Diệm thẳng tay đàn áp ở cầu Bến Ngự. Chúng ném lựu đạn cay, lựu đạn khói vào đám đông, thả chó béc-giê cắn xé đồng bào, tiếp theo là hàng loạt chai axit ném tới tấp vào đoàn người tay không. Cuộc đàn áp này làm 142 người bị thương, trong đó 49 người bị thương nặng phải vào Bệnh viện TW Huế điều trị, 35 người khác bị bắt. Cùng với đàn áp, chính quyền Diệm ngấm ngầm bắt cóc, thủ tiêu tăng, ni, Phật tử. Tại Huế, chính quyền Diệm phong toả chùa Từ Đàm, xúi giục các gia đình có con em tử nạn trong vụ đàn áp tại Đài phát thanh Huế rút tên khỏi danh sách Thánh tử đạo. Ngày 8/6/1963, Trần Lệ Xuân ra Thông cáo lên án Phật giáo.</p>
<p>Trước tình thế đó, giới lãnh đạo Phật giáo buộc phải tiếp tục cuộc đấu tranh và đưa nó lên một mức cao hơn. Ngày 11/6/1963, tại ngã tư đường Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu và CMT8) Sài Gòn, Hoà thượng Thích Quảng Đức đã anh dũng tự thiêu trước sự chứng kiến của hàng chục ngàn tăng, ni, Phật tử, cùng những quan sát viên và báo chí quốc tế. Cái chết của Thích Quảng Đức có một ý nghĩa to lớn, chuyển cuộc đấu tranh Phật giáo sang một thế mới, trên cả hai bình diện quốc tế và trong nước: “Cuộc hy sinh phi thường và dũng cảm của Hoà thượng Thích Quảng Đức, hình ảnh cụ ngồi thẳng như tượng đá trong ngọn lửa rực hồng đã nhanh chóng như một làn sóng điện làm sôi nổi dư luận trong cả nước Việt Nam và trên thế giới. Ảnh vị Hoà thượng Việt Nam Thích Quảng Đức ngồi trong ngọn lửa được đăng trên hầu hết khắp các báo khắp năm châu, với những dòng chữ nói lên sự khâm phục”.</p>
<p>Lo sợ một sự bùng nổ lớn, chính quyền Ngô Đình Diệm vội vã ký với giới lãnh đạo Phật giáo một Thông cáo chung vào 2 giờ sáng ngày 16/6/1963. Nội dung Thông cáo chung về cơ bản thoả mãn được 5 nguyện vọng mà giới lãnh đạo Phật giáo đã đề ra trong Bản Tuyên ngôn 10/5/1963. Mặc dầu vậy, sáng ngày 16/6/1963, 700.000 người dân Sài Gòn đổ ra đường phố, kéo về chùa Xá Lợi, nơi đặt thi hài Thích Quảng Đức. Cuộc xô xát giữa quần chúng và lực lượng cảnh sát đặc biệt của Diệm xảy ra ở ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Thanh Giản. “Đây là cuộc đấu tranh chính trị quyết liệt nhất ở Sài Gòn trong mấy năm nay. Nó đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa nhân dân ta với chế độ độc tài phát xít Mĩ &#8211; Diệm, đẩy chúng vào tình thế bị cô lập hơn bao giờ hết”.</p>
<p>Thực ra đối với chính quyền Ngô Đình Diệm, việc ký kết Thông cáo chung chỉ là một sự nhượng bộ tạm thời để chuẩn bị cho một cuộc đàn áp đại quy mô hơn nhằm đè bẹp phong trào. Điện mật mang số 1342/VP/TT ngày 19/6/1963 của Văn phòng Phủ Tổng thống đánh đi cho “Đại biểu Chính phủ” các miền, Tư lệnh vùng, nguyên văn như sau: “Để tạm thời làm dịu tình hình và khí thế đấu tranh quá quyết liệt của bọn tăng ni và Phật giáo phản động, Tổng thống và ông Cố vấn ra lệnh tạm thời nhún nhường họ. Các nơi hãy theo đúng chủ trương trên và đợi lệnh. Mọi kế hoạch đối phó thích nghi sẽ gửi đến sau. Ngay từ bây giờ hãy chuẩn bị dư luận cho giai đoạn tấn công mới. Hãy theo dõi và điều tra thanh trừng những phần tử Phật giáo bất mãn và trình thượng cấp kể cả sĩ quan và công chức cao cấp”. Trong một cuộc họp của 18 tướng tá vào đầu tháng 7/1963, Ngô Đình Nhu tuyên bố: “Nếu chính phủ này không giải quyết vấn đề Phật giáo, nó sẽ bị lật đổ vì một cuộc đảo chính quân sự”. Theo Nhu “bất cứ chính phủ nào thay thế chính phủ này trước hết phải đập tan những người Phật giáo”.</p>
<p>Đêm 20, rạng ngày 21/8/1963, chính quyền Ngô Đình Diệm cho thực hiện “Kế hoạch nước lũ”, tấn công đồng loạt hầu hết các ngôi chùa được làm cơ sở đấu tranh trên khắp miền Nam. Các chùa Ấn Quang, Xá Lợi (Sài Gòn), Từ Đàm, Diệu Đế (Huế).v.v. bị lực lượng Diệm tấn công dữ dội. Cuộc kháng cự của tăng, ni, Phật tử diễn ra rất quyết liệt từ nửa đêm cho đến gần sáng, lực lượng Diệm mới phá vỡ được các vòng đai phòng thủ để tiến vào bên trong các chùa. Theo số liệu của chính quyền Ngô Đình Diệm, số tăng, ni, Phật tử bị bắt trong đêm đồng loạt tấn công nói trên chỉ tính riêng Sài Gòn và Huế lên tới 1.323 người.</p>
<p>Cùng với “Kế hoạch nước lũ”, Ngô Đình Diệm đọc “Tuyên cáo” và ban hành lệnh giới nghiêm công khai đặt miền Nam dưới sự cai trị của chế độ quân phiệt. Sắc lệnh giới nghiêm cho phép quân đội có quyền “xét các tư gia bất cứ giờ nào, bắt giữ những người xét có hại cho an ninh công cộng. Tất cả mọi sự vi phạm trật tự công cộng đều thuộc thẩm quyền của Toà án Quân sự”.</p>
<p>Bằng tất cả các biện pháp trên đây chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn không thể nào dập tắt được phong trào. Thật vậy, sau cuộc tấn công đồng loạt các chùa, phong trào không những không bị đè bẹp mà còn phát triển sâu rộng trong hầu hết các tầng lớp nhân dân. Liền sau “Kế hoạch nước lũ”, ngày 22/8/1963, Mặt trận DTGPMNVN ra tuyên bố chỉ rõ: “Điều quan trọng bậc nhất hiện nay là tín đồ Phật giáo cũng nhân dân các đô thị kiên quyết giữ vững tinh thần, giữ vững đội ngũ, giữ vững đấu tranh… Tinh thần bất khuất trước sau vẫn là võ khí bất khả chiến thắng của chúng ta. Với ý chí và tinh thần ấy, chúng ta sẽ làm cho Mĩ &#8211; Diệm bị thất bại nhục nhã”.</p>
<p>Những ngày sau 21/8/1963, cả thành phố Sài Gòn rung động trước sự phát triển của phong trào. Nhiều Bộ trưởng, Khoa trưởng, Giáo sư đại học từ chức. Ngày 22/8/1963, một nhóm giáo chức Sài Gòn rải truyền đơn lên án chính quyền Ngô Đình Diệm tấn công chùa và kêu gọi trí thức vùng dậy đấu tranh: “Chúng ta phải làm gì trong khi khắp nơi đồng nghiệp của chúng ta thẳng thừng từ bỏ chức vụ để đòi hỏi sự giải quyết vấn đề kỳ thị tôn giáo của chính phủ. Hơn thế nữa, mới đây khoảng 1 giờ đêm 20 rạng ngày 21/8/1963 để xác định tính chất tàn ác, vô nhân đạo, chính phủ Ngô Đình Diệm đã cho quân đội tàn phá tất cả chùa chiền ở thủ đô và toàn quốc, bắt giết các vị tăng ni và các cấp lãnh đạo Phật giáo một cách dã man.</p>
<p>Quý vị nghĩ sao trước lời kêu gọi này?</p>
<p>Chúng tôi đang đợi phản ứng của quý vị, là những người thức giả có nhiệm vụ tiên phong trong giai đoạn đấu tranh này”.</p>
<p>Về phía sinh viên, ngày 24/8/1963, Uỷ ban Chỉ đạo sinh viên và học sinh được thành lập. Uỷ ban này “tuyên bố bãi khoá, nghỉ học để đấu tranh cho tự do tín ngưỡng”. Cùng ngày này, tại trường Đại học Khoa học, 1.200 sinh viên đến trường để thi vào năm dự bị, nhưng không ai chịu vào phòng thi, họ xé phiếu báo danh, hô các khẩu hiệu: “Đả đảo Chính phủ” và hô hào bãi khoá. Tại trường Đại học Dược khoa, 700 sinh viên đến trường nhưng không chịu vào lớp. Truyền đơn của Uỷ ban Liên phái bảo vệ Phật giáo dán trên bảng đen kêu gọi đình công, bãi thị, bãi khoá để đấu tranh bảo vệ sự sống còn của Dân tộc và Đạo pháp. Tại trường Đại học Y và Nha khoa, sinh viên xông vào phòng Hội đồng xé đề thi làm lộ đề thi môn toán. Tại trường Đại học Luật khoa, có trên 1.200 sinh viên họp mít tinh lên án chính quyền Ngô Đình Diệm và kêu gọi bãi khoá để đấu tranh. Để đẩy lùi cao trào nổi dậy của sinh viên, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh đóng cửa các trường Đại học và Cao đẳng, lùng bắt cán bộ chỉ đạo phong trào.</p>
<p>Tuy vậy, sáng ngày 25/8/1963, bất chấp lệnh giới nghiêm của chính quyền Diệm, thanh niên, học sinh, sinh viên Sài Gòn từ nhiều hướng đổ về trước chợ Bến Thành tổ chức biểu tình lên án chính quyền Ngô Đình Diệm. Đông đảo đồng bào từ trong chợ đổ ra đường hưởng ứng cuộc biểu tình. Cuộc đàn áp diễn ra. Thanh niên, sinh viên, học sinh đã chống trả quyết liệt. Cảnh sát Diệm đã bắn vào đoàn biểu tình, nữ sinh Quách Thị Trang hy sinh, và có khoảng 2.000 nam nữ sinh viên, học sinh bị bắt đưa về giam tại “Trung tâm huấn luyện Quang Trung”.</p>
<p>Tại Huế, các trường Đại học đã hoàn toàn đóng cửa sau quyết định bãi khoá của sinh viên và sự từ chức của toàn thể Giáo sư vào giữa tháng 8/1963. Sau đêm tấn công chùa, sân vận động thành phố đã biến thành một trại giam khổng lồ để giam giữ sinh viên và học sinh.</p>
<p>Ngày 28/8/1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời tuyên bố nghiêm khắc lên án chính quyền Diệm đánh phá chùa, đàn áp và bắt bớ tăng, ni, Phật tử và khủng bố giáo sư, sinh viên, học sinh miền Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tội ác của chúng, trời đất không thể dung. Hành động hung tàn của chúng, nhân dân ta đều căm giận. Cả thế giới đều lên tiếng phản đối, nhân dân tiến bộ Mĩ cũng tỏ lòng bất bình”. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “đồng bào miền Nam ta đoàn kết nhất trí, không phân biệt sĩ nông công thương, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, kiên quyết đấu tranh để giành lại tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng”.</p>
<p>Đầu tháng 9/1963, học sinh các trường Võ Trường Toản, Trung học Kỹ thuật Cao Thắng, Chu Văn An,…bãi khoá, biểu tình phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm tấn công chùa. Cảnh sát chiến đấu được huy động tới bao vây và đàn áp. Cuộc chiến đấu của học sinh diễn ra hết sức mãnh liệt. Học sinh đã dùng búa, bàn ghế và các dụng cụ có sẵn của nhà trường chống lại cảnh sát. Ở trường Chu Văn An, cảnh sát Diệm được huy động thêm lực lượng nhưng đến đợt thứ ba mới đàn áp được. Có tới 1.200 học sinh bị bắt đưa về trại giam An Nhơn ở Gò Vấp.</p>
<p>Cùng với phong trào đấu tranh mãnh liệt của quần chúng, nhất là phong trào HSSV, một số nhà sư trong giới lãnh đạo Phật giáo thoát được cuộc khủng bố, hoặc bị quản thúc vẫn tiếp tục bí mật hoạt động lãnh đạo quần chúng đấu tranh đòi trả tự do cho tăng ni, Phật tử, giáo sư, HSSV bị bắt. Nhiều thư của giới lãnh đạo Phật giáo bí mật gửi tới Tổng thư ký LHQ và Phái đoàn điều tra LHQ khi phái đoàn này đến miền Nam.</p>
<p>Trong điều kiện lưới mật vụ cũng như lực lượng chống biểu tình của chính quyền Diệm giăng ra dày đặc, trong phong trào quần chúng xuất hiện những hình thức đấu tranh mới, như các bà mẹ đã lấy bong bóng kết theo các biểu ngữ mang nội dung chống Diệm thả lên không trung; hoặc là những tấm áp phích kí hoạ mô tả chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm; hoặc ở chợ Bến Thành có hình thức thả khỉ mang tên những anh em gia đình họ Ngô,… Trong tháng 10/1963, các nhà sư vẫn tiếp tục tự thiêu để phản đối Diệm (nhà sư Thích Nguyên Hương tự thiêu trước chợ Bến Thành 5/10/1963; nhà sư Thích Thiện Mĩ tự thiêu trước nhà thờ Đức Bà 27/10/1963).</p>
<p>Như vậy, cùng với phong trào đấu tranh quân sự ở nông thôn đồng bằng và miền núi trong năm 1963, khởi đầu là Ấp Bắc (2/1/1963); phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị, nhất là Sài Gòn và Huế, diễn ra hết sức quyết liệt, phối hợp nhịp nhàng với phong trào đấu tranh quân sự. Bị kẹp giữa hai gọng kìm chính trị và quân sự, mâu thuẫn nội bộ chính quyền Diệm, nhất là mâu thuẫn Mĩ &#8211; Diệm phát triển đến đỉnh cao, không thể nào khắc phục được. Trong cái “thế chẳng đặng đừng”, Nhà Trắng buộc phải thực hiện chính sách “thay ngựa giữa dòng”, ủng hộ nhóm tướng lĩnh trong quân đội Sài Gòn do Dương Văn Minh cầm đầu làm cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, lật đổ chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm. Nền “Đệ Nhất cộng hoà” với học thuyết “Cần lao nhân vị” do Mĩ dày công xây dựng trong suốt 9 năm (1954 &#8211; 1963) bị sụp đổ. Kế hoạch Stalây – Taylo nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng với “quốc sách ACL” của Mĩ &#8211; Diệm bị phá sản.</p>
<p>Về ý nghĩa của những thắng lợi của cách mạng miền Nam trong năm 1963 trên mặt trận chính trị, Tổng Bí thư Lê Duẩn viết: “Cả trong thành thị cũng dấy lên những làn sóng cách mạng quyết liệt, làm rối loạn hậu phương của địch, làm lung lay tận gốc rễ chế độ bù nhìn. Hoang mang trước sự lớn mạnh và thế tiến công của cách mạng, đế quốc Mĩ buộc phải thay đổi tay sai, phế bỏ Ngô Đình Diệm hòng cải thiện tình hình chính trị và quân sự để cứu vãn thất bại. Song Mĩ đã phạm phải sai lầm. Sau sự sụp đổ của Diệm, chiến tranh cách mạng đã phát triển lên một bước mới”.</p>
<p><strong>d) Sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”</strong></p>
<p>Trước sự thất bại nặng nề của Kế hoạch Stalây – Taylo, Mĩ vẫn ngoan cố bám lấy miền Nam. Sau khi lên thay Kennơđi (bị ám sát 22/11/1963), Giônxơn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh, đưa cuộc “Chiến tranh đặc biệt” lên đến đỉnh cao. Ngày 24/11/1963 trên cương vị mới, Giônxơn triệu tập cuộc họp các cố vấn cấp cao về Việt Nam, khẳng định tiếp tục theo đuổi các chính sách và những hành động mà Mĩ đã cam kết với miền Nam Việt Nam để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh. Theo Giônxơn, hành động trước mắt của Mĩ là gia tăng các hoạt động quân sự; hoạt động quân sự phải được ưu tiên hơn so với “những cải cách xã hội” mà Mĩ đang triển khai ở miền Nam Việt Nam.</p>
<p>Chuẩn bị cho nỗ lực chiến tranh mới của Mĩ, tháng 12/1963, Giônxơn cử một phái đoàn do Mac Namara dẫn đầu đến Sài Gòn để xem xét tình hình tại chỗ, đề xuất những biện pháp mới nhằm giành thắng lợi. Ngày 21/12/1963, sau khi trở về Mĩ, Mac Namara trình lên Giônxơn báo cáo mang tên “Tình hình Việt Nam”. Theo Mac Namara, đến cuối 1963, “<em>Việt cộng kiểm soát được một tỷ lệ dân số rất cao ở một số tỉnh then chốt, đặc biệt là các tỉnh ở ngay phía Nam và phía Tây Sài Gòn… Tình hình rất rắc rối. Chiều hướng hiện nay, trừ phi có sự thay đổi trong hai ba tháng tới, nếu không may mắn lắm, sẽ dẫn tới việc trung lập hoá, có khả năng nhiều hơn là Nam Việt Nam trở thành một quốc gia dưới quyền kiểm soát của cộng sản</em>”. Để ngăn chặn chiều hướng này và cải thiện tình hình ảm đạm đang bao phủ VNCH, Mac Namara đề xuất 3 biện pháp:</p>
<p>1) Yêu cầu chính phủ Sài Gòn bố trí lại toàn bộ lực lượng quân đội theo hướng bảo đảm cho các tỉnh xung quanh Sài Gòn và vùng châu thổ có quân số tăng gấp đôi.</p>
<p>2) Tăng nhân viên quân sự, nhân viên phái đoàn hành quân Mĩ (USOM) đến mức số người Mĩ có ở Nam Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng đem lại cho các cơ quan điều hành chiến tranh của Mĩ sự đánh giá độc lập, đáng tin cậy về các mặt hoạt động trên chiến trường.</p>
<p>3) Chuẩn bị cho các chương trình bình định thiết thực, đồng thời nỗ lực để đảm bảo an ninh cho các vùng do chính phủ VNCH hiện còn đang kiểm soát và sau đó, mở rộng dần ra vùng gần đó.</p>
<p>Những biện pháp do Mac Namara đề xuất được Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mĩ đồng ý. Trong thư gửi cho Mac Namara ngày 22/1/1964, tướng Taylo, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân cho rằng, Mĩ “cần mở rộng cuộc chiến tranh sang oanh tạc miền Bắc Việt Nam bằng không quân Mĩ và chuyển từ huấn luyện người Nam Việt Nam sang tiến hành cả ở hai miền Bắc và Nam Việt Nam bằng lực lượng chiến đấu Mĩ”.</p>
<p>Từ ngày 8 – 12/3/1964, Mac Namara và Taylo lại sang Sài Gòn một lần nữa. Trở lại Mĩ ngày 16/3/1964, Mac Namara trình lên Tổng thống Giônxơn báo cáo về tình hình Nam Việt Nam và những biện pháp nhằm thay đổi chiều hướng cuộc chiến tranh. Báo cáo được Giônxơn phê chuẩn ngày 17/3/1964, gồm những nội dung chủ yếu sau:</p>
<p>1) Sẵn sàng cung cấp viện trợ và hỗ trợ cho Nam Việt Nam chừng nào còn cần thiết.</p>
<p>2) Ủng hộ Chính phủ Khánh chống lại bất kỳ cuộc đảo chính nào sau này.</p>
<p>3) Ủng hộ chương trình động viên quốc gia (kể cả việc thông qua một đạo luật về quân dịch), đưa Nam Việt Nam vào tình thế chiến tranh.</p>
<p>4) Giúp đỡ chính quyền Sài Gòn tăng quân số (quân chính quy và nửa chính quy) lên ít nhất 50 vạn người.</p>
<p>5) Giúp đỡ đạo tạo đội ngũ cán bộ hành chính, dân sự đông đảo hoạt động ở cấp tỉnh, quận và thôn ấp.</p>
<p>6) Cung cấp cho quân ngụy 25 máy bay A14 thay thế cho các máy bay T28, các xe bọc thép M113, tàu tuần tra trên sông và 5 – 10 triệu đô la cho các khoản trang bị khác.</p>
<p>7) Cho phép máy bay Mĩ tiếp tục bay do thám ở độ cao các khu vực biên giới Nam Việt Nam, cho phép “truy kích ngay lập tức” và tiến hành các hoạt động trên bộ của Nam Việt Nam ở biên giới Lào nhằm kiểm soát biên giới.</p>
<p>8) Chuẩn bị ngay lập tức để khi báo trước 72 tiếng đồng hồ là có thể tiến hành các hoạt động quy mô lớn “kiểm soát biên giới” ở Lào, Campuchia và các hoạt động trả đũa chống Bắc Việt Nam, khi được báo trước 30 ngày là có thể tiến hành chương trình “gây sức ép quân sự công khai từng bước một” chống Bắc Việt Nam.</p>
<p>Kế hoạch bao gồm các biện pháp trên đây do Mac Namara soạn thảo và được Giônxơn chuẩn y được gọi là “Kế hoạch Giônxơn – Mac Namara” và bắt đầu thức hiện từ ngày 1/4/1964, gồm 2 bước chính:</p>
<p>Bước 1, từ 1/4/1964 – 31/12/1965 (2 năm): Bình định có trọng điểm ở các vùng chiến thuật.</p>
<p>Bước 2, bắt đầu từ 1966, tiến công vào các vùng căn cứ, tiêu diệt các đơn vị chủ lực quân giải phóng, phá huỷ các cơ sở quân sự của ta.</p>
<p>Nhằm biến kế hoạch này thành hiện thực, Giônxơn thay đổi toàn bộ giới lãnh đạo cao cấp Mĩ ở Nam Việt Nam. Tướng Uyliam Oétmolen được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh các lực lượng quân sự Mĩ ở Nam Việt Nam thay cho Hackin; Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Măcxoen – Taylo thay Cabôtlôt làm Đại sứ Mĩ ở Sài Gòn. Lực lượng cố vấn, yểm trợ Mĩ được tăng cường từ 22.400 người (1963) lên 26.200 người (1964); quân ngụy tăng từ 417.000 người (1963) lên tới 561.000 người (1964). Trang bị kỹ thuật cũng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng: số máy bay từ 627 chiếc (1963) lên 989 chiếc (1964); xe cơ giới từ 582 chiếc (1963) lên 732 chiếc (1964); pháo từ 248 khẩu (1963) lên 415 khẩu (1964).</p>
<p>Với lực lượng được tăng cường cả về chỉ huy, quân số và trang bị kỹ thuật, Mĩ tập trung bình định “có trọng điểm” những vùng bị du kích kiểm soát, góp phần cải thiện tình hình tồi tệ của quân ngụy, hòng giành lại thế chủ động.</p>
<p>Về phía ta, trước những âm mưu và thủ đoạn mới của Mĩ, tháng 12/1963, BCHTW Đảng tiến hành họp Hội nghị lần thứ 9. Trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn bộ diễn biến của tình hình chiến trường, tình hình trong nước và quốc tế, Hội nghị đã chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là: “Động viên toàn Đảng, toàn dân vượt mọi khó khăn và trên cơ sở phát triển mạnh mẽ hơn nữa ý thức giác ngộ chính trị của nhân dân, ra sức phấn đấu xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang, (nhất là LLVT), làm thay đổi mau chóng lực lượng so sánh giữa ta và địch theo chiều hướng có lợi cho ta; tích cực xây dựng và mở rộng căn cứ địa, đặc biệt là ở những địa bàn chiến lược và cơ động của quân chủ lực; tiến lên đánh tiêu diệt và làm tan rã từng bộ phận quân đội địch; phá phần lớn các ACL, làm chủ vùng rừng núi và phần lớn xã thôn vùng đồng bằng, tạo điều kiện cho phong trào quần chúng đô thị nổi dậy mạnh mẽ, đẩy chế độ của Mĩ và tay sai đến chỗ khủng hoảng sâu sắc hơn và mau suy sụp hơn, làm cho phong trào giành chủ động về chiến lược tạo ra thời cơ tốt để giành những thắng lợi quyết định về ta”.</p>
<p>Thực hiện nhiệm vụ trên đây, Hội nghị chỉ ra 2 nội dung chủ yếu, phải quyết tâm đạt cho được nhằm làm thất bại âm mưu “kiểm soát nhân dân bằng ACL và tiêu diệt LLVT ta bằng lực lượng quân sự mạnh”. Đó là:</p>
<p>1) Làm thất bại mức độ gom dân lập ACL của địch, phá phần lớn các ACL địch đã làm được, bảo đảm giành nhân tài, vật lực cho cách mạng, làm chủ phần lớn nông thôn, rừng núi.</p>
<p>2) Tiêu diệt sinh lực địch, làm tan rã từng bộ phận quân đội địch, tạo điều kiện làm tan rã lực lượng quân sự, chỗ dựa của Mĩ và tay sai.</p>
<p>Tiếp theo, ngày 1/1/1964, Mặt trận DTGPMNVN họp Đại hội lần thứ II, ra lời kêu gọi quân và dân miền Nam “dốc toàn lực, thực hiện đến cùng cuộc kháng chiến toàn diện và trường kỳ chống đế quốc Mĩ xâm lược và tay sai bán nước”.</p>
<p>Thực hiện NQ trên đây và hưởng ứng Lời kêu gọi của Mặt trận; đồng thời lợi dụng sự mâu thuẫn nội bộ địch đang gia tăng; trong 2 năm 1964 – 1965, quân và dân miền Nam đã nỗ lực đẩy mạnh cuộc chiến tranh cách mạng, liên tiếp giành được những thắng lợi có ý nghĩa quyết định.</p>
<p>Trên mặt trận quân sự, ta tiếp tục phát huy thế chủ động tiến công địch ở cả 3 vùng, kể cả những vùng trọng điểm bình định của địch, nổi bật nhất là các chiến thắng Thạnh Phú (Bến Tre, 1/1964); trận tập kích trại sĩ quan Mĩ ở thị xã KonTum (2/2/1964); trận tấn công tiêu diệt Chi khu quân sự Vĩnh Thuận ở Rạch Giá (4/1964); trận tập kích tiêu diệt trại lính đặc biệt của Mĩ ở Plây Côrông (7/1964);… Đặc biệt, thời gian này, được sự hỗ trợ của nhân dân đô thị, các LLVT giải phóng đã tổ chức tiến công địch một các táo bạo trong thành phố, như trận đánh chìm tàu sân bay Cader 15.000 tấn ở Sài Gòn (2/5/1964); đánh tàu chở xăng của Mĩ trên sông Nhà Bè thiêu huỷ 70 vạn lít xăng; đánh sập khách sạn Caraven (8/1964) diệt hàng chục tên Mĩ; đánh khách sạn Brink (12/1964) làm chết và bị thương 68 sĩ quan Mĩ; đánh Sở chỉ huy Mĩ ở Quy Nhơn; đánh sân bay Đà Nẵng phá huỷ 47 máy bay diệt hàng trăm tên Mĩ. Cũng có những trận đánh ở thành phố không thành nhưng gây tiếng vang lớn trong nước và thế giới, như trận đánh nhằm diệt Bộ trưởng Quốc phòng Mĩ Mac Namara tại cầu Công Lý khi ông ta từ Tân Sơn Nhất về dinh Độc Lập do chiến sỹ biệt động 65 Nguyễn Văn Trỗi thực hiện ngày 9/5/1964.</p>
<p>Cuối năm 1964, đầu năm 1965, Quân uỷ Miền chủ trương: “Tập trung chủ lực Miền, cùng với nhân dân và LLVT địa phương mở một đợt hoạt động đánh vận động quy mô tương đối lớn đầu tiên của Miền trong Đông – Xuân 1964 – 1965 tại vùng rừng núi ven biển Đông Nam Bộ”. Nổi bật nhất là trận tiến công ACL Bình Giã (Bà Rịa – Vũng Tàu) từ ngày 5/12/1964 của bộ đội chính quy miền Đông Nam Bộ cùng với bộ đội địa phương và lực lượng dân quân du kích. Sau 6 ngày đêm chiến đấu, quân giải phóng đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.000 tên địch, diệt 37 xe quân sự các loại, bắn rơi và bắn hỏng 37 máy bay. Với mức độ tiêu diệt gọn được 2 tiểu đoàn địch trong 1 trận đánh, “<em>chiến thắng Bình Giã đã đánh dấu bước nhảy vọt rất quan trọng trong quá trình phát triển của chiến tranh giải phóng ở miền Nam, làm thay đổi cục diện chiến tranh, mở đầu thời kỳ tiến công quân sự với quy mô tập trung của Quân Giải phóng miền Nam</em>”.</p>
<p>Cùng với đòn tiến công Bình Giã, ngày 7/12/1964, ở Khu V, quân Giải phóng tiến công tiêu diệt Chi khu An Lão (Bình Định), diệt 168 tên địch, 1 Chi đội M113, làm tan rã 2 đại đội bảo an, 12 trung đội dân vệ, bắn rơi 1 máy bay, thu 300 súng các loại, phá tan hệ thống ACL quanh quận lỵ An Lão, giải phóng 11.000 dân.</p>
<p>Với chiến thắng Bình Giã, An Lão trong tháng 12/1964, quân và dân miền Nam đã đánh bại về cơ bản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ. Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Kể từ trận Ấp Bắc, Mĩ thấy không thể thắng ta được, đến trận Bình Giã, thì Mĩ thấy sẽ thua ta trong chiến tranh đặc biệt”.</p>
<p>Tiếp theo, trong chiến dịch hè 1965, quân Giải phóng tiếp tục tiến công tiêu diệt nhiều tiểu đoàn chủ lực ngụy, nổi bật là chiến thắng Đồng Xoài ở Bình Phước (6/1965), chiến thắng Ba Gia ở Quảng Ngãi (6/1965). Trận Ba Gia quân Giải phóng đã diệt gọn 1 Chiến đoàn địch gồm 4 tiểu đoàn chủ lực ngụy. Thắng lợi của chiến dịch hè 1965, với trận tiêu diệt điển hình Ba Gia, “đánh dấu bước trưởng thành mới của quân và dân ta, đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ”.</p>
<p>Trên mặt trận đấu tranh chính trị, từ sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, đến giữa năm 1965, nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, rồi cả miền Trung Trung Bộ và Tây Nguyên đã nổi dậy phá ACL, lập chính quyền cách mạng ở nông thôn, hình thành một cao trào nổi dậy mạnh mẽ của quần chúng. Cùng với sự tan rã từng mảng lớn ACL, hệ thống đồn bốt dân vệ, bảo an trực tiếp kìm kẹp quần chúng cũng tan rã theo. Theo sự thú nhận của đối phương thì: “Trong vòng 3 tháng sau đảo chính, Việt cộng nổi dậy khắp nơi. Tỉnh Kiến Hoà phải rút đi 51 đồn bốt, mất 15 xã. Ở miền Trung từ Phan Thiết trở ra trong vòng 2 tháng sau đảo chính, 2.200 ACL trong tổng số 2.700 ACL hoàn toàn bị tan tác. Tổng số 4.248 ACL ở miền Nam thì có 3.915 ấp bị phá hẳn”. Trong phúc trình gửi Tổng thống Giônxơn ngày 16/3/1964, Mc Namara đưa ra một bức tranh bi thảm, hậu quả của cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm: “Trong số đất đai của 22 tỉnh (trong số 44 tỉnh), Việt cộng kiểm soát tới 50% hoặc nhiều hơn thế: Phước Tuy, Việt cộng kiểm soát 80%; Bình Dương 90%; Hậu Nghĩa 90%; Long An 90%; Định Tường 90%; Kiến Hoà 90%; An Xuyên (Cà Mau) 85%. Quận Mỏ Cày và các xã Định Thuỷ, Bình Khánh, Phước Hiệp, đỏ 100%, trên 900 xã như trường hợp 3 xã này…”. Đến giữa năm 1965, số đồn bốt của địch chỉ còn khoảng 2.900 so với 4.500 trong năm 1963.</p>
<p>Ở đô thị, phong trào đấu tranh chính trị thu hút mọi tầng lớp nhân dân (công nhân, sinh viên, học sinh, tín đồ Phật giáo,…), diễn ra liên tục và rộng khắp (Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn, Hội An, Quảng Trị…). Đầu năm 1964, cuộc đình công của 2.000 công nhân hãng dệt Vinatexco và công nhân xưởng nhuộm Vinatelphico kéo dài 45 ngày, có lúc địch đã huy động 2 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến đến đàn áp; và cuộc biểu tình của 12.000 công nhân Taxi Sài Gòn tháng 5/1964 phản đối Mĩ giết chết 3 bạn đồng nghiệp… Nổi bật nhất là phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài quân phiệt Nguyễn Khánh. Ngày 16/8/1964, Nguyễn Khánh cho ra đời “Hiến chương Vũng Tàu”. Với bản hiến chương này, Nguyễn Khánh được phong làm “Chủ tịch VNCH” kiêm Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Hội đồng Quân lực; thực chất là thiết lập chế độ độc tài quân phiệt.</p>
<p>Liền sau khi “Hiến chương Vũng Tàu” ra đời, quần chúng các đô thị đã phản ứng mau lẹ, đầu tiên là ở Huế. Ngày 17/8/1964, sinh viên Huế ra Tuyên ngôn “tố cáo mọi âm mưu phản dân chủ, phản cách mạng, nhằm đưa toàn dân trở lại con đường độc tài, áp bức như chế độ cũ”. Tiếp theo, ngày 20/8/1964, 20.000 tín đồ Phật giáo biểu tình tuần hành qua các đường phố phản đối “Hiến chương Vũng Tàu” ngày 16/8/1964. Sinh viên, học sinh và các giới đồng bào tham gia biểu tình hô to những khẩu hiệu “Đả đảo chế độ độc tài quân phiệt”, “Phản đối Hiến chương ngày 16/8/1964”, “tận diệt Đảng Cần Lao”. Đối với nhân dân Huế, “chính quyền Nguyễn Khánh thoát thai từ Hiến chương 16/8/1964, là cả một sự phỉ báng và nhục mạ nhân dân Việt Nam, cho nên toàn dân đã nhất thiết đứng lên, đòi xoá bỏ vết nhơ ấy trong lịch sử”.</p>
<p>Từ Huế, phong trào chống Khánh đã nhanh chóng lan rộng ra khắp các đô thị miền Nam. Ngày 20/8/1964, hai vạn nhân dân Sài Gòn bao vây dinh Độc Lập, đòi Nguyễn Khánh phải từ chức. Ngày 24/8/1964, ba vạn nhân dân Đà Nẵng tuần hành kết hợp với bãi thị, bãi khoá. Ngày 25/8/1964, hơn 40 vạn sinh viên và nhân dân Sài Gòn lại xuống đường biểu tình chống Mĩ – Khánh, đòi Khánh từ chức. Hơn 3 vạn người đã kéo đến trụ sở Bộ Thông tin và chiếm Đài phát thanh. Ở Huế, ngày 25/8, quần chúng biểu tình chiếm Đài phát thanh hơn 20 phút. Trước tình hình đó, Mĩ – Khánh buộc phải “xuống thang” bằng việc thu hồi “Hiến chương Vũng Tàu”, giải tán “Hội đồng Quân lực” do Mĩ – Khánh lập ra, thay vào đó là một “Tam đầu chế” gồm Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm với đầy rẫy mâu thuẫn. Điểm nổi bật trong phong trào đô thị chống chính quyền Nguyễn Khánh là sự xuất hiện của “Hội đồng nhân dân cứu quốc” (28/8/1964), một tổ chức ly khai chính quyền TW Sài Gòn. Đây là một tổ chức chính trị đặc biệt trong phong trào đô thị miền Nam từ trước tới nay. Hội đồng công khai đứng ra lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tập đoàn quân phiệt Nguyễn Khánh và dư đảng Cần Lao. Hội đồng ra báo Tranh Đấu làm cơ quan ngôn luận chính thức của mình. Báo tranh đấu đã có những bài nêu đích danh những đảng viên Cần Lao và những tội trạng của chúng… Hầu hết các đô thị miền Trung như Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Quảng Ngãi, Tam Kỳ, Hội An, Quảng Trị, “Hội đồng nhân dân cứu quốc” đều được thành lập và nắm quyền kiểm soát, nổi bật nhất là ở Quy Nhơn, trong suốt 1 tuần lễ, học sinh chiếm Đài phát thanh, thị xã Quy Nhơn trở nên rối loạn. Nhân dân tham gia các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh xâm lược của Mĩ, đã hô lớn khẩu hiệu “đòi trả con em cho các làng xã chúng tôi”.</p>
<p>Ngày 21/9/1964, hơn 2 vạn công nhân, lao động, sinh viên, học sinh Sài Gòn tiến hành tổng bãi công, bãi thị, biểu tình đòi bãi bỏ lệnh giới nghiêm, hủy bỏ Sắc lệnh cấm đình công, hội họp, đòi quyền dân sinh, dân chủ, ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân hãng dệt Vimitex.</p>
<p>Ngày 25/10/1964, Phan Khắc Sửu được cử giữ chức “Quốc trưởng” và Trần Văn Hương được chọn làm “Thủ tướng”. Vừa mới lên cầm quyền, Trần Văn Hương đã đưa ra đường lối: “Chiến tranh toàn diện phải được thực hiện không những trên mặt trận quân sự mà còn về phương diện chính trị, kinh tế và xã hội nữa để chống lại cộng sản và mưu toan của họ trung lập hoá xứ sở”. Trần Văn Hương còn đề ra việc “bài trừ bè phái”, “chống tinh thần cầu an của công chức”, “thanh niên phải tòng quân”, đặc biệt nhất là “tách chính trị ra khỏi trường học”. Đường lối của Trần Văn Hương thực chất là nhằm bóp chết phong trào đấu tranh của nhân dân, ngăn chặn sinh viên, học sinh, Phật tử đấu tranh chống chính quyền bù nhìn; là bắt thanh niên đi lính nhiều nhất cho Mĩ, triệt hạ các đảng phái đối lập. Và tất nhiên, chính phủ Trần Văn Hương không tránh khỏi mũi nhọn của phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân miền Nam, nổi bật là ở Huế và Sài Gòn.</p>
<p>Ngày 4/1/1965, tại Sài Gòn, sinh viên các trường Đại học Văn khoa, Luật khoa, Y khoa, Mĩ thuật và học sinh nhiều trường trung học tổng bãi khoá và biểu tình phản đối Mĩ và tay sai khủng bố sinh viên, học sinh và đồng bào Phật tử. Trong khi cuộc bãi khoá của sinh viên, học sinh đang diễn ra, hơn 20.000 công nhân, lao động, sinh viên, học sinh và đồng bào Phật tử đã kéo đến “Toà án mặt trận” của Mĩ – Khánh ở bến Bạch Đằng, đấu tranh đòi chúng không được xét xử một cách trái phép sinh viên, học sinh và đồng bào Phật tử yêu nước đang bị giam cầm.</p>
<p>Tại Huế, ngày 7/1/1965, hàng ngàn người tuyệt thực phản đối Trần Văn Hương khủng bố tôn giáo. Nhân dân biểu tình ngồi ở ngã ba cầu Trường Tiền, Bạch Hổ và An Cựu, làm tắc nghẽn giao thông. Phong trào phát triển dẫn đến việc đốt Phòng Thông tin Mĩ ngày 23/1/1965, có tới 2 vạn cuốn sách đã bị đốt cháy, nhân dân đã hô các khẩu hiệu: “Độc lập hay là chết”, “Đả đảo Taylo”, “Mac Namara hãy cút”, “người Mĩ cút đi”, “nước Việt Nam của người Việt Nam”, “Vấn đề Việt Nam phải do người Việt Nam giải quyết”…</p>
<p>Cùng với những cuộc tiến công tiêu diệt địch trên khắp chiến trường, phong trào đấu tranh quyết liệt ở các đô thị đã đẩy nhanh cuộc khủng hoảng của nguỵ quyền Sài Gòn. Chỉ trong vòng 18 tháng, từ tháng 11/1963 đến tháng 6/1965, nguỵ quyền miền Nam đã trải qua 10 cuộc đảo chính lớn nhỏ, 8 lần thay đổi chính phủ.</p>
<p>Trước những chiến thắng to lớn và liên tiếp của phong trào cách mạng miền Nam trên cả 2 mặt trận quân sự và chính trị trong năm 1964 và nửa đầu năm 1965, kế hoạch Giônxơn – Mac Namara bình định có trọng điểm đã thất bại. Lực lượng ngụy quân, ngụy quyền công cụ chủ yếu của “chiến tranh đặc biệt” đang đứng trước nguy cơ sụp đổ, hệ thống ACL xương sống của chiến tranh đặc biệt đã bị tan vỡ tới 4/5, đô thị mất ổn định không còn là hậu cứ an toàn của chiến tranh đặc biệt nữa.</p>
<p>Để cứu vãn tình thế, Nhà Trắng đã thay đổi chiến lược, chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân viễn chinh Mĩ và các nước thân Mĩ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương tham chiến ở miền Nam Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của nhân dân miền Nam chuyển sang giai đoạn chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ”.</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/chevietnam.wordpress.com/199/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/chevietnam.wordpress.com/199/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/chevietnam.wordpress.com/199/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/chevietnam.wordpress.com/199/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/chevietnam.wordpress.com/199/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/chevietnam.wordpress.com/199/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/chevietnam.wordpress.com/199/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/chevietnam.wordpress.com/199/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/chevietnam.wordpress.com/199/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/chevietnam.wordpress.com/199/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/chevietnam.wordpress.com/199/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/chevietnam.wordpress.com/199/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/chevietnam.wordpress.com/199/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/chevietnam.wordpress.com/199/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=199&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://chevietnam.wordpress.com/2010/03/11/l%e1%bb%8bch-s%e1%bb%ad-vi%e1%bb%87t-nam-1954-%e2%80%93-1975/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/bccd66a218a0b2086db33dbc931d297c?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">chevietnam</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Mở đầu  ( Tuổi “ tuyển hồi” )</title>
		<link>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/13/m%e1%bb%9f-d%e1%ba%a7u-tu%e1%bb%95i-%e2%80%9c-tuy%e1%bb%83n-h%e1%bb%93i%e2%80%9d/</link>
		<comments>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/13/m%e1%bb%9f-d%e1%ba%a7u-tu%e1%bb%95i-%e2%80%9c-tuy%e1%bb%83n-h%e1%bb%93i%e2%80%9d/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 13 Jul 2009 02:56:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator>chevietnam</dc:creator>
				<category><![CDATA[Hồi ký của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh]]></category>
		<category><![CDATA[Giáo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Hồi ký]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Đăng Mạnh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://chevietnam.wordpress.com/?p=195</guid>
		<description><![CDATA[Những ngày gần đây, tôi bỗng cảm thấy mình đã già thật rồi. Bẩy mươi sáu tuổi, chả già thì còn trẻ với ai! Không, tôi muốn nói tâm lý người già kia. Đúng thế, gần đây tôi tự thấy có tâm lý người già. Nghĩa là thích nhớ về quá khứ, thích săn sóc [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=195&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Những ngày gần đây, tôi bỗng cảm thấy mình đã già thật rồi. Bẩy mươi sáu tuổi, chả già thì còn trẻ với ai!</p>
<p>Không, tôi muốn nói tâm lý người già kia. Đúng thế, gần đây tôi tự thấy có tâm lý người già. Nghĩa là thích nhớ về quá khứ, thích săn sóc đến những kỷ niệm. Có mấy biểu hiện thế này: đầu năm nay, đột nhiên tôi muốn về quê để dự hội làng. Hội làng Thổ Khối quê tôi tổ chức vào đầu xuân. Hội to lắm, có tế lễ, có rước xách linh đình. Làng tôi ở ngay ngoại thành Hà Nội, qua cầu Chương Dương rẽ phải chỉ mấy cây số là tới. Tuy thế, có bao giờ tôi nghĩ đến chuyện về làng xem hội đâu. Thế mà năm nay&#8230;</p>
<p>Cũng năm nay tôi còn có nhu cầu về thăm lại nơi mình sinh ra. ( làng Quần Phương Hạ, nay thuộc xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định). Ông bố tôi thời Pháp thuộc từng làm lục sự ở Hải Hậu một thời gian. Khi gia đình chuyển đi nơi khác, tôi mới lên chín tuổi. Tính đến nay, đúng 66 năm. 66 năm, bỗng có nhu cầu trở lại!</p>
<p>Ngoài ra tôi còn có hứng thú thu thập các tấm ảnh chụp ngày xưa và ngồi cặm cụi cả buổi để phân loại, chọn lọc, sắp xếp theo chủ đề này khác.</p>
<p>Nhớ hồi tôi được giao làm Tuyển tập Nguyễn Tuân, cụ Nguyễn có nói nửa đùa nửa thật với tôi : “ Thế là mình đã đến tuổi “ tuyển hồi ” ( tuổi làm tuyển tập và viết hồi ký). Lúc  ấy (1980), Nguyễn Tuân mới 70 tuổi. Tôi bây giờ đã 76. Cũng sắp in Tuyển tập và đã có người xui viết hồi ký.</p>
<p align="center">*       *</p>
<p align="center">*</p>
<p>Viết hồi ký để làm gì nhỉ? Viết hồi ký thì ích gì cho mình và cho người khác? Hình như tỏ bầy hết sự thật của đời mình cũng là một khoái thú riêng của con người ta. Khoái thú được giải toả. Có ai đó nói rằng, mọi khoái cảm trên đời đều là sự trút ra khỏi bản thân mình (décharger) một cái gì đó. Với mình thì thế. Nhưng còn với người?</p>
<p>Người ta thích  đọc hồi ký của những danh nhân, của những nhà hoạt động chính trị tầm cỡ quốc gia, quốc tế hay của những nhà văn hoá lớn&#8230; Biết được bí mật của cuộc đời danh nhân là biết được những thông tin có ý nghĩa quốc gia đại sự, biết được kinh nghiệm của nền văn hoá một dân tộc.  Vậy tôi viết hồi ký với tư cách gì? Chỉ để cho mình được giải toả cũng được chứ sao! Ngoài ra, liệu còn có ích cho ai nữa không? Tôi không tin lắm.</p>
<p>Cũng có thể có tác dụng trong một phạm vi hẹp, trước hết đối với những người thân, ngoài ra là những ai coi cuộc đời riêng của tôi cũng có một cái gì đó đáng tò mò và sự nghiệp viết lách của tôi không đến nỗi hoàn toàn vô giá trị. Nghĩa là cũng muốn tìm hiểu, cũng muốn giải thích.</p>
<p>Ngoài ra tôi tuy không phải nhân vật lịch sử, nhưng sự tình cờ đã đưa đẩy tôi được chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng như Cách mạng tháng Tám hay Cải cách ruộng đất&#8230;vv., và biết được một ít chuyện riêng của một số danh nhân như Hồ Chí Minh, Tố Hữu, và nhiều nhà văn hoá lớn như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Tô Hoài, Nguyên Hồng&#8230;vv..</p>
<p>Tất nhiên những sự kiện này và những nhân vật kia người ta đã nói nhiều, viết nhiều rồi theo cách nhìn quan phương chính thống. ở đây tôi chỉ nói những hiểu biết trực tiếp của riêng tôi với cách nhìn rất chủ quan của tôi. Nhưng chính vì thế mà, biết đâu đấy, lại có thể đem đến những thông tin riêng, những ý vị riêng.</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/chevietnam.wordpress.com/195/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/chevietnam.wordpress.com/195/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/chevietnam.wordpress.com/195/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/chevietnam.wordpress.com/195/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/chevietnam.wordpress.com/195/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/chevietnam.wordpress.com/195/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/chevietnam.wordpress.com/195/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/chevietnam.wordpress.com/195/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/chevietnam.wordpress.com/195/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/chevietnam.wordpress.com/195/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/chevietnam.wordpress.com/195/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/chevietnam.wordpress.com/195/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/chevietnam.wordpress.com/195/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/chevietnam.wordpress.com/195/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=195&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/13/m%e1%bb%9f-d%e1%ba%a7u-tu%e1%bb%95i-%e2%80%9c-tuy%e1%bb%83n-h%e1%bb%93i%e2%80%9d/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/bccd66a218a0b2086db33dbc931d297c?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">chevietnam</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Chương IX: Phong trào dân tộc ở Việt Nam từ 1925 đến 1930</title>
		<link>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/11/ch%c6%b0%c6%a1ng-ix-phong-trao-dan-t%e1%bb%99c-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam-t%e1%bb%ab-1925-d%e1%ba%bfn-1930/</link>
		<comments>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/11/ch%c6%b0%c6%a1ng-ix-phong-trao-dan-t%e1%bb%99c-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam-t%e1%bb%ab-1925-d%e1%ba%bfn-1930/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 11 Jul 2009 05:04:53 +0000</pubDate>
		<dc:creator>chevietnam</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thông Sử Việt theo quan điểm của các Sử gia XHCN]]></category>
		<category><![CDATA[chống Nhật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch sử chống Pháp]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch sử Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[phong trào dân tộc 1925 - 1930]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://chevietnam.wordpress.com/?p=189</guid>
		<description><![CDATA[I- Sự xuất hiện và hoạt động của ba tổ chức cách mạng Như đã trình bày ở chương trước, do chịu tác động của các trào lưu tư tưởng mới, nhất là tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào dân tộc ở VN sau chiến tranh đã dâng lên sôi nổi và phát [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=189&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>I- Sự xuất hiện và hoạt động của ba tổ chức cách mạng</strong></p>
<p>Như đã trình bày ở chương trước, do chịu tác động của các trào lưu tư tưởng mới, nhất là tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào dân tộc ở VN sau chiến tranh đã dâng lên sôi nổi và phát triển đến đỉnh cao vào những năm 1925-1926. Từ trong cao trào đấu tranh yêu nước ấy đã dần dần xuất hiện các tổ chức tiến bộ và cách mạng, tiêu biểu nhất là Hội VN cách mạng thanh niên(VN thanh niên cách mạng đồng chí hội), Tân Việt cách mạng đảng và VN quốc dân đảng. Sự ra đời của các tổ chức cách mạng này đã đánh dấu bước tiến mới của phong trào dân tộc, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy công cuộc giải phóng đất nước tiếp tục tiến lên.</p>
<p>1- Hội Việt Nam cách mạng thanh niên</p>
<p>Sự xuất hiện của HVNCMTN gắn liền với các hoạt động và công lao của lãnh tụ NAQ. Ngay từ 1923, trước khi rời Pháp đi Liên Xô, trong một bức thư gửi các bạn cùng hoạt động, NAQ đã nói rõ ý định của mình là: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ rang: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”. Chính vì vậy, sau một năm rưỡi học tập và hoạt động ở Liên Xô, tháng 11/1924, NAQ quyết định trở về Quảng Châu-Trung Quốc-nơi đang có rất đông người VN yêu nước hoạt động, để xúc tiến các công việc chuẩn bị cho sự ra đời của chính đảng Mác-xít ở VN.</p>
<p>Sau khi đến Quảng Châu, với tư cách là đặc phái viên của Quốc tế cộng sản, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam, NAQ đã bắt đầu quan tâm tìm hiểu tình hình hoạt động của những người VN yêu nước đang sinh sống tại đây, đặc biệt là đã gặp nhóm thanh niên yêu nước trong tổ chức Tâm Tâm Xã. Trong thư thư gửi Đoàn Chủ tịch QTCS đề ngày 18/12/1924, NAQ báo cáo: “Tôi đến Quảng Châu vào giữa tháng 12. Tôi đã gặp tại đây vài ba nhà cách mạng quốc gia VN, trong số đó có một người đã xa rời xứ sở từ 20 năm nay…</p>
<p>Mục đích của ông này là trả thù cho nước nhà đã bị Pháp tàn sát. Ông ta không hiểu chính trị, và lại càng không hiểu việc tổ chức quần chúng. Trong cuộc thảo luận, tôi đã giải thích cho ông ta hiểu sự cần thiết của tổ chức và sự vô ích của những hành động không có cơ sở. Ông ta đã đưa cho tôi một bản danh sách của 14 người VN đã cùng ông ta hoạt động bấy lâu”. Trong số 14 người mà Phan Bội Châu giới thiệu, có một số người đã trở thành hội viên của Tâm Tâm Xã-một tổ chức yêu nước cấp tiến vừa được thành lập năm 1923 tại Quảng Châu.</p>
<p>Sau khi tìm hiểu tình hình thực tế, NAQ đã lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm Tâm Xã, tổ chức tuyên truyền giác ngộ họ, để trên cơ sở đó lập ra nhóm Cộng Sản Đoàn vào tháng 2/1925. Trong Báo cáo gửi Đoàn Chủ tích QTCS, đề ngày 19/2/1925, NAQ đã trình bày khá cụ thể các công việc đã làm được: “Chúng tôi đã lập một nhóm bí mật gồm 9 hội viên, trong đó có 2 người đã được phái về nước. Ba người ở tiền tuyến(trong quân đội Tôn Dật Tiên), một người đang đi công cán quân sự(cho Quốc Dân Đảng). Trong số hội viên đó, có 5 người đã là đảng viên dự bị của Đảng Cộng sản”.</p>
<p>Nhóm bí mật đó chính là Cộng Sản đoàn gồm có Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lưu Quốc Long, Trương Văn Lĩnh, Lê Quảng Đạt, Lâm Đức Thụ.</p>
<p>Dựa trên nhóm cộng sản này, tháng 6/1925, NAQ thành lập một tổ chức cách mạng có tính chất quần chúng rộng hơn là Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Tháng 7 năm đó, cùng với một số nhà cách mạng Trung Quốc, Triều Tiên, Inđônêxia…, NAQ còn sáng lập ra tổ chức Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông có quan hệ chặt chẽ với Hội VNCMTN. Sau khi ra đời, Hội đã công bố Chương trình và Điều lệ, thể hiện rõ lập trường chính trị cùng nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội. Bản Chương trình ghi rõ:</p>
<p>I-                  Tên Hội:</p>
<p>Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.</p>
<p>II-               Mục đích</p>
<p>Hi sinh tính mệnh, quyền lợi, tư tưởng để làm cuộc cách mệnh dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành độc lập cho xứ sở) rồi sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản).</p>
<p>III-            Chương trình</p>
<p>a)     Lựa chọn người giác ngộ, huấn luyện họ, tổ chức họ vào Hội.</p>
<p>b)    Cử những hội viên đã được đào tạo vào trong nhân dân để tuyên truyền điều phải và tổ chức các đoàn thể như công hội, nông hội, hội học sinh, hội phụ nữ.v.v..</p>
<p>c)     Gặp dịp tốt nào thì hãy huy động lực lượng của những đoàn thể quốc gia để đập tan bọn Pháp và lấy lại chính quyền.</p>
<p>d)    Thành lập Chính phủ nhân dân gồm đại biểu của các đoàn thể công nhân, nông dân và binh lính.</p>
<p>e)     Áp dụng những nguyên tắc tân kinh tế chính sách để thúc đẩy sự phát triển các cơ quan sản xuất trong nước, bãi bỏ tư bản tư nhân và sự giao lưu những tài nguyên quốc gia.</p>
<p>f)      Đoàn kết với những giai cấp vô sản của tất cả các nước và thành lập xã hội cộng sản.</p>
<p>Điều kiện gia nhập Hội đã được ghi rõ trong bản Điều lệ là: “Người Việt Nam nào từ 17 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ, tán thành mục đích, chương trình và kỷ luật của Hội và được hai hội viên giới thiệu, thì được gia nhập Hội sau khi được chi bộ đồng ý”.</p>
<p>Về tổ chức gồm có 5 cấp: Tổng bộ, Xứ (Kì) bộ, Tỉnh bộ, Huyện bộ và Chi bộ. Mỗi chi bộ gồm khoảng 10 hội viên; nếu quá số lượng đó thì lập ra chi bộ khác.</p>
<p>Tóm lại, đường lối chính trị của Hội VNCMTN thể hiện những nội dung chính sau đây:</p>
<p>1)     Thực hiện cách mạng GPDT rồi sau đó tiến hành cách mạng XHCN.</p>
<p>2)     Thành lập chính phủ công nông binh, thực hiện chính sách phát triển sản xuất, xoá bỏ tư bản, xây dựng xã hội cộng sản ở VN và trên thế giới. Trước mắt, sau khi thành lập, chính phủ công nông binh sẽ thực hiện nhiệm vụ chia ruộng cho dân cày, huỷ bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lí khác; thực hiện ngày làm 8 giờ cho công nhân; thực hiện quyền tự do dân chủ, quyền nam nữ bình đẳng…</p>
<p>3)     Đoàn kết với giai cấp vô sản và phong trào cách mạng thế giới.</p>
<p>Như vậy, mặc dù Hội VNCMTN chưa phải là một đảng cộng sản, nhưng đường lối chính trị, chương trình hành động và điều lệ của Hội đã in đậm và thể hiện rõ quan điểm, lập trường cách mạng của giai cấp công nhân.</p>
<p>Về thành phần xã hội, lúc đầu các hội viên Thanh niên bao gồm “90% là trí thức tiểu tư sản, chỉ có 10% là công nông”, sau này tuy các thành phần công nông có tăng lên, nhưng lực lượng trí thức vẫn chiếm tới 40%.</p>
<p>Sau khi thành lập, Hội VNCMTN phái người về nước vận động, lựa chọn và đưa một số thanh niên tích cực sang Quảng Châu(TQ) để đào tạo, huấn luyện và bồi dưỡng về chính trị, tổ chức. Trong khoảng 1924-1927, Hội đã tổ chức được trên 10 lớp huấn luyện, đào tạo được 75 hội viên. Mỗi lớp đào tạo huấn luyện được tiến hành trong thời gian từ 2-3 tháng. Giảng viên chính là NAQ, ngoài ra còn có Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn là giáo viên phụ giảng.</p>
<p>Nội dung chương trình học tập ở các lớp huấn luyện khá rộng, bao gồm cả kiến thức lí luận và thực tiễn cách mạng. Học viên được nghiên cứu về tình hình quốc tế, lịch sử tiến hoá nhân loại, các giai đoạn phát triển của CNTB, phong trào GPDT ở các nước, các phương pháp cách mạng của Tôn Dật Tiên, về Cách mạng tháng Mười Nga. Tại các khoá học, học viên còn được nghe giới thiệu về lịch sử các tổ chức Quốc tế I, II và III, cũng như về các tổ chức quần chúng của Quốc tế như Thanh niên quốc tế, Nông dân quốc tế, Công hội đỏ quốc tế. Phần cuối cùng của chương trình huấn luyện là các phương pháp và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn trong việc vận động và tổ chức xây dựng nông hội, công hội, hợp tác xã…</p>
<p>Ngoài việc mở các lớp huấn luyện ở Quảng Châu, dưới sự chỉ đạo của NAQ, Ban lãnh đạo Hội còn cử người đi học trường Đại học Cộng sản Phương Đông(Liên Xô) và trường Quân chính Hoàng Phố(của Quốc dân đảng Trung Quốc). Trong số người được giới thiệu đi học các trường đào tạo nước ngoài có Trần Phú, Lê Hồng Phong, Bùi Công Trừng, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn…</p>
<p>Kết thúc các lớp đào tạo, phần lớn cán bộ đều được đưa về nước hoạt động trong công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị… để tuyên truyền vận động và xây dựng các cơ sở của Hội VNCMTN.</p>
<p>Cùng với việc đào tạo đội ngũ cán bộ Mác-xít đầu tiên cho cách mạng VN, Hội VNCMTN còn cho xuất bản tờ báo Thanh Niên làm công cụ truyền bá tư tưởng Mác-Lênin và là cơ quan phát ngôn của Hội. Báo Thanh niên in bằng chữ Quốc ngữ, trên giấy sáp, riêng tên tờ báo được in bằng cả chữ Hán và chữ Việt. Ban biên tập ngoài NAQ là chủ bút, còn có Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu… Số báo đầu tiên xuất bản vào ngày 21/6/1925. Từ đó cho đến tháng 2/1930, báo Thanh niên ra được 208 số. Trong 88 số đầu, tờ báo tập trung giáo dục lòng yêu nước, khơi sâu ý chí căm thù của nhân dân ta đối với bọn đế quốc và phong kiến tay sai, đồng thời giới thiệu Cách mạng tháng Mười Nga và nước Nga Xô viết. Từ số 89 trở đi, báo Thanh niên bắt đầu nêu lên những nguyên lí cơ bản về xây dựng đảng kiểu mới, về nhu cầu phải thành lập chính đảng cộng sản ở nước ta, về phương hướng phát triển của cuộc vận động GPDT Việt Nam.</p>
<p>Bằng nhiều con đường, báo Thanh niên đã được bí mật chuyển về trong nước và được các tầng lớp nhân dân yêu nước hăng hái tìm đọc, có bài báo còn được chuyền nhau chép đi chép lại nhiều lần.</p>
<p>Nhờ đó, các tư tưởng cách mạng được truyền bá mạnh mẽ vào trong nhân dân, góp phần quan trọng chuẩn bị về mặt tư tưởng, chính trị cho sự ra đời của chính đảng cộng sản ở nước ta.</p>
<p>Để đẩy mạnh công cuộc truyền bá tư tưởng Mác-Lênin tiến tới thành lập Đảng, đầu năm 1927 Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc vị áp bức ở Á Đông đã cho xuất bản cuốn sách Đường Kách Mệnh, rồi chuyển về trong nước. Cuốn sách chủ yếu tập hợp các bài giảng của lãnh tụ NAQ trong các lớp huấn luyện chính trị của Hội VNCMTN ở Quảng Châu. Nếu trong tác phẩm Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp, NAQ đã bóc trần và tố cáo những hành động xấu xa, tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp ở thuộc địa, trong cuốn sách này NAQ lại tập trung phác hoạ và chỉ ra phương hướng đấu tranh để GPDT và nhân dân thoát khỏi ách nô lệ. Trên cơ sở phân tích tình hình và mâu thuẫn của xã hội VN, Đường Kách Mệnh chỉ rõ cách mạng VN trước hết phải làm “dân tộc kách mệnh” nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập, tự do, đồng thời tiến lên làm “giai cấp kách mệnh” đánh đuổi tư bản nhằm giải phóng quần chúng lao động.</p>
<p>Cách mạng muốn giành được thắng lợi phải coi “công nông là gốc” của cách mạng, học trò, nhà buôn, điền chủ nhỏ đều là bầu bạn của cách mạng. Đường Kách Mệnh còn chỉ rõ nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng là sự lãnh đạo của đảng Mác-xít. Đảng đó phải theo chủ nghĩa Mác-Lênin vì: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. Đồng thời, tác phẩm Đường Kách Mệnh còn nhấn mạnh tầm quan trọng của nhiệm vụ đoàn kết quốc tế giữa cách mạng VN với giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Có thể nói “tác phẩm Đường Kách Mệnh của Nguyễn Ái Quốc đã đóng vai trò như cuốn Làm Gì? của Lênin trong phong trào cách mạng Nga” hồi đầu thế kỷ XX.</p>
<p>Từ đầu năm 1926, Hội VNCMTN bắt đầu phát triển cơ sở ở trong nước. Nhờ có sự hoạt động tích cực của các hội viên nên đầu năm 1927 ở nhiều địa phương đã xây dựng được các cơ sở của Hội. Trên cơ sở đó, các Kì bộ, rồi Tỉnh bộ lần lượt được thành lập.</p>
<p>Kì bộ Trung kì được thành lập tại Vinh(2/1927) gồm Vương Thúc Oánh, Lê Hữu Lập, Nguyễn Sĩ Sách(làm Bí thư).</p>
<p>Tháng 3/1927, tại Hà Nội, Kì bộ Bắc kì được thành lập gồm Nguyễn Danh Đới, Nguyễn Công Thu, Mai Lập Đôn, do Trần Văn Cung làm Bí thư.</p>
<p>Tại Sài Gòn, Kì bộ Nam kì được thành lập với sự tham gia của Ngô Thiêm, Nguyễn Văn Lợi, do Phan Trọng Bình làm Bí thư.</p>
<p>Cùng với việc phát triển hệ thống tổ chức ở trong nước, Hội VNCMTN còn chú trọng xây dựng cơ sở trong Việt kiều ở Xiêm(Thái Lan) để hình thành đường dây liên lạc với trong nước. Năm 1926, chi bộ Thanh niên đầu tiên đã được thành lập tại Bạn Thầm(tỉnh Phì Chịt, miền Trung Thái Lan). Tiếp đó, Hội còn thành lập thêm các chi bộ khác ở tỉnh U Đon, Na Khon… Để mở rộng các hoạt động tuyên truyền vận động trong Việt kiều ở Thái Lan, Hội VNCMTN đã cho xuất bản tờ báo Đồng Thanh(sau đổi thành báo Thân Ái).</p>
<p>Do đại bộ phận hội viên Thanh niên đều xuất thân từ thành phần trí thức tiểu tư sản, nên từ cuối năm 1928 Hội VNCMTN chủ trương tổ chức phong trào “vô sản hoá”, tích cực đưa các hội viên vào các đồn điền, hầm mỏ, nhà máy, nông thôn để rèn luyện học tập nâng cao lập trường giai cấp công nhân, đồng thời trực tiếp tuyên truyền giác ngộ và tổ chức quần chúng đấu tranh. Nhờ vậy, phong trào công nhân và phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân ngày càng phát triển rầm rộ, sôi nổi.</p>
<p>Đến năm 1929, Hội VNCMTN đã xây dựng cơ sở ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Số hội viên đã lên tới khoảng 1.500 người. Thông qua việc tăng cường phát triển tổ chức, mở rộng địa bàn hoạt động của các hội viên, Hội VNCMTN đã góp phần truyền bá tư tưởng Mác-Lênin, phổ biến chủ trương, đường lối của Hội trong nhân dân, tích cực thúc đẩy phong trào cách mạng VN chuyển nhanh theo xu hướng cách mạng vô sản. Hội VNCMTN đã đóng vai trò tích cực chuẩn bị tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập một Đảng Cộng sản chân chính ở VN.</p>
<p><em>2- Tân Việt cách mạng đảng</em></p>
<p>Khác với Hội VNCMTN, Tân Việt cách mạng đảng(TVCMĐ)là một tổ chức yêu nước đã trải qua nhiều thay đổi, cải tổ.</p>
<p>Tiền thân của TVCMĐ là Hội Phục Việt thành lập 14/7/1925 tại Vinh(Nghệ An) do hai nhóm chính trị phạm ở Trung kì tiêu biểu như: Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên…, và các sinh viên sư phạm Hà Nội như Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai… Chương trình hành động của Hội Phục Việt có 3 điểm: (1)- Nghiên cứu tình hình chính trị trong nước để quyết định nên bạo động hay hoà bình; (2)- Tìm cách lien lạc với các nhà cách mạng ở Tàu và Xiêm xem chủ trương của họ thế nào; (3)- Mộ thêm đồng chí mới. Sau khi ra đời, Hội Phục Việt tích cực tham gia vào phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu. Chi hội Phục Việt ở Bắc kì do Tôn Quang Phiệt phụ trách đã in và rải truyền đơn kêu gọi các tầng lớp nhân dân đấu tranh ủng hộ nhà chí sĩ họ Phan. Hoạt động yêu nước của Hội Phục Việt đã làm cho thực dân Pháp theo dõi và tìm cách phá hoại. Trước tình hình đó, Hội Phục Việt đã đổi tên thành Hưng Nam năm 1926. Đến năm 1927, Hội lại đổi tên thành Việt Nam cách mạng đảng, rồi Việt Nam cách mạng đồng chí hội. Cuối cùng, tại đại hội lần thứ nhất tại Huế(7/1928), Hội chính thức mang tên Tân Việt cách mạng đảng.</p>
<p>Thời kì đầu mới thành lập, TVCMĐ còn là một tổ chức yêu nước, chưa có lập trường giai cấp rõ rệt, cho rằng chủ nghĩa cộng sản quá cao và chủ nghĩa “Tam Dân” của Quốc dân đảng quá thấp. Trong quá trình tồn tại, Tân Việt đã nhiều lần cử người sang Quảng Châu lien lạc và bàn kế hoạch hợp nhất với tổ chức Hội VNCMTN, và ngược lại Tổng bộ Thanh niên cũng đã có lần phái người về nước thảo luận việc hợp nhất với Tân Việt, nhưng không đạt được kết quả. Nguyên nhân là do hai tổ chức có ý kiến khác nhau trong việc đánh giá vai trò của mỗi bên, cũng như xác định quyền lãnh đạo của tổ chức sẽ hợp nhất. Mặc dù vậy, qua những lần tiếp xúc, đặc biệt là nhờ các hoạt động của các hội viên Hội VNCMTN, lập trường chính trị của Tân Việt dần dần thay đổi và chuyển mạnh sang khuynh hướng cách mạng vô sản. Từ sau Đại hội I (1928), Tân Việt thực sự trở thành một tổ chức cách mạng mang tính chất XHCN.</p>
<p>Về tư tưởng chính trị, TVCMĐ xác định: “Liên hợp cả các đồng chí trong ngoài, trong thì dẫn đạo công nông binh, quần chúng, ngoài thì lien lạc với các dân tộc bị áp bức để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa đặng kiến thiết một xã hội bình đẳng bác ái mới”. Tân Việt còn đề ra Chương Trình Hành Động và các quy định chặt chẽ về tổ chức, đảng viên. Theo Chương Trình Hành Động được soạn thảo năm 1928 thì Tân Việt sẽ phải trải qua hai thời kì. Đó là Thời Kỳ Phá Hoại tức là dùng vũ lực đánh đổ ách thống trị thực dân phong kiến, giành lấy chính quyền; sau đó chuyển qua Thời Kỳ Quá Độ thực hiện chuyên chính vô sản, quốc hữu hoá các ngành kinh tế, thực thi quyền bình đẳng cho mọi giai tầng xã hội, mọi lớp tuổi khác nhau.</p>
<p>Về thành phần xã hội, Tân Việt chủ yếu gồm các phần tử thanh niên trí thức, học sinh, công chức, tiểu thương. Sau này, Đảng có chú ý phát triển đến các thành phần công nông, nhưng số hội viên phần lớn vẫn là trí thức tiểu tư sản. Ngay trong Điều Lệ năm 1928 cũng quy định rõ rang đảng viên phải là người có học, “phải biết đọc, biết viết hoặc Quốc ngữ, hoặc chữ Pháp, chữ Hán và quyết tâm phấn đấu trong hang ngũ của Đảng”.</p>
<p>Nắm quyền lãnh đạo các cơ quan Tổng bộ chủ yếu thuộc giới giáo viên, sinh viên, trí thức như Trần Mộng Bạch, Đào Duy Anh, Phan Kiêm Huy, Tôn Quang Phiệt, Ngô Đức Diễn.</p>
<p>Hệ thống tổ chức của Tân Việt bao gồm 6 cấp: Tổng bộ, Kì bộ, Liên tỉnh bộ, Tỉnh bộ, Đại bộ và Tiểu tổ ở cơ sở. Tổ chức cơ sở của Tân Việt xây dựng theo nguyên tắc “Tam tam chế”, tức là mỗi tiểu tổ chỉ có 3 người, và 3 Tiểu tổ hợp thành 1 Đại tổ. Tân Việt có 3 Kì bộ và 10 Liên tỉnh bộ, đều được gọi theo bí danh riêng: Bắc kì là “Nhân kì”, Trung kì là “Trí kì”, Nam kì là “Dũng kì”.</p>
<p>Trên tất cả các khu vực Bắc, Trung,  Nam, TVCMĐ đều có cơ sở của mình, nhưng địa bàn hoạt động chính là ở các tỉnh miền Trung, chủ yếu thuộc hai tỉnh Nghệ An-Hà Tĩnh.</p>
<p>Tại địa bàn trung tâm Nghệ-Tĩnh, từ cuối năm 1928, các Tiểu tổ, Đại tổ Tân Việt đã phát triển rộng khắp trong các nhà máy, xí nghiệp, đường phố, và cả các vùng nông thôn. Số lượng đảng viên lên tới 612 người. Bên cạnh việc bồi dưỡng, kết nạp đảng viên mới, Tân Việt còn chú ý xây dựng các tổ chức quần chúng, các cơ sở cảm tình của Đảng. Ở khu vực Vinh-Bến Thuỷ, Tân Việt đã lập ra các Nhóm may quần áo của công nhân nhà máy Tràng Thi, Hưng Nghiệp hội xã, hiệu sách “Tam kì thư quán”. Các cơ sở này vừa làm nơi gặp gỡ, tuyên truyền giác ngộ đảng viên, đồng thời góp phần cung cấp nguồn tài chính cho Đảng. Ở Trường Quốc học Vinh, Phan Kiêm Huy đã vận động và cùng một số đảng viên khác thành lập Hội Sinh Đoàn để tập hợp các giáo viên và học sinh yêu nước. Tại các huyện Hưng Nguyên, Anh Sơn, Nghi Lộc, Yên Thành, Thanh Chương, Can Lộc…, đều xây dựng các Tiểu tổ, Đại tổ và các tổ chức quần chúng của Đảng.</p>
<p>Trong quá trình tồn tại, ngoài công tác giáo dục, huấn luyện đảng viên, TVCMĐ còn tiến hành nhiều hoạt động như lập các lớp học ban đêm, phổ biến các sách báo Mác-xít…, góp phần quan trọng vào việc khơi dậy long yêu nước, truyền bá tư tưởng cách mạng trong các tầng lớp nhân dân. Một số cuộc đấu tranh của học sinh, tiểu thương và công nhân do Tân Việt tổ chức và lãnh đạo đã diễn ra trong thời gian này. Tiêu biểu là các cuộc đình công của công nhân nhà máy diêm Bến Thuỷ(Vinh) ngày 11/4/1928; cuộc bãi công của công nhân đường sắt ở Biên Hoà-Sài Gòn tháng 9/1929; đấu tranh của nông dân làng Yên Dũng(Vinh) chống bọn Pháp lấy 300 mẫu đất ở gần Bến Thuỷ để xây dựng sân bay. Trong nhiều trường học ở Vinh, tổ chức Tân Việt đã vận động học sinh đấu tranh với các yêu sách cụ thể như:</p>
<p>-         Bỏ phạt</p>
<p>-         Học sinh được ra ngoài kí túc xá vào chiều thứ bảy và ngày chủ nhật</p>
<p>-         Bỏ thói đánh đập và miệt thị học sinh, giáo viên người Việt</p>
<p>-         Cải thiện điều kiện sinh hoạt và ăn uống trong kí túc xá.</p>
<p>Từ cuối năm 1928 đầu năm 1929, học tập Hội VNCMTN, TVCMĐ cũng phát động phong trào “vô sản hoá”, đưa các đảng viên vào hoạt động trong nhà máy, xí nghiệp, trường học để nâng cao lập trường giai cấp công nhân, đồng thời tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, xây dựng cơ sở của Đảng…</p>
<p>Do tác động của tư tưởng Mác-Lênin, nhiều đảng viên Tân Việt đã chuyển sang Hội VNCMTN. Nội bộ đảng Tân Việt ngày càng phân hoá sâu sắc thành hai khuynh hướng rõ rệt. Một khuynh hướng nằm trong những người lãnh đạo Tổng bộ chủ trương đứng trên lập trường quốc gia tư sản. Còn số đông đảng viên Tân Việt, nhất là những thanh niên trẻ tuổi giàu nhiệt huyết, thì ngả hẳn sang khuynh hướng cộng sản.</p>
<p>Vào năm 1929, để chống lại khuynh hướng cộng sản trong số đông đảng viên, ban lãnh đạo Tổng bộ đã công bố đề án thành lập “Khối quốc gia” và gửi cho các cấp bộ Đảng Tân Việt. Theo bản đề án, ở VN, lúc này chưa có giai cấp công nhân, do đó không có cơ sở để chủ nghĩa cộng sản tồn tại và phát triển. Trước tình hình đó, những đảng viên tích cực nhất của Đảng đã họp lại và đi tới quyết định li khai khỏi Tổng bộ Tân Việt, chuẩn bị thành lập một đảng cộng sản lấy tên là Đông Dương Cộng Sản liên đoàn. Tiếp đó, tháng 9/1929, một cuộc hội nghị của những đảng viên tích cực của Đảng đã được tổ chức tại Nam kì, nhằm bàn bạc và chuẩn bị các điều kiện cần thiết tiến tới tổ chức đại hội thành lập Đông Dương Cộng Sản lien đoàn. Hội nghị đã thông qua tờ Tuyên Đạt nói rõ lí do thành lập Đông Dương Cộng sản lien đoàn là: “Hiện thời trào lưu cộng sản đang dâng cao khắp toàn cầu… Ở Đông Dương xu hướng cộng sản đang đâm chồi, nảy lộc, nhất là từ ba bốn năm nay, Hội VNCMTN và TVCMĐ ra đời thì ảnh hưởng trong đám lao khổ xứ Đông Dương càng hiểu rằng chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng họ khỏi cảnh lầm than, nô lệ, mới đem lại độc lập hoàn toàn cho xứ Đông Dương, xoá bỏ chế độ người bóc lột người…</p>
<p>… Cho nên Hội VNCMTN… đã tách ra lập nên hai bộ phận cộng sản là Đông Dương cộng sản đảng và An Nam cộng sản chi bộ, cùng tiến hành vận động cộng sản theo chương trình của Đệ tam Quốc tế…</p>
<p>Do tình hình trên đây, những người giác ngộ cộng sản chân chính trong TVCMĐ trịnh trọng tuyên bố cùng toàn thể đảng viên TVCMĐ, toàn thể thợ thuyền, dân cày và lao khổ biết rằng chúng tôi đã chánh thức lập ra Đông Dương cộng sản liên đoàn.</p>
<p>Sự chuyển biến của số đông đảng viên Tân Việt theo chủ nghĩa cộng sản là phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của phong trào yêu nước lúc đó. Nó góp phần làm suy yếu và đánh bại chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đồng thời tăng cường thêm sức mạnh cho giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam.</p>
<p><em>3- Việt Nam quốc dân đảng</em></p>
<p>Nếu Hội VNCMTN là tổ chức đại diện cho khuynh hướng cách mạng vô sản thì VNQD đảng là tổ chức tiêu biểu nhất của khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản ở VN trong những năm 20.</p>
<p>Bộ phận hạt nhân đầu tiên của VNQD đảng là nhóm <em>Nam</em><em> Đồng thư xã</em> do 2 anh em nhà giáo <em>Phạm Tuấn Tài</em> và <em>Phạm Tuấn Lâm</em> thành lập <em>cuối năm 1926 tại Hà Nội</em>. Với tư cách là 1 cơ sở xuất bản tiến bộ, Nam Đồng thư xã chuyên in ấn các sách báo yêu nước, như: <em>Gương phục quốc; Gương thành bại; Gương thiếu niên; Trưng nữ vương…</em> nhằm khích lệ tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc trong nhân dân. Vì vậy, Nam Đồng thư xã mau chóng trở thành nơi thu hút và tụ họp của một số trí thức, thanh niên, sinh viên hồi đó, trong đó có <em>Nguyễn Thái Học</em>, Phó Đức Chính, Hồ Văn Mịch, Hoàng Phạm Trân(Nhượng Tống)… Khác với Nhượng Tống chủ trương “hoà bình cách mạng”, Nguyễn Thái Học và một số người khác như Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm kiên quyết ủng hộ tư tưởng bạo lực cách mạng, dùng “<em>sắt và máu để giành lại độc lập dân tộc</em>”. Sau nhiều lần thuyết phục, trao đổi, nhóm tán thành bạo lực đã chiếm đa số trong Nam Đồng thư xã. Trên cơ sở đó, ngày <em>25/12/1927</em>, một tổ chức cách mạng đã được thành lập ở Hà Nội, lấy tên là VNQD đảng. Sau này VNQD đảng còn tập hợp thêm một số nhóm khác có cùng quan điểm ở các địa phương như nhóm Hoàng Văn Tùng ở Thanh  Hoá, nhóm <em>Việt Nam dân quốc</em> của Nguyễn Khắc Nhu ở Bắc Ninh, Bắc Giang.</p>
<p>Bị chi phối bởi các điều kiện giai cấp và xã hội, VNQD đảng <em>không đề ra được một đường lối chính trị độc lập rõ ràng</em>. Trong mấy năm tồn tại, tổ chức này đã <em>nhiều lần thay đổi chính cương và điều lệ</em>. Khi mới thành lập, trong bản <em>Điều lệ</em> được thông qua tại hội nghị thành lập, VNQD đảng ghi rõ mục đích: “<em>Trước tiên làm cách mạng quốc gia, sau làm cách mạng thế giới</em>”(tức là trước tiên đánh đổ đế quốc chủ nghĩa trong nước, sau giúp các nước khác đánh đổ đế quốc giành độc lập dân tộc). Đến bản Điều lệ soạn thảo tháng 7/1928 lại xác định tôn chỉ của Đảng là “<em>chủ nghĩa xã hội dân chủ</em>”, Đảng có mục đích đoàn kết cả nam lẫn nữ để: “<em>Đẩy mạnh cách mạng dân tộc; xây dựng nền dân chủ trực tiếp và giúp đỡ các dân tộc bị áp bức</em>”. Tiếp đó trong bản Điều lệ sửa đổi công bố tháng 2/1929, VNQD đảng lại thay bằng 3 nguyên tắc tư tưởng của cách mạng tư sản Pháp 1789: “<em>Tự do – Bình đẳng – Bác ái</em>”. Mục đích của Đảng là tiến hành “<em>cách mạng dân tộc, cách mạng chính trị và cách mạng xã hội</em>”. Cuộc cách mạng này sẽ diễn ra qua 4 thời kỳ: <em>Thời kỳ bí mật</em>(tập hợp lực lượng); <em>thời kỳ dự bị</em>(chuẩn bị các điều kiện vật chất cũng như lương thực, vũ khí đạn dược cho cuộc khởi nghĩa vũ trang); <em>thời kỳ công khai</em>(đánh đuổi giặc Pháp, lật đổ ngôi vua); <em>thời kỳ kiến thiết</em>(thành lập chính phủ cộng hoà, thực hiện các quyền tự do, dân chủ). Cho tới thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, đêm trước của bạo động Yên Bái, <em>VNQD đảng lại mô phỏng theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn</em>(một nhà dân chủ tư sản tiêu biểu của Trung Quốc đầu thế kỷ), nhưng những nguyên tắc và chính sách có tính cách mạng lại bị loại bỏ. Cụ thể, VNQD đảng chỉ ủng hộ chủ trương “cách mạng dân tộc” và “thiết lập dân quyền”, còn khẩu hiệu “bình quân địa quyền” và các chính sách “liên Nga, liên Cộng, phù trợ công nông”(tức đoàn kết với nước Nga xô viết, liên minh với Đảng cộng sản và ủng hộ giúp đỡ công nông) lại không được nhắc tới.</p>
<p>Rõ ràng, cho đến tận cuối năm 1929, VNQD đảng vẫn không có một cương lĩnh thể hiện rõ mục đích và lập trường chính trị của mình. Đúng như Trần Dân Tiên nhận xét: “<em>Nó muốn một nước cộng hoà, nhưng là thứ cộng hoà nào? Sẽ cai trị quốc gia như thế nào? Với phương pháp gì người ta sẽ xây dựng lại kinh tế quốc gia? Làm thế nào để nâng cao mức sống của những tầng lớp lao động, thợ thuyền, nông dân, trí thức? Về những điều này, VNQD đảng chưa có chương trình rõ rệt</em>”.</p>
<p>Thành phần xã hội của VNQD đảng chủ yếu gồm trí thức, học sinh, giáo viên, công chức, những người làm nghề tự do, một số thân hào thân sĩ ở nông thôn. Đảng còn có nhiều đảng viên là binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp. Bản cáo trạng của Hội đồng đề hình xét xử vụ án Badanh(Bazin) năm 1929 đã thừa nhận: “<em>Các giáo viên, các binh sĩ là hai cái cột chống đỡ mái nhà Đông Dương, Quốc dân Đảng đã làm lay chuyển hai cây cột ấy</em>”.</p>
<p>Về mặt tổ chức, VNQD đảng có bốn cấp: <em>Tổng bộ, Kỳ bộ, Tỉnh bộ, Chi bộ</em>. Mỗi Chi bộ không quá 19 người, Điều lệ của Đảng quy định các đảng viên trong một xóm, một làng, một tổng, một huyện, một khu phố hay một thành phố đều có thể hợp thành một chi bộ. Các hoạt động của Chi bộ do cơ quan Tỉnh bộ trực tiếp chỉ đạo và điều hành.</p>
<p>Lãnh đạo Tổng bộ là một số nhân vật có uy tín như Nguyễn Thái Học(<em>Chủ tịch Đảng</em>), Nguyễn Thế Nghiệp(<em>Phó Chủ tịch Đảng</em>). Ngoài ra còn có các uỷ viên khác như Nhượng Tống, Tưởng Dân Bảo, Nguyễn Hữu Đạt. Cơ quan Tổng bộ gồm có các ban tuyên huấn, ngoại giao, trinh sát, kinh tài, tổ chức, ám sát.</p>
<p>Trong hơn 2 năm tồn tại, VNQD đảng còn chủ trương thành lập các tổ chức quần chúng bao gồm Đoàn Phụ nữ, Đoàn Công nhân, Đoàn Nông dân, Đoàn Học sinh và các binh đoàn quân sự. Các hội viên này là lực lượng cảm tình của Đảng, có nhiệm vụ hỗ trợ, phối hợp với các đảng viên trong đấu tranh giành chính quyền khi có thời cơ.</p>
<p><em>Hoạt động chủ yếu của VNQD đảng là xây dựng lực lượng và phát triển cơ sở của Đảng ở các địa phương</em>. Đầu năm 1928, VNQD đảng bắt đầu thực hiện việc hợp nhất với các nhóm “Việt Nam quốc dân” của Nguyễn Khắc Nhu ở Bắc Ninh &#8211; Bắc Giang, nhóm Hoàng Văn Tùng ở Thanh Hoá. Cũng thời gian này, nhờ hoạt động của những nhà lãnh đạo Tổng bộ như Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu mà một số chi bộ VNQD đảng đã lần lượt được thành lập ở Vĩnh Yên, Phú Thọ, Sơn Tây(Hà Tây). Tiếp đó, cuối năm 1928 đầu 1929, nhiều cơ sở của VNQD đảng đã được xây dựng ở Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng… Tính đến đầu năm 1929, riêng ở Bắc Kỳ đã có 120 Chi bộ với khoảng 1.500 đảng viên, trong đó có 120 người là cai, đội và lính khố đỏ.</p>
<p>Trong mấy năm tồn tại, VNQD đảng có chủ trương liên kết, phối hợp hành động với các tổ chức yêu nước và cách mạng trong nước. Ngay từ giữa năm 1928, Đảng đã cử người đi liên lạc và bàn việc hợp nhất với cả Tân Việt cách mạng đảng và Hội VNCMTN, nhưng đều không đạt kết quả. Rút cục, “trong thực tế, VNQD đảng vẫn bị cô lập với tất cả các nhóm cách mạng khác ở Đông Dương và cho đến năm 1930 – như Chánh mật thám Đông Dương Macti(Luois Marty)nhận xét – không quan hệ với những phần tử An Nam có xu hướng quốc gia đặt ở xứ ngoài”.</p>
<p>Khác với tổ chức Hội VNCMTN và TVCMĐ, VNQD đảng <em>ít chú trọng tới công tác tuyên truyền và huấn luyện đảng viên</em>. Năm 1928, VNQD đảng quyết định ra báo <em>Hồn Cách Mạng</em> làm cơ quan ngôn luận. Nhưng mãi đến tháng 2/1929 tờ báo mới phát hành được 1 số thì bị lộ nên phải đóng cửa. Nói chung, Đảng không có 1 cơ quan ngôn luận, hoặc tài liệu, văn kiện chính thức nào để giải thích tôn chỉ mục đích của Đảng và để tuyên truyền huấn luyện đảng viên. Đây cũng là một nguyên nhân khiến cho công tác phát triển Đảng tiến hành tuỳ tiện, thiếu cơ sở và chuẩn mực, đồng thời gây nên tình trạng mơ hồ về lập trường chính trị của Đảng.</p>
<p>Do không có lý luận cách mạng làm cơ sở cho đường lối và phương pháp đấu tranh nên VNQD đảng <em>thiên về các hoạt động ám sát, khủng bố cá nhân</em>. Một số vụ tống tiền các nhà giàu ở Bắc Ninh &#8211; Bắc Giang, Nam Định vào đầu năm 1929 đều do VNQD đảng thực hiện. <em>Điển hình nhất là vụ ám sát Badanh</em>(Bazin) – tên trùm mộ phu ở Bắc Trung Kì tại Hà Nội.</p>
<p>Vào dịp đầu tháng 2/1929, chủ sở mộ phu Badanh tiến hành một đợt mộ phu mới ở Bắc Kì làm cho đông đảo quần chúng bất bình, căm phẫn. Để khích lệ tinh thần đấu tranh chống chính sách mộ phu của Pháp, Thành bộ VNQD đảng Hà Nội đã cử Nguyễn Văn Viên thực hiện kế hoạch ám sát tên Badanh(ngày 9/2/1929), Nguyễn Văn Viên đã trốn thoát. Vụ án này đã làm nức lòng các tầng lớp nhân dân, còn bọn thực dân vô cùng hoảng sợ và tức tối. Chúng tăng cường lực lượng truy tìm thủ phạm vụ án, đồng thời nhân đà đó thẳng tay bắt bớ và khủng bố những người yêu nước, phá vỡ các tổ chức cách mạng. Hàng loạt đảng viên và quần chúng có cảm tình với Đảng bị bắt. Sau 5 tháng mở chiến dịch khủng bố, đến giữa tháng 7/1929, chính quyền thực dân đã bắt được 225 đảng viên đưa ra xử án. Đồng thời tại Hà Nội và nhiều tỉnh khác như Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh…, hệ thống tổ chức cơ sở Đảng hầu như bị phá vỡ. Nguy cơ tan rã hoàn toàn của VNQD đảng đang đến gần.</p>
<p>Nói tóm lại, VNQD đảng về căn bản là một tổ chức “<em>phỏng theo mô hình cách mạng của Quốc dân Đảng Trung Quốc</em>”. Nó <em>đại diện cho quyền lợi và tư tưởng của tư sản dân tộc và tiểu tư sản lớp trên</em>. Vì thiếu một cơ sở kinh tế và giai cấp đủ mạnh làm chỗ dựa nên trong suốt mấy năm tồn tại của mình, VNQD đảng không thể đưa ra được một đường lối chính trị độc lập. Thêm vào đó, công tác tổ chức và phát triển Đảng rất sơ hở, lỏng lẻo; công tác tuyên truyền, huấn luyện thì sơ sài… Những nhược điểm và hạn chế đó làm cho VNQD đảng không đủ khả năng đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.</p>
<p><strong>II. Những chuyển biến mới của phong trào công nhân</strong></p>
<p>Từ năm 1925 trở đi, nhờ sự xuất hiện và tăng cường hoạt động của tổ chức cách mạng HVNCMTN, các tư tưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa cộng sản đã được truyền bá rộng rãi trong công nhân và nhân dân lao động. Nhờ vậy, phong trào công nhân ngày càng phát triển và chuyển biến nhanh chóng về chất. Các cuộc đình công, bãi công liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi. Trong hai năm 1926-1927 đã nổ ra 27 cuộc đấu tranh của công nhân. Tiêu biểu là bãi công của công nhân Bưu điện Sài Gòn, công nhân Dệt Nam Định, công nhân đồn điền Cam Tiêm(1926); đấu tranh của công nhân đồn điền ở Đà Lạt, ở Thái Nguyên(1927)… Các cuộc đấu tranh này đều nhằm vào hai mục tiêu chung là: tăng lương từ 20-40% lương và đòi thực hiện ngày làm 8 giờ như công nhân bên Pháp. Điều này chứng tỏ công nhân không còn bị chi phối và lệ thuộc nặng nề vào các yêu cầu và lợi ích cục bộ, địa phương, mà đã biết chú ý tới lợi ích chung của giai cấp, bằng cách đề ra các yêu sách phù hợp về cơ bản với nguyện vọng của đông đảo công nhân.</p>
<p>Từ năm 1928, phong trào “vô sản hoá” của HVNCMTN và TVCMĐ đã có tác dụng thúc đẩy và nâng cao nhanh chóng ý thức giác ngộ và lập trường cách mạng của giai cấp công nhân. Vì vậy, phong trào công nhân đã nổ ra mạnh mẽ, sôi nổi, đều khắp 3 kì. Số lượng các cuộc đấu tranh của công nhân trong các năm 1928-1929 đã lên tới 40 cuộc, tăng gấp 2,5 lần so với 2 năm 1926-1927. Trong đó tiêu biểu là các cuộc bãi công của công nhân Mỏ than Mạo Khê(Quảng Ninh), nhà máy Xi măng Hải Phòng, nhà máy tơ Nam Định, nhà máy cưa Bến Thuỷ(Vinh), công nhân đồn điền Lộc Ninh(1928); đấu tranh của công nhân hãng xe tay Hải Phòng, dệt Nam Định, xe lửa Tràng Thi(Vinh), nhà máy Avia(Hà Nội), đồn điền cao su Phú Riềng, hãng dầu Hải Phòng, nhà máy gang Hưng Kí(Bắc Ninh), đồn điền cao su Cam Tiêm(1929)…</p>
<p>Đặc biệt, trong cuộc đấu tranh của 200 công nhân xưởng sửa chữa ô tô Avia(Hà Nội) 5/1929 đã có sự lãnh đạo của Kì bộ HVNCMTN và Chi bộ cộng sản đầu tiên, mà người đóng vai trò chỉ đạo trực tiếp là đồng chí Ngô Gia Tự. Để chỉ đạo công nhân đấu tranh, một Uỷ ban bãi công đã được thành lập. Uỷ ban bãi công đã phát truyền đơn kêu gọi công nhân và lao động Hà Nội hưởng ứng và ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân Avia. Nhờ vậy, cuộc bãi công đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ tích cực của công nhân nhiều nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn Hà Nội và một số tỉnh xung quanh như Hải Phòng, Quảng Ninh,  Nam Định.</p>
<p>Tháng 7/1929, Tổng Công hội Đỏ Bắc Kì được thành lập. Tổng công hội đã đề ra Chương trình, Điều lệ và quyết định xuất bản tờ “Lao động” làm cơ quan ngôn luận. Sự kiện đó vừa thể hiện bước trưởng thành của phong trào công nhân, vừa tạo điều kiện thúc đẩy giai cấp công nhân đi dần vào đấu tranh có tổ chức, có lãnh đạo thống nhất.</p>
<p>Nhìn chung, trong thời kì 1926 – 1929, phong trào công nhân Việt Nam đã có những bước tiến bộ mới so với trước. Các cuộc bãi công nổ ra rầm rộ, sôi nổi và quyết liệt hơn. Những cuộc đấu tranh tự phát đã giảm đi và thay vào đó là những cuộc đấu tranh có ý thức, có tổ chức với quy mô ngày càng lớn. Công nhân đấu tranh không chỉ nhằm đòi các quyền lợi kinh tế(như tăng lương, giảm giờ làm, đòi cải thiện điều kiện sinh hoạt), mà còn nhằm cả mục đích chính trị(chống lại chinh sách áp bức, bóc lột của bọn chủ tư bản và chính quyền thực dân phong kiến). Họ cũng đã biết đoàn kết nhau lại để đấu tranh có phương pháp, có tổ chức và kế hoạch. Chính bọn thực dân đã phải thừa nhận: “Từ đây, hành động tập thể của những người lao động đã thay thế cho những vụ âm mưu của các hội kín”.</p>
<p>Cùng với các cuộc đấu tranh ngày càng trở nên quyết liệt, giai cấp công nhân còn có nhiều hoạt động biểu lộ tinh thần cách mạng, ý thức quốc tế của mình. Trong các dịp kỷ niệm ngày Quốc tế lao động(1/5/1929) và Cách mạng tháng Mười Nga(7/11/1929), công nhân nhiều nơi đã tổ chức mít tinh, treo cờ đỏ, rải truyền đơn tuyên truyền cách mạng.</p>
<p>Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân ngày càng có sức thu hút, lôi cuốn mạnh mẽ đối với nhiều tầng lớp nhân dân khác, nhất là nông dân, đi vào đấu tranh chống đế quốc phong kiến. Từ 1927-1929 đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của nông dân chống sưu cao thuế nặng, chống các thủ đoạn cướp đoạt ruộng đất của bọn cường hào ác bá. Điển hình là các cuộc đấu tranh của nông dân Bình Giang, Thanh Hà, Tứ Kì, Vĩnh Bảo(Hải Dương), Tú Đôi, Kiến Thuỵ(Kiến An), Tam Sơn(Bắc Ninh). Ở các tỉnh Thái Bình, Nghệ An, bên cạnh các cuộc đấu tranh chống sưu cao thuế nặng, nông dân còn lập ra các Hội tương tế, Hội hát, Hội lợp nhà, Hội hiếu hỉ… để đoàn kết giúp đỡ nhau trong những lúc khó khăn, đồng thời vận động bài trừ các hủ tục trong cưới xin, ma chay…</p>
<p>Phong trào công nhân, phong trào đấu tranh của nông dân và các tầng lớp thị dân càng phát triển sôi nổi thì càng đòi hỏi phải có người tổ chức và lãnh đạo. Nhu cầu thành lập một chính đảng cách mạng có đủ khả năng tập hợp lực lương dân tộc và gánh vác vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng đất nước được đặt ra, và ngày càng trở nên bức xúc đối với cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.</p>
<p><strong>III. Ba tổ chức cộng sản ra đời và việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam</strong></p>
<ol>
<li><em>1. </em><em>Sự xuất hiện của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam</em></li>
</ol>
<p>Vào cuối những năm 20, Bắc Kì là nơi có phong trào cách mạng phát triển mạnh hơn cả so với các vùng khác trong cả nước. Tại đây, hai tổ chức HVNCMTN và VNQDĐ đang ra sức hoạt động nhằm lôi kéo và tranh giành quần chúng. Trong khi VNQDĐ đang ngày càng tỏ ra lúng túng về phương thức hoạt động, thì tổ chức HVNCMTN hoạt động ngày càng có hiệu quả cao. Số hội viên HVNCMTN ở Bắc Kì đã phát triển khá đông(chiếm 900/1.600 hội viên trong cả nước). Hơn thế nữa, thông qua phong trào “Vô sản hoá”, và nhất là chịu tác động trực tiếp của phong trào cộng sản qua con đường Trung Quốc dội vào, nhiều hội viên Thanh Niên tiên tiến – là những học trò xuất sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – đã sớm nắm bắt được các yêu cầu của thời cuộc và nhanh chóng nhận thấy sự cấp thiết phải thành lập một ĐCS để thay thế HVNCMTN lãnh đạo và đưa phong trào cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên.</p>
<p>Để xúc tiến chuẩn bị thành lập ĐCS, tháng 3/1929, những hội viên tích cực nhất của HVNCMTN Bắc Kì đã nhóm họp tại số nhà 5D phố Hàm Long(Hà Nội), quyết định thành lập ra Chi bộ cộng sản đầu tiên, gồm 7 người là: Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Cung, Đỗ Ngọc Du, Dương Hạc Đính và Nguyễn Tuân.</p>
<p>Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ cộng sản, cuối tháng 3/1929, Kì bộ HVNCMTN Bắc Kì đã họp Đại hội tại Sơn Tây. Đại hội đã trao đổi, thảo luận nhiều ý kiến và đi tới thống nhất chủ trương thành lập ĐCS của những người lãnh đạo Kì bộ; đồng thời quyết định cử một đoàn đại biểu gồm 4 người do Trần Văn Cung(Bí thư Kì bộ) phụ trách đi dự Đại hội lần thứ I của HVNCMTN sẽ tổ chức ở Hương Cảng.</p>
<p>Đầu tháng 5/1929, tại Đại hội I của HVNCMTN, Đoàn đại biểu Kì bộ Bắc Kì đã đưa ra đề nghị giải tán tổ chức Thanh Niên và thành lập ĐCS. Nhưng đề nghị đó không được chấp thuận. Đoàn đại biểu Kì bộ Bắc Kì đã bỏ Đại hội ra về.</p>
<p>Sau khi trở về nước, ngày 1/6/1929, Đoàn đại biểu Kì bộ Bắc Kì đã ra Tuyên Ngôn giải thích lý do vì sao họ rời bỏ Đại hội, và chỉ rõ những điều kiện để thành lập một chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân đã chín muồi. Tuyên Ngôn viết:</p>
<p>“1- Ở Việt Nam tư bản đã rất phát đạt và bắt đầu nhóm vào một số ít người(tư bản tập trung).</p>
<p>2- Vô sản giai cấp ở Việt Nam ngày càng đông và càng giác ngộ; nông dân nghèo cũng một ngày một nhiều.</p>
<p>3- Hiện nay ở Việt Nam chưa có đảng nào là đại biểu cho vô sản giai cấp”.</p>
<p>Từ sự phân tích đó, bản Tuyên Ngôn nhấn mạnh: “Phải tổ chức ngay Đảng Cộng sản thì mới dẫn đạo cho vô sản giai cấp làm cách mệnh được”.</p>
<p>Tuyên Ngôn của Đoàn đại biểu Kì bộ Bắc Kì đã có sức hút mạnh đối với các hội viên HVNCMTN, nhiều hội viên đã hăng hái xin gia nhập Chi bộ Cộng sản. Để đáp ứng nhu cầu đó, ngày 17/6/1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên(Hà Nội), với sự tham dự của 20 đại biểu ưu tú của Kì bộ Thanh Niên. Sau khi ra đời, Đông Dương Cộng sản Đảng tuyên bố Tuyên Ngôn, Điều Lệ và phát hành báo Búa Liềm làm cơ quan tuyên truyền của Đảng. Bản Tuyên Ngôn nêu rõ Đông Dương Cộng sản Đảng là đảng đại biểu cho giai cấp vô sản, bao gồm những người giác ngộ và tiên tiến hơn cả. Đảng bênh vực quyền lợi cho “toàn thể vô sản giai cấp, dân cày nghèo và tất cả những người làm lụng bị bóc lột và đè nén”.</p>
<p>Bên cạnh công tác tuyên truyền, Đông Dương Cộng sản Đảng còn cử người đi vào Nam Kì và về các địa phương để xây dựng và phát triển cơ sở Đảng. Do đó, đến tháng 8/1929, nhiều cơ sở Đảng, nhất là ở Bắc Kì, đã được thành lập.</p>
<p>Trước ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của Đông Dương Cộng sản Đảng, Tổng bộ Thanh Niên và Kì bộ Nam Kì quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng vào tháng 7/1929. An Nam Cộng sản Đảng xuất bản báo “Đỏ” ở Hương Cảng, rồi gửi về nước để truyền bá trong nhân dân.</p>
<p>Cùng với quá trình phân hoá trong HVNCMTN dẫn tới sự ra đời của hai tổ chức cộng sản, xu hướng XHCN ngày càng lôi cuốn và tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của đại đa số đảng viên Tân Việt. Các đại biểu Tân Việt chân chính họp tại Sài Gòn(9/1929), đã ra Tuyên Đạt chính thức thành lập ra Đông Dương Cộng sản liên đoàn.</p>
<p>Ngày 31/12/1929, một số đại biểu ưu tú của TVCMĐ như Trần Hữu Chương, Nguyễn Xuân Thanh, Nguyễn Khoa Văn, Trần Đại Quả, Ngô Đức Đệ… đã họp mặt trên một con thuyền trên sông Đò Trai(Đức Thọ) để thảo luận và thông qua các văn kiện của Đông Dương Cộng sản liên đoàn. Cuộc họp bị lộ, tất cả các đại biểu tham dự họp đều bị bắt, rồi đưa về giam tại nhà lao Vinh. Đến đây, quá trình phân hoá trong nội bộ tổ chức TVCMĐ coi như kết thúc.</p>
<p>Sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản vào nửa sau năm 1929 khẳng định bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ hệ tư tưởng cộng sản đã giành được ưu thế trong phong trào dân tộc. Sự kiện đó cũng chỉ ra rằng những điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản đã hoàn toàn chín muồi trong phạm vi cả nước.</p>
<p><em>2. Thống nhất phong trào cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. </em></p>
<p>Sauk hi ra đời, ba tổ chức cộng sản đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế cộng sản và đều tự nhận mình là đảng cách mạng chân chính. Tuy nhiên, trong quá trình tuyên truyền, vận động quần chúng, các tổ chức cộng sản không tránh khỏi tranh giành ảnh hưởng, công kích lẫn nhau. Đông Dương Cộng sản Đảng cho An Nam Cộng sản Đảng là “hoạt đầu, giả cách mạng”; An Nam Cộng sản Đảng lại cho Đông Dương Cộng sản Đảng chưa “thật sự là cộng sản”, “chưa thật sự là Bônsêvich”…</p>
<p>Tình hình đó gây tổn hại lớn cho sự phát triển của phong trào cách mạng, vừa gây nên tâm trạng nghi ngờ hoang mang trong quần chúng.</p>
<p>Ngày 27/10/1929, Quốc tế Cộng sản đã gửi cho những người Đông Dương một bức thư, trong đó yêu cầu các tổ chức cộng sản phải chấm dứt sự chia rẽ công kích lẫn nhau, đồng thời xúc tiến hợp nhất thành một chính đảng duy nhất ở Đông Dương. Thực hiện Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Đông Dương Cộng sản Đảng đã cử đại diện sang Hương Cảng tiếp xúc và bàn việc hợp nhất với An Nam Cộng sản Đảng. Trong các cuộc gặp gỡ, mỗi bên đã đưa ra những yêu cầu mà bên kia không thể chấp nhận được. Kế hoạch hợp nhất do hai đảng chủ động đề ra do đó đã không đạt kết quả.</p>
<p>Đúng vào thời điểm khó khăn, phức tạp ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã xuất hiện như một vị cứu tinh của cách mạng và phong trào cộng sản Việt Nam.</p>
<p>Sau vụ phản loạn của Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc, từ tháng 4/1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu sang Liên Xô và tiếp tục hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Cuối năm 1927, Người qua Đức, Pháp, rồi trở về Xiêm. Tại đây, Người ra sức tuyên truyền, giác ngộ và xây dựng các cơ sở HVNCMTN trong kiều bào Việt Nam.</p>
<p>Đầu tháng Giêng năm 1930, trước nhu cầu cấp bách của phong trào cộng sản trong nước, được sự uỷ nhiệm của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hương Cảng để triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một ĐCS duy nhất ở Việt Nam.</p>
<p>Hội nghị có 5 đại biểu, hai đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng(Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh) và hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng(Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu), dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tại phiên họp ngày 3/2/1930, các đại biểu đã nhất trí hợp nhất Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng thành ĐCS Việt Nam, đồng thời thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ tóm tắt của Đảng.</p>
<p>Bản Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng khẳng định ĐCS Việt Nam “là đội tiên phong của vô sản giai cấp”. Đảng chủ trương tiến hành “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.</p>
<p>Nhiệm vụ của cuộc cách mạng đó là đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc, thành lập chính phủ công nông binh. Chính phủ đó sẽ tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc phong kiến để chia cho nông dân nghèo, quốc hữu hoá các sản nghiệp, mở mang phát triển công nông nghiệp, thực hiện các quyền tự do dân chủ, quyền bình đẳng nam nữ, thi hành luật ngày làm 8 giờ…</p>
<p>Để hoàn thành được mục tiêu trên, “Đảng phải thu phục cho được đại đa số dân cày và phải dựa vững vào hạng dân cày nghèo”. Đồng thời lại “phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… để lôi kéo họ về phe vô sản giai cấp. Còn đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít nữa là làm cho họ trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ”.</p>
<p>Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo và thông qua tại Hội nghị đã vạch ra phương hướng phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng XHCN. Đường lối đó là kết quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữa tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản và thực tiễn cách mạng Việt Nam.</p>
<p>Sau Hội nghị hợp nhất Đảng, ngày 24/2/1930, theo đề nghị của Đông Dương Cộng sản liên đoàn, Ban chấp hành TW lâm thời của ĐCS Việt Nam đã chấp thuận kết nạp tổ chức cộng sản này vào Đảng. Như vậy, phải tính đến ngày 24/2/1930, việc hợp nhất giữa 3 tổ chức cộng sản thành 1 chính đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam mới được hoàn tất trên thực tế.</p>
<p>ĐCS Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng cách mạng tiên tiến của thời đại, với phong trào công nhân, và phong trào yêu nước Việt Nam. Sự ra đời của Đảng, chứng tỏ giai cấp công nhân nước ta đã trưởng thành và đủ khả năng đảm nhiệm vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ đây, giai cấp công nhân thật sự trở thành một lực lượng chính trị độc lập, thống nhất trong cả nước. Thông qua chính đảng của mình, giai cấp công nhân có sự mệnh lãnh đạo toàn thể dân tộc và nhân dân vượt qua mọi thác ghềnh hiểm trở để đưa con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến bờ vinh quang. Sự ra đời của Đảng ngày 3/2/1930 đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước ở Việt Nam trong mấy chục năm qua. Đây là khâu chuẩn bị quan trọng đầu tiên cho một thời kỳ vùng dậy oanh liệt nhất và bước nhảy vọt vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc.</p>
<p>Với sự ra đời của Đảng, cách mạng Việt Nam đã trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, và dân tộc Việt Nam từ đây sẽ từng bước tiến lên hội nhập vào phong trào cách mạng thế giới.</p>
<p>IV. Khởi nghĩa Yên Bái và những cố gắng cuối cùng của Việt Nam quốc dân đảng.</p>
<p>1. Khởi nghĩa Yên Bái</p>
<p>Từ đầu tháng 2/1929, nhân vụ án Bazin, thực dân Pháp ra sức truy lùng, bắt bớ những người yêu nước và phá vỡ hang loạt những cơ sở cách mạng của VNQDĐ ở Hà Nội và các tỉnh. Số phận VNQDĐ đang mấp mé bên bờ vực thẳm.</p>
<p>Trước tình thế nguy cấp, những người lãnh đạo Tổng bộ cho rằng không thể cứ ngồi yên chịu chết, mà phải đứng lên sống mái với quân thù. Từ cách nhìn nhận đó, Nguyễn Thái Học đã quyết định triệu tập hội nghị đại biểu toàn quốc của VNQDĐ ngày 17/9/1929 tại Lạc Đạo(Hải Dương) để bàn bạc và thống nhất kế hoạch khởi sự. Trong Hội nghị này, xuất hiện 2 phái: phái Cải Tổ và phái Khởi Nghĩa. Phái chủ trương khởi nghĩa do Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu đứng đầu chiếm ưu thế trong hội nghị. Tiếp theo hội nghị đại biểu toàn quốc, VNQDĐ còn tổ chức một cuộc họp nữa ở Bắc Ninh để hoạch định thời gian và phương thức tiến hành khởi nghĩa. Theo kế hoạch đã được thống nhất, VNQDĐ sẽ tổ chức khởi nghĩa ở các nơi và cùng lúc đánh vào các đô thị lớn là những trung tâm quân sự của Pháp. Lực lượng khởi nghĩa chủ yếu gồm anh em binh lính là người của Đảng trong quân đội của Pháp, đồng thời phối hợp với lực lượng của Đảng ở bên ngoài. Vũ khí một phần do các cơ sở của Đảng chế tạo, phần còn lại phải cướp từ tay giặc. Thời gian khởi nghĩa ấn định vào ngày 9/2/1930. Theo phân công của Đảng, Nguyễn Thái Học trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa ở ba tỉnh đồng bằng: Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An; còn Nguyễn Khắc Nhu chịu trách nhiệm tổ chức cuộc khởi nghĩa ở ba tỉnh trung du: Sơn Tây, Phú Thọ, Yên Bái.</p>
<p>Sau 2 hội nghị ở Lạc Đạo và Bắc Ninh, công tác chuẩn bị khởi nghĩa được triển khai và đẩy mạnh ở các địa phương. Các xưởng chế bom được lập ra tại các tỉnh Bắc Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, và đã sản xuất được hàng nghìn quả bom xi măng. Ngoài ra, VNQDĐ còn tổ chức rèn dao, kiếm, mã tấu và đưa đi cất giấu ở những nơi kín đáo chờ ngày khởi sự. Các cơ sở may cờ, quân phục và in truyền đơn cũng làm việc liên tục ngày đêm.</p>
<p>Giữa lúc công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa đang được tiến hành khẩn trương thì một số biến cố đã xảy ra, gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động của VNQDĐ. Điển hình là vụ nổ bom do sơ suất khi chế tạo đã làm chế 3 đảng viên VNQDĐ ở Bắc Ninh (3/9/1929), và nhất là vụ phản bội của Phạm Thành Dương (tức Đội Dương) ngày 25/12/1929 tại Hội nghĩ Võng La (Phú Thọ). Những sự cố này đã buộc Pháp cảnh giác, tăng cường các cuộc lùng sục, khủng bố, đẩy VNQDĐ đến nguy cơ khởi nghĩa non.</p>
<p>Để đối phó với tình hình, ngày 26/1/1930, Nguyễn Thái Học lại triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tại làng Mỹ Xá (Nam Sách &#8211; Hải Dương) để khẳng định lại chủ trương khởi nghĩa, đồng thời kiểm tra và thúc đẩy tiến độ thực hiện các công việc chuẩn bị khởi nghĩa. Trên cơ sở phân tích tình hình của Đảng, Nguyễn Thái Học nhận xét: “Đảng chúng ta (tức VNQDĐ &#8211; TG) có thể tiêu ma hết lực lượng. Một khi lòng sợ sệt đã chen vào đầu óc quần chúng kiến họ hết hăng hái, hết tin tưởng thì phong trào cách mạng có thể nguội lạnh như đám tro tàn, rồi người của Đảng cũng sẽ liên tiếp bị bắt dần, vô tình đã xô đẩy anh em vào cái chết lạnh lùng mòn mỏi ở các phòng ngục trại giam. Âu là chết đi để thành cái gương phấn đấu cho người sau nối bước. Không thành công thì cũng thành nhân”.</p>
<p>Căn cứ vào kết quả chuẩn bị khởi nghĩa ở các địa phương, Nguyễn Thái Học đã bàn bạc với các đồng chí, quyết định hoãn thời gian khởi nghĩa tại 3 tỉnh miền xuôi đến ngày 15/2/1930.</p>
<p>Đúng như kế hoạch đã định, đêm ngày mồng 9, rạng ngày 10/2/1930, cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ ở Yên Bái. Quân khởi nghĩa  đã chiếm được trại lính cơ số 5 và 6, giết được một số sĩ quan và hạ sĩ quan người Pháp. Nhưng họ vẫn không lôi kéo được toàn bộ lính khố xanh, và không làm chủ được tình hình chiến sự ở Yên Bái.</p>
<p>Sáng ngày 10/2, Pháp tập trung lực lượng (có máy bay yểm trợ) tổ chức phản công chiếm lại các căn cứ bị mất, đẩy nghĩa quân vào tình trạng tan rã.</p>
<p>Tại Lâm Thao (Phú Thọ), nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Phạm Nhận đã nhất loạt nổ súng và nhanh chóng chiếm được huyện đường. Tri phủ Đỗ Kim Ngọc bỏ trốn. Nghĩa quân treo cờ và đốt lửa báo tin thắng lợi.</p>
<p>Cũng đêm mồng 9/2/1930, Nguyễn Khắc Nhu dẫn một toán nghĩa quân đến đánh đồng Hưng Hoá, nhưng không đạt kết quả. Sáng hôm sau, quân Pháp từ Phú Thọ kéo lên phản công quyết liệt, quân khởi nghĩa bị đánh tan, Nguyễn Khắc Nhu bị thương, sau đó bị bắt, rồi tự sát để giữ tròn khí tiết.</p>
<p>Tại Sơn Tây, cuộc tấn công đánh đồng Chùa Thông cũng không giành được thắng lợi do kế hoạch khởi nghĩa bị lộ. Sáng ngày 10/2, người phụ trách cuộc khởi nghĩa ở đây là Phó Đức Chính đã bị bắt.</p>
<p>Sau khi các cuộc nổi dậy ở các tỉnh miền ngược do Nguyễn Khắc Nhu lãnh đạo đã thất bại, thì tại các tỉnh miền xuôi kế hoạch khởi nghĩa mới bắt đầu được triển khai. Đêm ngày 14, rạng ngày 15/2/1930, VNQDĐ đã nổi dậy khởi nghĩa ở Phả Lại, Vĩnh Bảo (Hải Dương), Kiến An và Phụ Dực (Thái Bình), nhưng đều không thu được kết quả.</p>
<p>Tại Vĩnh Bảo, dưới sự chỉ huy của Trần Quang Diệu, nghĩa quân đã từ Cổ Am kéo lên đánh phá huyện đường, giết tri huyện Hoàng Gia Mô, rồi tự giải tán. Ở Phụ Dực, nghĩa quân đánh chiếm phủ huyện, đốt hết giấy tờ sổ sách, sau đó tự giải tán.</p>
<p>Tại Kiến An, do kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, thực dân Pháp đã tức thời bắt giam toàn bộ số lính khố đỏ, và tổ chức canh phòng cẩn mật. Biết không thể khởi nghĩa thắng lợi, nghĩa quân nhanh chóng tự giải tán trước khi bị quân Pháp phản công.</p>
<p>Riêng ở Hà Nội, ngay đêm nổ ra cuộc khởi nghĩa Yên Bái (10/2), một số đảng viên VNQDĐ (đều là học sinh trường Bách Nghệ) đã ném bom vào nhà tên Giám đốc Sở Mật thám Ác-nu (Arnuox), vào nhà tù Hoả Lò và Sở Cảnh sát. Nhưng các vụ ném bom này ít gây tổn hại cho Pháp, không có tiếng vang lớn trong dân chúng.</p>
<p>Như vậy, chỉ trong vòng 1 tuần lễ, cuộc khởi nghĩa vũ trang quy mô lớn do VNQDĐ phát động đã bùng nổ ở nhiều nơi và mau chóng đi tới thất bại. Cuộc khởi nghĩa tuy không đạt được kết quả (do công tác tổ chức thiếu chu đáo, “kế hoạch rất chủ quan”, còn Pháp thì đang mạnh), nhưng đã có tiếng vang cả trong và ngoài nước. Tại thủ đô Paris (Pháp), sinh viên và Việt kiều đã tổ chức biểu tình ủng hộ khởi nghĩa Yên Bái và chống việc khủng bố các chiến sĩ VNQDĐ.</p>
<p>Khởi nghĩa Yên Bái với những hành động quả cảm của các nghĩa quân VNQDĐ đã thể hiện tinh thần yêu nước, chí khí quật cường của dân tộc ta, góp phần thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước trong các tầng lớp nhân dân. Từ đó, thấy rõ mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Pháp đã trở nên vô cùng gay gắt.</p>
<p>Tuy nhiên, thất bại của khởi nghĩa Yên Bái, cũng chứng tỏ sự bồng bột, hăng hái nhất thời của tầng lớp tiểu tư sản. Đó cũng là thất bại của giai cấp tư sản dân tộc trong cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam.</p>
<p>Đồng chí Lê Duẩn – nguyên Tổng Bí thư ĐCS Việt Nam nhận định: “Khởi nghĩa Yên Bái chỉ là một cuộc bạo động bất đắc dĩ, một cuộc bạo động non, để rồi chết luôn không bao giờ ngóc lên nổi. Khẩu hiệu “Không thành công thì thành nhân” biểu lộ tính chất hấp tấp tiểu tư sản, tính chất hăng hái nhất thời và đồng thời cũng biểu lộ tính chất không vững chắc, non yếu của phong trào tư sản”.</p>
<p>Từ sau cuộc bạo động Yên Bái, VNQDĐ hoàn toàn tan rã, khuynh hướng cách mạng dân tộc hoàn toàn thất bại, hệ tư tưởng tư sản cũng hoàn toàn bất lực trước các nhiệm vụ lịch sử của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Ngọn cờ cách mạng đã chuyển hẳn sang tay giai cấp vô sản. Từ đây trở đi, “trên dải đất Việt Nam, phong trào chống đế quốc, giành độc lập dân tộc chỉ là những phong trào do giai cấp vô sản lãnh đạo”.</p>
<p><em> 2. Chính sách khủng bố của thực dân Pháp và những cố gắng cuối cùng của “Phái cải tổ” trong VNQDĐ.</em></p>
<p>Để trả thù hành động yêu nước của các chiến sĩ VNQDĐ &#8211; mặc dù cuộc khởi nghĩa đã thất bại – chính quyền thực dân đã thực hiện một chiến dịch khủng bố tàn khốc đối với các tầng lớp nhân dân ta. Các đảng viên và những người có liên quan tới VNQDĐ bị truy lùng gắt gao, trong đó có hàng ngàn người bị bắt. Ngày 14/2/1930, Toàn quyền Đông Dương Paxkiê (P. Pasquier) đã đưa ra Nghị định thành lập Hội đồng Đề hình và cử Thanh tra Hành chính Bắc Kì Ôdiê (Poulet Osier) phụ trách. Qua nhiều phiên họp, Hội đồng Đề hình đã kết án 1086 người, trong đó 80 người bị xử tử hình, 594 người bị Phạt tù nặng.</p>
<p>Tàn bạo hơn nữa là vào trưa ngày 16/2/1930, thực dân Pháp đã cho 5 máy bay tới Vĩnh Bảo, ném bom và xả đạn súng máy xuống làng Cổ Am làm cháy trụi hết nhà cửa và giết hại 21 người dân. Tiếp đó, thực dân Pháp còn đưa lính đi khủng bố và tàn sát dã man nhân dân ở những làng đã từng có phong trào VNQDĐ phát triển mạnh như: Đồng Tải, Phong Cầu (Kiến An); Võng La, Sơn Dương (Phú Thọ)… Ngày 20/2/1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cổ Vịt (xã Cộng Hoà, Chí Linh, Hải Dương) và bị đưa về giam tại Hoả Lò – Hà Nội. Ngày 23/3 ông bị đưa ra xét xử và bị khép án tử hình. Gần 3 tháng sau, vào ngày 17/6/1930, Nguyễn Thái Học cùng 12 chiến sĩ trung kiên của VNQDĐ đã bị xử chém tại thị xã Yên Bái.</p>
<p>Trong những ngày chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa Yên Bái, phái “cải tổ” của VNQDĐ nằm “án binh bất động”. Họ chủ trương kéo dài thời gian xây dựng lực lượng, tiến tới cải tổ lại Đảng cho thật vững chắc rồi mới tiến hành khởi nghĩa.</p>
<p>Vì vậy, ngay sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, phái “cải tổ” do Lê Hữu Cảnh đứng đầu đã nhanh chóng bắt liên lạc với các đảng viên còn lại, tích cực chuẩn bị mọi điều kiện để cải tổ lại Đảng. Tại một cuộc họp do Lê Hữu Cảnh triệu tập với sự tham gia của Nguyễn Xuân Huân, Lê Tiến Sự, Nguyễn Đức Lâm, Phạm Văn Hể, phái “cải tổ” đã quyết định bầu lại Tổng bộ mới, và xây dựng kế hoạch phát triển cơ sở Đảng ở các địa phương. Do đó, các cơ sở VNQDĐ được phục hồi khá nhanh ở các tỉnh Vĩnh Yên, Hải Dương.</p>
<p>Tuy nhiên, phương thức hoạt động của phái này vẫn không có gì thay đổi so với trước. Họ chủ yếu tổ chức các vụ ám sát, tống tiền, gây hoang mang, kinh sợ trong bọn thực dân, chớ không coi trọng công tác tuyên truyền trong quần chúng nhân dân. Điển hình là các vụ ám sát hụt Toàn quyền Paxkiê, Tổng đốc Vi Văn Định, vụ xử tội phản bội của Phạm Thanh Dương…</p>
<p>Để tiêu diệt nốt những cố gắng cuối cùng của VNQDĐ “cải tổ”, thực dân Pháp càng ra tay đàn áp. Cuối tháng 6/1930, cơ quan Tổng bộ bị phá vỡ, Lê Hữu Cảnh bị bắt. Đầu năm 1931, một thành viên khác của phái “cải tổ” là Vũ Tiến Lữ đã liên lạc với một số đảng viên của Đảng ở Hà Nội, Hải Phòng, dự tính sẽ tiến hành tổ chức lại VNQDĐ. Nhưng trước sự truy lùng gắt gao của thực dân Pháp, kế hoạch này cũng không thực hiện được. Sau này, hoạt động của phái “cải tổ” vẫn còn được duy trì ở một vài vùng thuộc tỉnh Hải Dương. Tại những nơi này, các đảng viên tiếp tục chế bom và tiến hành các vụ ám sát, tống tiền để tạo nguồn tài chính cho công cuộc phục hồi lại Đảng. Mãi đến cuối năm 1932, những cố gắng cuối cùng của phái “cải tổ” trong VNQDĐ mới hoàn toàn bị dập tắt.</p>
<p>Có thể nói vai trò của VNQDĐ trong phong trào dân tộc trên thực tế đã chấm dứt từ sau khởi nghĩa Yên Bái. Còn các hoạt động sau đó của những đảng viên thuộc phái “cải tổ” trong VNQDĐ chỉ là những âm hưởng cuối cùng của một tiếng chuông đã tắt. Sau này, một số đảng viên VNQDĐ chạy sang Trung Quốc đã biến chất, trở thành tay sai của nước ngoài, rồi được đưa về nước để chống phá phong trào cách mạng của nhân dân ta.</p>
<p>(<em>Xem tiếp</em> Chương X)</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/chevietnam.wordpress.com/189/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/chevietnam.wordpress.com/189/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/chevietnam.wordpress.com/189/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/chevietnam.wordpress.com/189/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/chevietnam.wordpress.com/189/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/chevietnam.wordpress.com/189/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/chevietnam.wordpress.com/189/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/chevietnam.wordpress.com/189/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/chevietnam.wordpress.com/189/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/chevietnam.wordpress.com/189/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/chevietnam.wordpress.com/189/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/chevietnam.wordpress.com/189/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/chevietnam.wordpress.com/189/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/chevietnam.wordpress.com/189/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=189&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/11/ch%c6%b0%c6%a1ng-ix-phong-trao-dan-t%e1%bb%99c-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam-t%e1%bb%ab-1925-d%e1%ba%bfn-1930/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/bccd66a218a0b2086db33dbc931d297c?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">chevietnam</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Chương VIII: Bước phát triển mới của phong trào dân tộc ở Việt Nam sau chiến tranh</title>
		<link>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/11/ch%c6%b0%c6%a1ng-viii-b%c6%b0%e1%bb%9bc-phat-tri%e1%bb%83n-m%e1%bb%9bi-c%e1%bb%a7a-phong-trao-dan-t%e1%bb%99c-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam-sau-chi%e1%ba%bfn-tranh/</link>
		<comments>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/11/ch%c6%b0%c6%a1ng-viii-b%c6%b0%e1%bb%9bc-phat-tri%e1%bb%83n-m%e1%bb%9bi-c%e1%bb%a7a-phong-trao-dan-t%e1%bb%99c-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam-sau-chi%e1%ba%bfn-tranh/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 11 Jul 2009 05:01:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator>chevietnam</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thông Sử Việt theo quan điểm của các Sử gia XHCN]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch sử Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[sự phát triển của phong trào dân tộc sau chiến tranh thế giới thứ  nhất]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://chevietnam.wordpress.com/?p=187</guid>
		<description><![CDATA[So với các giai đoạn trước, phong trào dân tộc ở Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu có những chuyển biến mới cả về nội dung và hình thức biểu hiện. Những chuyển biến đó bắt nguồn từ những biến đổi trong kết cấu kinh tế-xã hội, cũng như [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=187&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>So với các giai đoạn trước, phong trào dân tộc ở Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu có những chuyển biến mới cả về nội dung và hình thức biểu hiện. Những chuyển biến đó bắt nguồn từ những biến đổi trong kết cấu kinh tế-xã hội, cũng như trong tâm lí và tư tưởng.</p>
<p>Bên cạnh sự chi phối của các điều kiện kinh tế-xã hội trong nước, phong trào dân tộc ở Việt Nam thời kỳ này còn chịu sự tác động sâu sắc của tình hình trong khu vực và trên thế giới.</p>
<p><strong>I- Bối cảnh thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất.</strong></p>
<p>Cuộc chiến tranh TG1 (1914-1918) về thực chất chỉ là một cuộc chiến tranh phân chia thế lực, khu vực ảnh hưởng và các thuộc địa giữa các cường quốc đế quốc. Chiến tranh đã kết thúc, nhưng hậu quả của nó để lại còn hết sức nặng nề cho toàn nhân loại. Khoảng 10 triệu người chết và 20 triệu người tàn phế. Các chi phí trực tiếp về quân sự của các nước tham chiến lên tới 200 tỉ đô la. Chiến tranh tàn phá hang loạt nhà máy, xí nghiệp, đường giao thông, nhà cửa, trường học, đồng thời đẩy nhiều nước tư bản vào tình trạng suy kiệt về tài chính.</p>
<p>Ngày 18/1/1919, đại diện của các nước thắng và bại trận trong 2 phe Đồng Minh và Hiệp Ước đã họp tại Vecxai để phân chia kết quả chiến tranh.</p>
<p>Anh, sau đó là Pháp, giành được nhiều quyền lợi nhất. Các nước bại trận, nhất là Đức, vừa mất thuộc địa, vừa phải bồi thường chiến phí lên đến trên 100 tỉ Mác. Kết quả của HN Vecxai cũng dẫn đến sự ra đời của một số quốc gia mới trên lãnh thổ của đế quốc Áo-Hung và một phần lãnh thổ mà Đức chiếm đóng trước kia(là Ba Lan, Tiệp Khắc, Áo, Hung, Nam Tư).</p>
<p>Từ đầu những năm 20 trở đi, các nước tư bản bước vào thời kì khôi phục và phát triển kinh tế, là thời kì ổn định cục bộ và tạm thời của CNTB thế giới.</p>
<p>Chiến tranh TG1 đã làm thay đổi vị trí và tương quan lực lượng giữa các nước đế quốc, đồng thời đưa đến một hệ quả ngoài ý muốn của mọi nước tư bản: đó là Cuộc cách mạng XHCN tháng Mười Nga 1917 thắng lợi dẫn đến sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới.</p>
<p>Với thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga, hệ thống dây chuyền đế quốc chủ nghĩa thế giới bị chặt đứt, con đường cách mạng vô sản được khai thông, nối liền từ Tây sang Đông.v.v.</p>
<p>Dưới ảnh hưởng trực tiếp của cách mạng tháng Mười Nga và Chiến tranh TG1, phong trào đấu tranh chống đế quốc ở các nước tư bản phương Tây dâng lên mạnh mẽ. Đầu 1918, cách mạng công nhân bùng nổ ở Phần Lan. Tháng 10/1918, chế độ quân chủ ở Áo-Hung bị sụp đổ. Cũng trong năm đó, giai cấp công nhân Đức đã nổi dậy quật đổ chế độ quân chủ và thành lập chính quyền Xô-viết trong một thời gian. Tháng 3/1919, nước Cộng hoà Xô-viết Hung-ga-ri được thành lập và tồn tại hơn 4 tháng. Tại các nước tư bản khác như Anh, Pháp, Ý, Mĩ…, nhiều cuộc bãi công và đấu tranh của công nhân và lao động đã nổ ra khá rầm rộ.</p>
<p>Do sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, từ 1918 trở đi, tại nhiều nước châu Âu, các Đảng Cộng sản đã lần lượt được thành lập. Tháng 3/1919, trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, Quốc tế Cộng sản-tức Quốc tế III &#8211; đội tham mưu chiến đấu của giai cấp vô sản quốc tế đã ra đời tại Matxcơva. Quốc tế III đã tiến hành tuyên truyền tư tưởng cộng sản, đồng thời đề ra đường lối, phương hướng và trực tiếp chỉ đạo, giúp đỡ các nước thuộc địa và phụ thuộc trong cuộc đấu tranh chống ách nô dịch của CNTB phương Tây.</p>
<p>Ở châu Á, tháng 3/1919, cuộc khởi nghĩa của nhân dân Triều Tiên chống Nhật Bản bùng nổ. Tháng 5/1919, phong trào Ngũ Tứ mang tính chất dân tộc dân chủ đã nổ ra và lan rộng khắp Trung Quốc thu hút hang triệu người tham gia. Tại Ấn Độ, phong trào bất hợp tác, chống lại sự thống trị của thực dân Anh cũng đã được sự tham gia đông đảo của nhân dân trong nhiều năm.</p>
<p>Tuy nhiên, từ những năm 1924-1925 trở đi, phong trào cách mạng thế giới tạm thời lắng xuống. Đối với các nước đế quốc, đây là thời kỳ vừa ra sức khôi phục, phát triển kinh tế, vừa ra sức bao vây, phá hoại Liên Xô-thành trì của cách mạng thế giới. Sự đối địch lúc ngấm ngầm, khi công khai, giữa 2 phe, 2 hệ thống có chế độ chính trị-xã hội khác nhau là TBCN và XHCN đã xuất hiện và trở thành đặc điểm lớn nhất của thời đại, của lịch sử thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Cuộc vận động giải phóng dân tộc ở VN thời kỳ sau chiến tranh đã diễn ra và phát triển trong bối cảnh lịch sử đó.</p>
<p><strong>II- Hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc</strong></p>
<p>Nguyễn Ái Quốc(lúc nhỏ tên Nguyễn Sinh Cung, sau là Nguyễn Tất Thành) sinh ngày 19/5/1890 tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, Nghệ An. Cha là Nguyễn Sinh Sắc(1863-1929) đỗ Phó Bảng, bị ép ra làm quan, sau khi bị cách chức, ông chuyển sang làm nghề thầy thuốc. Mẹ Nguyễn Ái Quốc là Hoàng Thị Loan(1868-1900), là một phụ nữ có học, đảm đang.</p>
<p>Sinh ra trong một gia đình trí thức, lớn lên từ một miền quê có truyền thống quật khởi, Nguyễn Ái Quốc từ rất sớm đã có “chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào”. NAQ rất khâm phục tinh thần yêu nước của các chí sĩ Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…, nhưng không tán thành con đường cứu nước của các bậc tiền bối.</p>
<p>Xuất phát từ long yêu nước, trên cơ sở rút kinh nghiệm thất bại của các thế hệ cách mạng đi trước, ngày 6/5/1911 Nguyễn Ái Quốc quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước mới hữu hiệu hơn. Khác với các thế hệ thanh niên đầu thế kỷ thường hướng về Nhật Bản, NAQ quyết định sang phương Tây, đến nước Pháp để tìm hiểu xem “nước Pháp và các nước khác làm thế nào, rồi sẽ trở về giúp đồng bào mình”. Trong nhiều năm sau đó, NAQ đã đi qua nhiều nước ở các đại lục Á, Âu, Phi, Mĩ, đã phải làm nhiều nghề khác nhau như rửa bát, dọn tàu, quét rác.v.v. để sống và học tập. Nhờ đó, NAQ hiểu ở đâu bọn thực dân, đế quốc cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị áp bức, bị bóc lột dã man.</p>
<p>Vào cuối chiến tranh thế giới I, khoảng cuối 1917, NAQ từ Anh trở lại Pháp. Tại đây, hoạt động đầu tiên của NAQ là đấu tranh cho binh lính và thợ thuyền VN được sớm hồi hương trở về với gia đình. Năm 1919, NAQ gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một đảng tiến bộ chủ trương chống lại các chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp ở thuộc địa. Tháng 6/1919, nhân dịp các nước thắng trận trong chiến tranh TG I họp tại Vecxai, NAQ thay mặt những người VN yêu nước ở Pháp gửi tới Hội nghị “Bản yêu sách của nhân dân VN” để tố cáo chính sách thực dân của Pháp và đòi chính phủ Pháp phải thực hiện các quuyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc VN.</p>
<p>Bản yêu sách gồm 8 điểm:</p>
<p>- Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị</p>
<p>- Cải cách nền pháp lí Đông Dương bằng cách để người bản xứ cũng được quyền hưởng những bảo đảm về mặt pháp luật như người Âu châu. Xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam.</p>
<p>- Tự do báo chí và tự do ngôn luận</p>
<p>- Tự do lập hội và hội họp</p>
<p>- Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương</p>
<p>- Tự do học tập, thành lập các trường kĩ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ</p>
<p>- Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật</p>
<p>- Có đại biểu thường trực của người bản xứ do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho nghị viện biết được những nguyện vọng của người dân bản xứ.</p>
<p>Giữa năm 1920, NAQ được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo-cơ quan TW của ĐCS Pháp. NAQ cảm thấy vô cùng phấn khởi, tin tưởng, muốn nói to lên như đang đứng trước đông đảo quần chúng lao khổ: “Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. NAQ đã tìm thấy con đường cứu nước. NAQ khẳng định: “Chỉ có CNXH, CNCS mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Từ đó, NAQ hoàn toàn tin theo Lênin và Quốc tế III.</p>
<p>Tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng XH Pháp ở Tua vào cuối 12/1920, NAQ đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III và tham gia sáng lập ĐCS Pháp. Hành động bỏ phiếu ủng hộ Quốc tế III là sự kiện đánh dấu bước nhảy vọt trong tư tưởng chính trị của NAQ, từ lập trường yêu nước chuyển sang lập trường cộng sản. Sự kiện đó chính là mở ra cho cách mạng giải phóng dân tộc VN một giai đoạn phát triển mới, “giai đoạn gắn phóng trào cách mạng VN đi theo con đường mà chính Người đã trải quan, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin”.</p>
<p>Sau này chính NAQ đã thừa nhận: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản đã làm tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ III. Từng bước một trong quá trình đấu tranh, vừa nghiên cứu lí luận Mác-Lênin vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu rằng chỉ có CNXH, CNCS mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.</p>
<p>Sau khi đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, từ 1921 trở đi, NAQ tiếp tục học tập để bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước của mình, đồng thời tích cực truyền bá chủ nghiã Mác-Lênin vào trong nước nhằm chuẩn bị về tiền đề chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng tiên phong ở VN, nhân tố cơ bản đầu tiên đảm bảo cho mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta.</p>
<p>Giữa năm 1921 tại Pháp, NAQ cùng một số nhà cách mạng của Angiêri, Tuynidi, Marôc, Mađagaxca… thành lập Hội lien hiệp thuộc địa. Để tiến hành tuyên truyền đường lối và các hoạt động của Hội, NAQ và những người lãnh đạo Hội quyết định sang lập báo Le Paria(Người cùng khổ) vào ngày 1/4/1922. Tính đến năm 1926, báo Le Paria phát hành được 38 số, mỗi số in từ 1000 – 5000 bản, trong đó một nửa số báo được gửi đi các thuộc địa của Pháp ở châu Phi và Đông Dương.</p>
<p>Bên cạnh đó, NAQ còn tích cực tổ chức các buổi diễn thuyết, viết và đăng nhiều bài trên các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, tập san Thư tín quốc tế… Năm 1925, NAQ cho in tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp ở Pari.</p>
<p>Với tư cách là Trưởng Tiểu ban Đông Dương của ĐCS Pháp, NAQ cũng đã góp phần quan trọng vào việc tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở thuộc địa, đồng thời tiến hành tuyên truyền về tư tưởng Mác-Lênin, xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nước thuộc địa và phụ thuộc.</p>
<p>Tháng 6/1923, NAQ bí mật từ Pari đến Matxcơva. Trong khoảng gần một năm rưỡi ở Liên Xô, NAQ ra sức tìm hiểu tình hình mọi mặt của chế độ Xô viết, tích cức nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa trong Quốc tế cộng sản; tích cực tham dự nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng như: Đại hội Quốc tế Nông dân, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ, Đại hội Quốc tế Thanh niên… Đặc biệt từ 17/6 – 18/7/1924, NAQ tham dự ĐH V của QTCS; tại đó NAQ đã trình bày một bản báo cáo rất quan trọng về vấn đề dân tộc và thuộc địa; bằng nhiều số liệu và tư liệu cụ thể, bản báo cáo đã làm sang tỏ và phát triển một số luận điểm của Lênin về bản chất của CNTD, về nhiệm vụ của các ĐCS trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột và giải phóng dân tộc ở các thuộc địa.</p>
<p>Như vậy, thời kỳ hoạt động ở Liên Xô là thời kì NAQ tiếp tục phát triển và hoàn chỉnh thêm tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc, thông qua nghiên cứu thực tiễn và học tập trong các sách báo mác-xít. Nội dung tư tưởng chính trị của NAQ trong những năm 20 bao gồm những luận điểm cơ bản sau đây:</p>
<p>- NAQ chỉ rõ bản chất của CNTD là “ăn cướp” và “giết người”. Vì vậy, CNTD là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới.</p>
<p>- Cách mạng GPDT là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới. Cách mạng GPDT phải thực hiện đoàn kết và liên minh với cách lực lượng cách mạng quốc tế. Phải gắn liền sự nghiệp GPDT với giải phóng nhân dân lao động và giai cấp công nhân. NAQ nói: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của CNCS và cách mạng thế giới”.</p>
<p>Người cho rằng cách mạng GPDT ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ khăng khít biện chứng với nhau, nhưng không phụ thuộc vào nhau. Cách mạng GPDT có thể bùng nổ và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Ở đây, NAQ muốn nhấn mạnh tới vai trò tích cực chủ động của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ách áp bức của CNTD.</p>
<p>- Ở một nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân lại là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột nặng nề. Vì vậy, cách mạng GPDT muốn giành được thắng lợi cần phải thu phục lôi cuốn được nông dân đi theo, cần phải xây dựng khối liên minh công nông làm động lực của cách mạng. Đồng thời trên cơ sở lien minh công nông phải thu hút, tập hợp được sự tham gia rộng rãi của đông đảo các giai tầng xã hội khác vào trận tuyến đấu tranh của dân tộc.</p>
<p>- Cách mạng muốn giành được thắng lợi, trước hết phải có đảng cách mạng nắm vai trò lãnh đạo. Đảng muốn vững phải đi theo học thuyết Mác-Lênin. Đảng phải có đội ngũ cán bộ sẵn sàng hy sinh chiến đấu vì mục đích của đảng, vì lợi ích và sự tồn vong của dân tộc, vì lí tưởng giải phóng giai cấp công nhân và nhân loại.</p>
<p>- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, chứ không phải việc của một vài người. Vì vậy cần tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao. Đây là quan điểm cơ bản đầu tiên của NAQ về nghệ thuật vận động quần chúng và tiến hành đấu tranh cách mạng.</p>
<p>Những quan điểm tư tưởng cách mạng trên đây của NAQ được giới thiệu trong các tác phẩm của Người, cùng các tài liệu Mác-xít khác đã theo những đường dây bí mật của ĐCS Pháp để chuyển về trong nước,  đến với các tầng lớp nhân dân VN, tạo ra một xung lực mới, một chất men kích thích phong trào dân tộc phát triển và nhanh chóng chuyển mình theo xu hướng cách mạng mới của thời đại. Cũng từ đây, những người yêu nước VN bắt đầu hướng về NAQ, một lãnh tụ cách mạng thiên tài đang như ngọn hải đăng chỉ đường dẫn lối đưa toàn thể dân tộc và nhân dân đi tới độc lập tự do.</p>
<p><strong>III- Các hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở nước ngoài.</strong></p>
<p><em>1- Phan Bội Châu và các hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở Trung Quốc.</em></p>
<p>Trung Quốc là nước láng giềng, đã trở thành nơi tụ họp và là địa bàn hoạt động của nhiều thế hệ người VN yêu nước. Năm 1912, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông đã nhóm họp và quyết định thủ tiêu Duy Tân hội, thành lập tổ chức VN Quang Phục hội, với đường lối đánh đuổi giặc Pháp “khôi phục nước VN, thành lập nền cộng hoà dân quốc VN”. Nhưng rồi VN Quang Phục hội cũng dần dần ta rã trước sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù.</p>
<p>Mùa hè 1913, Phan Bội Châu bị bọn quân phiệt Trung Quốc bắt giam tại Quảng Châu. Sau bốn năm, cuối 1917, sau khi được thả ra khỏi tù, Phan Bội Châu dự định về nước phát động cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang, nhưng nghe tin Đức bị thua ở châu Âu, ông chán nản, bi quan. Trong tình cảnh ấy, Phan Bội Châu đã viết Pháp-Việt đuề huề luận(1918). Sự dao động của ông còn tiếp tục được thể hiện trong các tác phẩm như: Dư cửu niên lai sở trì chi chủ nghĩa(1920), Thiên Hồ-Đế Hồ(1923). Tuy nhiên, ông quan niệm, đuề huề chỉ là sách lược. Phan Bội Châu trước sau vẫn là người thực tâm yêu nước, thương dân. Tháng 5/1919, Toàn quyền Xa-rô tìm cách mua chuộc ông bằng tiền bạc và chức tước, nhưng ông kiên quyết chối từ. Năm 1920, trước ảnh hưởng mạnh mẽ của cách mạng tháng Mười Nga, Phan Bội Châu bắt đầu hướng đến một hệ tư tưởng mới-tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Ông đánh giá cao và có cảm tình lớn với cách mạng tháng Mười. Ông viết: “May thay! Đương lúc khói độc mây mù, thình lình có một trận gió xuân thổi tới. Đương giữa lúc trời khuya đất ngủ, thình lình có một tia thái dương mọc ra. Trận gió xuân ấy, tia thái dương ấy, là chủ nghĩa xã hội vậy”. Cuối 1920, Phan Bội Châu đã dịch ra chữ Hán cuốn “Điều tra chân tướng Nga-la-tư” của một tác giả người Nhật, rồi đưa đến giới thiệu với Đại sứ Nga ở Bắc Kinh. Trong cuộc tiếp xúc này ông đã ngỏ ý muốn gửi người VN sang Nga du học. Nhưng những tình cảm và việc làm của ông đối với Cách mạng tháng Mười Nga mới chỉ dừng lại ở bề ngoài, chưa phải bắt nguồn từ những thay đổi căn bản trong nhận thức tư tưởng của ông. Năm 1923, ở Trung Quốc diễn ra sự kiện Quốc Dân đảng và Đảng Cộng sản hợp tác; trước tình hình đó, Phan Bội Châu đã bàn với các đồng chí của mình cải tổ VN Quang Phục hội thành VN Quốc dân đảng, phỏng theo tổ chức Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn.</p>
<p>Ngày 18/6/1924, tại tô giới Sa Diện của Pháp ở Quảng Châu, đã diễn ra cuộc mưu sát Toàn quyền Méc-lanh của Phạm Hồng Thái. Khâm phục tinh thần yêu nước của người thanh niên họ Phạm, Phan Bội Châu đã viết Truyện Phạm Hồng Thái để ca ngợi hành động hi sinh anh hùng đó. Tháng 12/1924, được sự góp ý của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Phan Bội Châu quyết định cải tổ VN Quốc dân đảng thành một tổ chức yêu nước tiến bộ. Sự kiện ấy chứng tỏ Phan Bội Châu vẫn luôn luôn là một người yêu nước chân thành, thực sự cầu thị, sẵn sàng thay đổi phương châm đường hướng, miễn là đạt được mục đích cuối cùng. Nhưng tiếc thay, ý định tốt đẹp đó chưa thực hiện được, thì Phan Bội Châu đã bị thực dân Pháp bắt vào tháng 6/1925 tại Hàng Châu. Cuối năm đó ông bị kết án tù, rồi đưa về an trí ở Huế. Từ đó trở đi, trong cuộc đời của một người tù bị giam lỏng, bị cách biệt với thực tế cuộc sống bên ngoài, Phan Bội Châu không thể vươn tới một tư tưởng mới, một trào lưu cách mạng mới nữa, tình cảm của ông đối với Cách mạng tháng Mười và Lênin vĩ đại chỉ còn được thể hiện qua việc treo ảnh của Lênin ở giữa nhà, hay viết sách Xã hội chủ nghĩa. Bản thân ông rốt cuộc không tránh khỏi tâm trạng cô quạnh, u buồn, thất vọng của một con người đã bị thời đại vượt qua, và cảm thấy mình bất lực, nhưng vẫn ngày đêm đau đáu một nỗi niềm yêu nước, thương dân.</p>
<p>Sau Chiến tranh TG1, nhiều thanh niên VN đã sang Trung Quốc, mong tìm kiếm con đường cứu nước cứu dân. Tiêu biểu cho lớp thanh niên ấy như: Đặng Xung Hồng, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu… Mùa xuân năm 1923, nhóm thanh niên này lập ra tổ chức Tâm Tâm Xã tại Quảng Châu. Lúc đầu, tổ chức này gồm 7 người là: Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Giản Khanh, Đặng Xung Hồng, Trương Quốc Huy, Lê Cầu, Nguyễn Công Viễn. Đầu năm 1924, Tâm Tâm Xã kết nạp thêm Phạm Hồng Thái và Lê Hồng Phong. Về tôn chỉ mục đích, Tâm Tâm Xã chủ trương “Liên hiệp những người có trí lực trong toàn dân VN, không phân biệt ranh giới đảng phái; miễn là có quyết tâm hi sinh tất cả tư ý và quyền lợi cá nhân, đem hết sức mình tiến hành mọi việc để khôi phục quyền làm người của người VN”. Đường lối chung chung trên đây, chứng tỏ Tâm Tâm Xã chưa có lập trường tư tưởng rõ ràng. Mục tiêu chủ yếu nhất của tổ chức này là đoàn kết tất cả những người yêu nước VN chống Pháp, lập trường chính trị còn non nớt, mơ hồ, nặng về khủng bố ám sát cá nhân.</p>
<p>Để phát huy thanh thế, Tâm Tâm Xã đã đưa người về nước lien lạc với các sĩ phu yêu nước, trong số đó có Lương Văn Can, đồng thời tiến hành phân phát tài liệu ở một số nơi, nhằm gây tiếng vang thức tỉnh đồng bào trong nước. Tâm Tâm Xã cử Phạm Hồng Thái và Lê Hồng Sơn giết Toàn quyền Méc-lanh ở Sa Diện(Quảng Châu); sự việc không thành, Phạm Hồng Thái hi sinh anh dũng trên dòng Châu Giang, còn Lê Hồng Sơn trốn thoát và tiếp tục hoạt động. Sau này, Lê Hồng Sơn gia nhập VN cách mạng thanh niên hội, rồi vào Đảng cộng sản và được phân công làm việc trong Chi hội Việt Nam của Hội lien hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông. Tháng 9/1932, Lê Hồng Sơn bị bắt giam ở nhà lao Vinh, rồi bị đưa về xử tử hình tại quê nhà(làng Xuân Hồ,  Nam Đàn, Nghệ An).</p>
<p>Cuộc mưu sát Toàn quyền Méc-lanh không đạt kết quả, nhưng nó đã góp phần thức tỉnh tinh thần yêu nước của hàng vạn đồng bào trong nước. “Tiếng bom của Phạm Hồng Thái đã nhóm lại ngọn lửa chiến đấu…, nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”.</p>
<p><em>2- Phan Châu Trinh và hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở Pháp.</em></p>
<p>Sau 3 năm bị đày ra Côn Lôn vì bị nghi ngờ lien quan đến cuộc vận động chống thuế ở Trung Kì(1908), năm 1911 Phan Châu Trinh cùng con trai (Phan Châu Dật) sang Pháp, mong vận động chính giới Pháp thả các chính trị gia VN bị bắt năm 1908. Năm 1912 ông cùng luật sư Phan Văn Trường lập Hội đồng bào thân ái tại Pháp. Cuối 1917 ông và Phan Văn Trường giúp đỡ NAQ tìm kiếm chỗ ở và việc làm khi NAQ từ Anh sang Pháp và gắn bó với nhau trong những năm tháng tiếp theo khi NAQ hoạt động ở Pháp.</p>
<p>Đầu 1922 Phan Châu Trinh đến Mac-xây, khi đó vua Khải Định được đưa sang Pháp dự cuộc “triển lãm thuộc địa” do thực dân Pháp tổ chức nhằm khuếch trương công lao “khai hoá” của chúng. Trong hoàn cảnh ấy, Phan Châu Trinh đã viết “Thất điều thư” kể 7 tội đáng chém của vua Khải Định (Tôn bậy quyền vua; Thưởng phạt không đúng; Thích quỳ lạy; Ăn tiêu xa xỉ; Ăn mặc lố lăng; Ăn chơi vô độ; Đi Pháp với mục đích không minh bạch). Bức thư đã gây tiếng vang lớn trong nhân dân, làm Khải Định một phen mất mặt.</p>
<p>Ngoài “Thất điều thư”, Phan Châu Trinh còn tổ chức diễn thuyết để phản đối Khải Định, phản đối chế độ quân chủ và quan trường ở VN. Phan Châu Trinh còn làm hang trăm bài thơ để bộc bạch tâm trạng và lập trường chính trị của mình. Ông vẫn chủ trương đường lối “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” như hồi còn ở trong nước. Trong bức thư gửi cho NAQ đề ngày 18/2/1922, ông khuyên NAQ nên “trở về nơi thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế”. Ông ví mình như “cây già”, “hoa sắp tàn”; còn NAQ như “cây đương lộc”, “nghị lực có thừa, dầy công học hỏi, lí thuyết tinh thông”.</p>
<p>Tháng 6/1925, Phan Châu Trinh được giới cầm quyền Pháp cho về nước theo yêu cầu của ông. Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh cũng cùng về. Hàng ngàn người bao gồm đủ mọi tầng lớp, đông nhất là học sinh, thanh niên, đã ra đón các ông tận cảng Sài Gòn.</p>
<p>Tháng 11/1925, mặc dù đã rất yếu, Phan Châu Trinh vẫn tổ chức nói chuyện với các tầng lớp nhân dân Sài Gòn. Trong bài nói đầu tiên nhan đề “Đạo đức và luân lí Đông, Tây” và bài thứ hai là “Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa”, Phan Châu Trinh tiếp tục đả phá đạo Khổng Nho và chế độ quân chủ, đề cao dân quyền, dân chủ phương Tây. Những tư tưởng đó đặt trong bối cảnh những năm 20 của thế kỷ XX vẫn được coi là mới mẻ, do đó đã được nhiều tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên, nhiệt tình hưởng ứng và ngưỡng mộ.</p>
<p><em>3- Các hoạt động yêu nước của công nhân và trí thức Việt Nam tại Pháp.</em></p>
<p>Cùng với hoạt động của nhà yêu nước lớn Phan Châu Trinh, đông đảo Việt kiều tại Pháp đã hăng hái tham gia các hoạt động yêu nước, đưa đón cán bộ, vận chuyển tài liệu sách báo cách mạng về trong nước để tuyên truyền, giác ngộ các tầng lớp nhân dân. Trong số hang vạn công nhân, thuỷ thủ người Việt bị thực dân Pháp đưa sang tham gia chiến tranh TG1, nhờ sự giúp đỡ của ĐCS Pháp, nhiều người đã dần dần được giác ngộ cách mạng, có người còn được đứng trong hang ngũ cộng sản. Một số thuỷ thủ VN đã được NAQ giới thiệu vào hoạt động trong Hội liên hiệp thuộc địa. Họ đã tích cực tham gia đưa các báo Người cùng khổ, Việt Nam hồn đến các cảng Hải Phòng, Đà Nẵng.</p>
<p>Do được tiếp thu tư tưởng XHCN và các kinh nghiệm đấu tranh ở châu Âu, nhiều trí thức và lao động VN tại Pháp đã dần dần đoàn kết lại trong các tổ chức yêu nước. Năm 1925, “Hội những người lao động trí óc Đông Dương” ra đời. Cuối 1927 ở Mác-xây lại xuất hiện “Hội bênh vực lao động An Nam”, ít lâu sau đổi tên thành “Hội liên hiệp lao động Đông Dương”.</p>
<p>Bên cạnh bộ phận Việt kiều hoạt động thiên về khuynh hướng tả, còn có một nhóm thanh niên, sinh viên xuất thân trong các gia đình địa chủ, tư sản vẫn tiếp tục chủ trương yêu nước trên lập trường dân tộc. Họ lập ra một tổ chức chính trị mang tên Đảng VN độc lập, đồng thời xuất bản báo Tái Sinh làm cơ quan phát ngôn của đảng. Đảng VN độc lập xây dựng được một vài chi bộ ở Pari và các tỉnh xung quanh, còn ở trong nước không có chỗ đứng trong nhân dân.</p>
<p><strong>IV- Các hoạt động của giai cấp tư sản</strong></p>
<p>Giai cấp tư sản VN ra đời sau giai cấp công nhân VN. Trong quá trình hình thành và phát triển, tư sản VN luôn bị tư sản nước ngoài cạnh tranh, chèn ép. Do hoàn cảnh đó, giai cấp tư sản vừa non yếu về kinh tế, vừa bạc nhược về chính trị.</p>
<p>Trước Chiến tranh TG1, tư sản VN chưa phải là một giai cấp, do đó chưa có hoạt động gì nổi bật. Phải đến thời kỳ sau Chiến tranh TG1, tư sản VN mới bước lên vũ đài chính trị và mới tiến hành một số hoạt động mang đặc điểm giai cấp rõ rệt.</p>
<p><em>1- Phong trào tẩy chay tư sản Hoa kiều(1919)</em></p>
<p>Bên cạnh sự kìm hãm của tư sản Pháp, tư sản VN còn phải đối phó với sự cạnh tranh của tư sản Hoa kiều. Tư sản Hoa kiều là lực lượng giữ vị trí thứ hai sau tư sản Pháp trong các hoạt động kinh doanh thương mại, xuất nhập khẩu, thầu khoán, mộ phu… ở VN.</p>
<p>Để chống lại thế lực kinh tế của tư sản Hoa kiều, năm 1919 tư sản VN đã dấy lên phong trào “tẩy chay các chú” ở một số thành phố, thị xã như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… Tại Hà Nội, người ta khuyên nhau không mua hang của “các chú”, tức người Hoa. Tham gia phong trào này, ngoài các nhà tư sản, còn có một số con em các gia đình địa chủ tư sản, học sinh. Họ nêu ra khẩu hiệu “Người An Nam không gánh vàng đi đổ sông Ngô”, “Người An Nam mua bán với người An Nam”…</p>
<p>Trước sự phát triển của phong trào, thực dân Pháp lo sợ, đã vội vàng tìm mọi cách ngăn cản. Sau vài vụ bắt bớ của chính quyền Pháp, phong trào xẹp dần rồi tắt hẳn.</p>
<p>Phong trào tẩy chay “các chú” hay “khách trú” về thực chất chỉ là cuộc đấu tranh vì quyền lợi của giai cấp giữa tư sản VN và Hoa kiều. Cuộc đấu tranh chứng tỏ mối mâu thuẫn giữa tư sản VN và tư sản nước ngoài đã trở nên gay gắt. Tuy nhiên, mũi nhọn đấu tranh của tư sản VN mới nhằm vào tư sản Hoa kiều, mà chưa dám hướng vào địch thủ trực tiếp là tư bản Pháp.</p>
<p><em>2- Đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn(1923)</em></p>
<p>Tiến thêm một bước so với phong trào “tẩy chay các chú”, lần này tư sản VN đã chĩa mũi nhọn đấu tranh vào tư sản Pháp.</p>
<p>Nhằm độc chiếm thị trường, năm 1923 thực dân Pháp mở cuộc vận động tại Hội đồng thuộc địa nhằm trao độc quyền kinh doanh tại cảng Sài Gòn cho một công ti Pháp. Trước quyết định này, giới tư sản và địa chủ Nam kì đã kịch liệt phản đối. Phong trào chống độc quyền cảng Sài Gòn đã diễn ra khá sôi nổi, lôi cuốn được sự tham gia ủng hộ của đông đảo thanh niên trí thức và tiểu tư sản ở Sài Gòn và các tỉnh Nam kì. Một số cuộc mít tinh được tổ chức, nhiều tờ báo còn công khai phản đối quyết định của Hội đồng thuộc địa. Cuộc đấu tranh đã có tiếng vang sang tận nước Pháp, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng tiến bộ ở Pháp.</p>
<p>Do sức ép của phong trào quần chúng cùng dư luận ở VN và Pháp, chính quyền Đông Dương buộc phải tạm hoãn thi hành quyết định của Hội đồng thuộc địa Nam kì.</p>
<p>Như vậy, cuộc đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn đã phản ánh những mâu thuẫn về quyền lợi giữa tư sản VN và tư bản Pháp. Nhưng cuộc đấu tranh này chỉ chống lại một công ti tư bản, chứ chưa phải chống lại toàn bộ ách cai trị của chủ nghĩa thực dân Pháp trên đất nước VN.</p>
<p><em>3- Hoạt động trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng.</em></p>
<p>Đi đôi với các hoạt động đấu tranh kinh tế, tư sản VN còn xuất bản báo chí làm cơ quan tuyên truyền cho tư tưởng cải lương chủ nghĩa, đồng thời đấu tranh đòi một số quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ chế độ thuộc địa. Hai tờ báo đóng vai trò cơ quan phát ngôn của giai cấp tư sản là “Diễn đàn Đông Dương”(La Tribune Indochinoise) và “Tiếng vang An Nam”(L’ Écho Annamite). Đứng trên lập trường quốc gia cải lương, các tờ báo này tuyên truyền rùm beng cho chủ nghĩa Pháp-Việt đuề huề và tư tưởng trực trị. Tờ Tiếng vang An Nam 8/1920 đã đăng bài viết “Má ơi đến cứu chúng con”, chủ trương dựa vào Pháp để chống lại tư sản Hoa kiều; hay trong bài báo khác năm 1921, tờ Tiếng vang An Nam đặt thẳng vấn đề “quyền làm chính trị” cho các nhà tư sản bản xứ.</p>
<p>Tuy nhiên, tổ chức đại diện đầy đủ nhất cho các quan điểm quốc gia cải lương của giai cấp tư sản là Đảng Lập hiến, ở Nam Kì, được lập năm 1923. Tuy nhiên Đảng này không có hệ thống tổ chức, không Điều lệ và không cán bộ. Những người cầm đầu đảng chủ yếu là các trí thức tư sản, địa chủ và công chức cao cấp như Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền… Với tư cách là lãnh tụ của đảng, Bùi Quang Chiêu nêu ra 3 yêu cầu về chính trị là tự do tư tưởng, tự do viết báo bằng tiếng mẹ đẻ, tự do đi lại và hội họp. Hoạt động của Đảng Lập hiến thường hướng vào việc đòi tham gia vào bộ máy chính quyền(Hội đồng thuộc địa, Hội đồng thành phố…), xin nhập quốc tịch Pháp… Năm 1925, Đảng Lập hiến đưa Dân Nguyện cho Toàn quyền Va-ren, nhằm đòi các quyền tự do dân chủ. Nhưng bọn thực dân xảo quyệt, một mặt bố thí một ít quyền lợi để mua chuộc họ, mặt khác vẫn cử người theo dõi để tìm cách đả phá chia rẽ họ với đông đảo nhân dân.</p>
<p>Ngoài Đảng Lập hiến trong Nam, còn có các nhóm Nam Phong của Phạm Quỳnh, nhóm Trung Bắc tân văn của Nguyễn Văn Vĩnh ở ngoài Bắc. Nhóm Phạm Quỳnh nêu lên thuyết “quân chủ lập hiến”, còn nhóm Nguyễn Văn Vĩnh lại đề cao tư tưởng “trực trị” kiểu Canada trong đế quốc Anh…</p>
<p>Nói chung, giai cấp tư sản VN sau Chiến tranh TG1 đã có những cố gắng nhất định trong cuộc đấu tranh chống sự cạnh tranh chèn ép của tư sản nước ngoài. Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh này chỉ nhằm thoả mãn các yêu cầu tối thiểu về quyền tự do dân chủ, quyền bình đẳng trong kinh tế và hoạt động chính trị với tư bản Pháp.</p>
<p><strong>V- Cao trào yêu nước và đòi tự do dân chủ ở trong nước.</strong></p>
<p>Chịu tác động của trào lưu tư tưởng mới thông qua các hoạt động của NAQ và đông đảo Việt kiều yêu nước ở Pháp và Trung Quốc, phong trào dân tộc VN sau Chiến tranh TG1 bắt đầu sôi nổi và nhanh chóng chuyển mình sang một giai đoạn mới. Phong trào bắt đầu dấy lên từ năm 1923, rồi phát triển lên tới đỉnh cao vào những năm 1925-1926.</p>
<p>Mở đầu cho phong trào đòi tự do dân chủ là các hoạt động tuyên truyền cách mạng của một số tờ báo tiến bộ ở trong Nam như: Chuông Rạn(La Cloche Fêlée) của Nguyễn An Ninh, tờ An Nam(L’ Annam) của Phạm Văn Trường được in bằng tiếng Pháp. Hai tờ báo An Nam trẻ(Jeune Annam) và Người Nhà quê(Le Nhaque) đã trực tiếp đả kích chế độ thực dân phong kiến, đồng thời bóc trần chủ nghĩa cải lương phản bội lợi ích dân tộc của tầng lớp địa chủ và tư sản thượng lưu. Thêm vào đó, ngay cả các tờ báo của một số người Pháp tiến bộ như Đông Dương(L’ Indochine) của luật sư Monin, tờ Tiếng nói tự do(La Voix Libre) của giáo sư Ganobsky cũng đã lên tiếng tố cáo những hành vi tàn bạo của bọn thực dân đương thời.</p>
<p>Phong trào yêu nước bắt đầu từ trong Nam rồi lan nhanh ra ngoài Bắc và phát triển thành phong trào có tính chất toàn quốc, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Từ trong phong trào yêu nước sôi nổi này đã xuất hiện các tổ chức chính trị của thanh niên trí thức, tiêu biểu là Hội Phục Việt, Đảng Thanh Niên. Được sự tuyên truyền, tổ chức của các đảng này, phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân càng bùng lên mạnh mẽ, trong đó nổi bật nhất là phong trào đòi thả Phan Bội Châu và lễ tang Phan Châu Trinh.</p>
<p><em>1- Phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu(1925)</em></p>
<p>Sau khi bắt được Phan Bội Châu 6/1925, thực dân Pháp đưa ông từ Trung Quốc về Hải Phòng, rồi bí mật đưa về giam ở nhà tù Hoả Lò(Hà Nội) dưới một cái tên khác. Trên đường bị giải về nước, Phan Bội Châu đã tìm cách gửi thư cho một người quen là Lâm Lượng Sinh, chủ bút tờ Binh sự tạp chí tại Hàng Châu(Trung Quốc). Ít lâu sau, nhiều tờ báo tiến bộ ở Trung Quốc đã đăng tin Phan Bội Châu bị bắt và kịch liệt công kích hành động bắt người trắng trợn của thực dân Pháp, vi phạm quy chế ngoại giao giữa hai nước. Ở VN, một tờ báo của Pháp(Tin tức Hải Phòng- Le Courrier de Haiphong)cũng đăng tải tin này. Chính vì vậy, mặc dù thực dân Pháp cố tình bưng bít, tin Phan Bội Châu bị bắt đã dần dần lan truyền rộng rãi trong nhân dân.</p>
<p>Việc Phan Bội Châu, một nhà yêu nước lớn của VN bị bắt đã làm chấn động dư luận trong và ngoài nước. Tại Bắc Kì, chi hội Phục Việt do Tôn Quang Phiệt đứng đầu đã rải truyền đơn kêu gọi nhân dân đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu. Khi Phan Bội Châu được đưa ra xét xử công khai ở Toà Đại hình Hà Nội và bị kết án khổ sai chung than thì làn sóng phản đối lại bùng lên trong cả nước. Nhiều điện văn được gửi tới Toàn quyền Va-ren đòi trả lại tự do cho Phan Bội Châu. Khi Va-ren ra tới Hà Nội, hang ngàn người, nhất là thanh niên, sinh viên, học sinh, đã xuống đường biểu tình, giương cao biểu ngữ, phân phát truyền đơn yêu cầu nhà đương cục phải thả Phan Bội Châu. Các tờ báo ở cả VN và Pháp đều đưa tin khá đầy đủ về vụ án Phan Bội Châu. Có những tờ đơn kháng cáo còn được gửi đến tận Hội Quốc Liên, Toà án Quốc tế La-Hay(La Haye), Nghị viện Pháp đòi huỷ bỏ bản án cho Phan Bội Châu.</p>
<p>Trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, cuối cùng thực dân Pháp buộc phải ân xá cho cụ Phan và đưa cụ về “an trí” tại Huế dưới sự kiểm soát ngày đêm của bọn mật thám. Từ đó, Phan Bội Châu phải sống những năm tháng cuối cùng trong cuộc đời của một người tù bị giam lỏng, cách biệt với thực tiễn cách mạng bên ngoài. Cụ đã trút hơi thở cuối cùng tại đó vào ngày 29/10/1940 trong niềm tiếc thương vô hạn của đồng bào cả nước.</p>
<p><em>2- Đám tang Phan Châu Trinh(1926)</em></p>
<p>Từ sau hai cuộc nói chuyện với nhân dân thành phố Sài Gòn vào cuối tháng 11/1925, Phan Châu Trinh lâm bệnh nặng. Bốn tháng sau, 24/3/1926, ông mất tại Sài Gòn. Cũng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cũng là một nhà yêu nước nhiệt thành. Ông là nhà dân chủ lớn và tiêu biểu nhất ở nước ta đầu thế kỷ XX. Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với một giai đoạn sôi động của phong trào GPDT. Đồng bào, đồng chí vẫn luôn kính trọng, khâm phụ ý chí và tình cảm yêu nước của ông, Vì vậy, khi được tin ông mất, nhân dân trong cả nước đã ngậm ngùi thương tiếc, tổ chức lễ truy điệu ở khắp nơi.</p>
<p>Tại Sài Gòn, đám tang Phan Châu Trinh được tổ chức trọng thể với các nghi lễ của một quốc tang. Một Hội đồng tang lễ gồm 16 người được thành lập bao gồm đại diện của Đảng Lập hiến và Đảng Thanh niên. Đông đảo học sinh, sinh viên, trí thức và lao động đã đến đưa tang vĩnh biệt nhà ái quốc. Đám tang Phan Châu Trinh ở Sài Gòn đã thu hút gần 14 vạn người tham gia.</p>
<p>Tại Huế, trong buổi lễ truy điệu cụ Phan, cũng có tới hang trăm người tham dự, chủ tế là Phan Bội Châu. Trong bài văn tế, Phan Bội Châu đã viết với một tình cảm chân thành, thắm thiết nghĩa tình anh em đồng chí.</p>
<p>Không chỉ ở Huế, mà trên khắp mọi miền đất nước, từ trong Nam ra ngoài Bắc, từ trường học đến xưởng thợ, đâu đâu cũng tổ chức truy điệu và để tang Phan Châu Trinh. Hoảng sợ trước sự phát triển rầm rộ của phong trào, thực dân Pháp đã tìm cách phản công lại. Chúng ra lệnh cấm tổ chức lễ truy điệu Phan Châu Trinh trong các nhà trường. Học sinh liền bãi khoá, bỏ học để phản đối. Nhiều cuộc bãi công, bãi thị cũng nổ ra. Rõ rang, đám tang Phan Châu Trinh đã trở thành một dịp để quần chúng nhân dân thể hiện tinh thần yêu nước và biểu dương lực lượng, đòi các quyền tự do dân chủ.</p>
<p><em>3- Đón tiếp Bùi Quang Chiêu và đấu tranh đòi thả Nguyễn An Ninh.</em></p>
<p>Bùi Quang Chiêu là một kỹ sư canh nông, lãnh tụ Đảng Lập hiến, một đảng đại diện cho quyền lợi và quan điểm chính trị của các tập đoàn đại địa chủ và tư sản mại bản ở Nam Kì. Năm 1925, ông sang Pháp để vận động chính giới Pháp ban hành các quyền tự do dân chủ cho Đông Dương.</p>
<p>Cuộc vận động đã không đạt kết quả. Bùi Quang Chiêu về nước, cập cảng Sài Gòn chiều 24/3/1926. Nhân dịp này, Đảng Thanh Niên chủ trương tổ chức cuộc đón tiếp Bùi Quang Chiêu, rồi phát động thành một cuộc biểu dương lực lượng của quần chúng nhân dân đòi các quyền tự do dân chủ, chĩa mũi nhọn vào bọn thực dân phản động nhất lúc bấy giờ, đứng đầu là tên thực dân Utơrây(Outrey). Cuộc biểu tình đã thu hút hang vạn người tham gia. Trước sức mạnh xuống đường của quần chúng, Đảng Lập hiến và Bùi Quang Chiêu rất hoảng sợ, đã thoả hiệp với Pháp. Trong bữa tiệc chiêu đãi tối hôm đó, Bùi Quang Chiêu tuyên bố trung thành với chủ nghĩa Pháp-Việt đuề huề và phản đối bạo động. Biết rõ ý đồ phản bội của Bùi Quang Chiêu, quần chúng, nhất là thanh niên học sinh, đã chuyển sang đả đảo Bùi Quang Chiêu, đả đảo chủ nghĩa Pháp-Việt đuề huề của Đảng Lập hiến.</p>
<p>Cùng ngày Bùi Quang Chiêu về nước, lại xảy ra sự kiện bắt giam Nguyễn An Ninh, một nhà báo có uy tín lớn trong giới thanh niên và trí thức lúc bấy giờ. Nguyễn An Ninh tốt nghiệp đại học ngành luật ở Pháp, về nước 1925, nhưng không chịu hợp tác với chính quyền Pháp. Không những thế, ông còn dùng báo chí để đả kích chế độ thực dân ở Đông Dương. Vì vậy, Nguyễn An Ninh đã bị thực dân Pháp bắt, kết án 20 năm tù. Trước tình hình đó, Đảng Thanh Niên đã phát truyền đơn kêu gọi nhân dân đấu tranh đòi thả Nguyễn An Ninh. Một cuộc Tổng đình công đã được dự định tổ chức ở khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn. Tại một vài nơi như Ngân hàng Đông Dương, hãng cao su Lápbê(Labbé), công nhân và viên chức đã nghỉ việc để phản đối chính sách của Pháp. Để đối phó lại, Pháp ra tay đàn áp những người đấu tranh, ngăn ngừa cuộc tổng đình công và tiến hành bắt bớ nhiều đảng viên Thanh Niên là lực lượng lãnh đạo và tổ chức các cuộc đấu tranh của quần chúng. Do bị đàn áp dữ dội, khí thế đấu tranh của quần chúng bị xẹp xuống, rồi lắng dần.</p>
<p><em>4- Phong trào văn hoá tiến bộ</em></p>
<p>Trong những năm thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, cùng với sự mở mang, phát triển của các đô thị, thì các phương tiện, cơ sở in ấn, xuất bản cũng xuất hiện khá nhanh; các tầng lớp nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ ngày càng đông đảo hơn so với trước.</p>
<p>Trong cao trào đòi tự do dân chủ, nhiều trí thức tiến bộ đã trở thành người khởi xướng, tổ chức và lãnh đạo các cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân. Họ dùng báo chí làm công cụ đấu tranh, đồng thời để bộc lộ các quan điểm chính trị của mình. Vì vậy, sau những năm 20, hoạt động báo chí, văn hoá đã diễn ra khá sôi nổi trên cả nước.</p>
<p>Ở Nam Kì, một số trí thức chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản đã lên tiếng phản đối những tên quan cai trị tàn ác và đòi nhà cầm quyền phải thi hành các cải cách dân chủ cho nhân dân. Họ đứng ra xuất bản một số tờ báo tiếng Pháp, tiêu biểu như tờ “La Tribune Indigène” (Diễn đàn bản xứ) của Nguyễn Phú Khai-Bùi Quang Chiêu; “La Tribune Indochinoise” (Diễn đàn Đông Dương) và “L’ Écho Annamite” (Tiếng vang Annam) của Đảng Lập hiến.</p>
<p>Khác với tư tưởng quốc gia cải lương của các tờ báo trên, hai tờ báo “Chuông rạn”(La Cloche Fêlée) của Nguyễn An Ninh và “An Nam”(L’ Annam) của Phan Văn Trường đã kịch liệt đả phá chế độ thực dân, công khai chống lại chủ nghĩa Pháp-Việt đuề huề. Ngoài ra, báo còn trích đăng một số bài trên báo “Nhân đạo” của Đảng Cộng sản Pháp, giới thiệu những tài liệu có lien quan đến Cách mạng tháng Mười Nga và Chủ nghĩa xã hội. Cùng với khuynh hướng này, còn có các tờ “Jeune Annam”(An Nam trẻ) và “Le Nhaque”(Người nhà quê) của Nguyễn Khánh Toàn.</p>
<p>Bên cạnh các tờ báo in bằng tiếng Pháp, còn xuất hiện nhiều tờ báo tiếng Việt, như: Thực nghiệp dân báo, Hữu Thanh của Tản Đà-Nguyễn Khắc Hiếu ở Hà Nội; Tiếng Dân của Huỳnh Thúc Kháng ở Huế; Pháp-Việt nhất gia của Trần Huy Liệu-Lê Thanh Lực ở Sài Gòn.</p>
<p>Các tờ báo trên đều phản ánh nguyện vọng về tự do dân chủ của quần chúng, tuyên truyền tư tưởng, văn hoá tiến bộ, kịch liệt chống lại chủ nghĩa Pháp-Việt đuề huề.</p>
<p>Cùng với các hoạt động báo chí, một số trí thức trẻ còn thành lập các đại lí hoặc cơ sở xuất bản, mua bán các tài liệu, sách báo có tư tưởng yêu nước. Tiêu biểu như Nam Đồng thư xã của Phạm Tuấn Tài-Phạm Tuấn Lâm ở Hà Nội; Quan Hải tùng thư của Đào Duy Anh ở Huế; Cường học thư xã của Trần Huy Liệu ở Sài Gòn.</p>
<p>Các tác phẩm nổi tiếng như Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc, Tiếng quốc kêu của Việt Quyên, Một bầu tâm sự của Trần Huy Liệu… đã phần nào phản ánh được nguyện vọng tự do, dân chủ, nhân đạo, yêu nước của nhân dân ta, và được đông đảo thanh niên hâm mộ tìm đọc.</p>
<p>Với những hoạt động nói trên, phong trào văn hoá tiến bộ đã trở thành một chất men, một động lực quan trọng của cao trào đấu tranh yêu nước, đòi tự do dân chủ những năm 1925-1926 ở nước ta.</p>
<p><strong>VI- Phong trào công nhân</strong></p>
<p>Sau Chiến tranh TG1, điều kiện sinh hoạt vật chất của công nhân VN vẫn hết sức thấp kém. Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai chỉ chú ý mở rộng vốn và quy mô sản xuất, không tăng cường các phương tiện máy móc và không cải thiện các điều kiện làm việc cho công nhân. Tình trạng ăn, ở của công nhân, nhất là ở các đồn điền, hầm mỏ rất thấp kém. Thêm vào đó, thời gian làm việc thường kéo dài từ 9 – 10 giờ/ngày. Có nơi như khu dệt Nam Định, ngày công của công nhân được quy định bình quân là 12h/ngày. Công nhân không được hưởng bất kì một chế độ bảo hiểm thân thể nào. Tiền lương của công nhân rất thấp. Chẳng hạn, lương công nhật của công nhân dệt ở Nam Định từ 0,25-0,35 đồng; ở mỏ than Hồng Gai từ 0,3-0,4 đồng. Bình quân thu nhập hang tháng của một công nhân được khoảng 10 đồng. Trong khi đó, lương tháng của một công chức(thư kí, kế toán) từ 30-40 đồng. Ngoài đồng lương rẻ mạt, điều kiện lao động cực khổ, công nhân còn bị đánh đập, ngược đãi như nô lệ. Tình hình đó dẫn tới cuộc sống cùng quẫn, thậm chí dẫn đến cái chết của nhiều công nhân. Chính cảnh sống cùng cực ấy đã thúc đẩy công nhân hăng hái đứng lên đấu tranh chống áp bức bóc lột và cường quyền.</p>
<p>Sau Chiến tranh TG1, thông qua hoạt động của lãnh tụ NAQ và nhiều người VN yêu nước khác, các sách báo cách mạng bắt đầu được truyền bá vào trong nước. Các tờ báo Người cùng khổ, Việt Nam hồn… cũng như các tác phẩm của chủ nghĩa Mác-Lênin đã lọt qua lưới sắt của thực dân Pháp, đến với giai cấp công nhân và nhân dân VN. Cũng vào thời kì sau Chiến tranh TG1, nhiều thuỷ thủ, lính thợ VN được hồi hương, mang theo các hiểu biết mới, tư tưởng mới và cả các kinh nghiệm đấu tranh của những người anh em đồng chí ở châu Âu về nước. Nhờ vậy giai cấp công nhân VN mới bắt đầu biết tới Cách mạng tháng Mười, biết đến Lênin-lãnh tụ của cách mạng thế giới, trên cơ sở đó dần dần tiếp thu ánh sang của chủ nghĩa cộng sản. Ánh sang cách mạng ấy đã thôi thúc, lôi cuốn công nhân VN vùng dậy đấu tranh, trước hết là chĩa mũi nhọn vào bọn tư bản thực dân Pháp.</p>
<p>Từ Chiến tranh TG1, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân VN phát triển ngày càng rầm rộ, sôi nổi. Hình thức đấu tranh thấp nhất của công nhân là bỏ việc và phá giao kèo. Trong khoảng từ 1919-1925, số công nhân bỏ trốn hoặc phá giao kèo với chủ đã lên tới 4.877 người. Càng ngày, công nhân càng sử dụng các hình thức đấu tranh đặc thù của mình là Bãi Công, mặc dù hình thức đấu tranh này bị ghép vào tội “phá rối trị an” và bị kết án tù. Theo thống kê của chính quyền Pháp, từ 1920-1925 đã nổ ra 25 cuộc bãi công, đó là chưa kể những cuộc lãn công, đưa yêu sách cho chủ, hò reo chống đánh đập…</p>
<p>Năm 1919 nổ ra cuộc bãi công của công nhân thuỷ thủ tàu Sác-nô (Sharnhort) đậu ở cảng Hải Phòng đòi tăng lương và chống việc thực dân Pháp đưa binh lính VN sang đàn áp cách mạng Xi-ri. Năm 1920, trên 200 thuỷ thủ của 5 chiếc tàu Pháp ở cảng Hải Phòng đã bãi công đòi phụ cấp đắt đỏ.</p>
<p>Một sự kiện lớn có ảnh hưởng đến sự phát triển của phong trào công nhân VN, đó là vào năm 1921, Liên đoàn công nhân tàu biển ở Viễn Đông đã được thành lập và phát triển các cơ sở ở Ma-cao, Thượng Hải(Trung Quốc). Một số công nhân, thuỷ thủ VN làm việc trên các hãng tàu của Pháp đã gia nhập Liên đoàn này. Họ đã có nhiều đóng góp trong việc đưa đón cán bộ, vạn chuyển các sách báo cách mạng từ Pháp về trong nước.</p>
<p>Từ năm 1922, phong trào công nhân bắt đầu có nét khởi sắc mới. Đáng chú ý nhất là cuộc bãi công của 600 công nhân thợ nhuộm ở Sài Gòn-Chợ Lớn. NAQ đánh giá cuộc bãi công đó như là “dấu hiệu của thời đại” mới, “lần đầu tiên một phong trào như thế đã nhóm lên ở thuộc địa”. Nét mới đó còn được lộ rõ hơn trong cuộc bãi công của 250 công nhân nhà máy sợi Nam Định tháng 9/1924. Trong bản báo cáo của Đờ Mayna(De Maynard) gửi cấp trên, y viết: “Không còn nghi ngờ gì nữa, bọn cai và thợ chuyên môn… biết rằng bãi công là một vũ khí dũng mãnh trong tay những người làm công”.</p>
<p>Năm 1925, phong trào công nhân đã có sự phát triển nhảy vọt, với việc xuất hiện nhiều cuộc bãi công có quy mô lớn, có tổ chức và lãnh đạo ở một mức độ nhất định. Trong đó điển hình nhất là cuộc bãi công của 1000 công nhân Ba Son(Sài Gòn) vào tháng 8/1025.</p>
<p>Gắn liền với cuộc bãi công này là vai trò tổ chức của Tôn Đức Thắng. Sauk hi tham gia cuộc binh biến ở Hắc Hải, năm 1920, Tôn Đức Thắng về nước và xin làm công nhân ở Sài Gòn. Chính trong năm này, ông đã bí mật thành lập tổ chức Công hội đầu tiên ở thành phố Sài Gòn. Năm 1925, Tôn Đức Thắng đã cùng một số công nhân khác đứng ra tổ chức cuộc bãi công ở Ba Son.</p>
<p>Xưởng Ba Son được thành lập từ năm 1864, là cơ sở chuyên đóng và sửa chữa tàu thuỷ vào loại lớn nhất của thực dân Pháp ở VN. Tại đây, công nhân được hưởng một số chế độ ưu đãi hơn các nơi khác, như được hưởng ngày làm 8h, lương cao, công việc cũng ít vất vả hơn; vào kì lĩnh lương hàng tháng, công nhân được nghỉ việc trước 30 phút. Nhưng từ khi viên đốc công mới tên là Cuôcxian(Courtial) sang làm việc, lệ nghỉ trước giờ vào ngày lĩnh lương bị bãi bỏ. Đây là cái cớ để những người lãnh đạo vận động công nhân đứng dậy đấu tranh.</p>
<p>Mục đích của cuộc bãi công Ba Son là nhằm giữ lại chiếc tàu Misơlê (Michelet) được đưa đến sửa chữa ở xưởng Ba Son, không cho Pháp chuyên chở binh lính sáng đàn áp cách mạng Trung Quốc. Ngày 4/8/1925, cuộc bãi công bùng nổ với yêu sách “đòi tăng lương 20%, đòi thợ bị đuổi việc trở lại làm việc, đòi giữ lệ nghỉ trước nửa giờ vào ngày lĩnh lương”. Để đảm bảo thắng lợi, Ban lãnh đạo Công hội đã vận động công nhân viên chức các nhà máy, công sở trong thành phố ủng hộ công nhân Ba Son. Sau 8 ngày đấu tranh và nghỉ việc, cuộc bãi công Ba Son đã giành được thắng lợi. Kết quả là các nhà chức trách Pháp đã phải chấp nhận tăng lương 10% cho công nhân, thoả mãn các yêu sách khác, đồng thời trả lương cả những ngày bãi công. Ngày 12/8/1925, công nhân trở lại làm việc, nhưng vẫn tiếp tục lãn công, khiến cho việc sửa chữa chiếc tàu Misơlê đến mãi 28/11/1925 mới hoàn thành, và khi nó lên đường sang Trung Quốc thì cuộc đấu tranh của công nhân và thuỷ thủ bên đó đã kết thúc thắng lợi.</p>
<p>Rõ ràng, cuộc bãi công Ba Son năm 1925 là cuộc bãi công đầu tiên có tổ chức và có lãnh đạo. Cuộc bãi công này không chỉ nhằm vào mục tiêu kinh tế, mà cao hơn nữa còn nhằm vào mục đích chính trị, thể hiện tình đoàn kết giai cấp, đoàn kết quốc tế của công nhân VN với những người anh Trung Quốc. Bằng các việc làm của mình, cuộc bãi công Ba Son đã cắm một mốc rất quan trọng trong phong trào công nhân – giai đoạn công nhân VN bắt đầu đi vào đấu tranh có tổ chức và có mục đích chính trị rõ ràng.</p>
<p>(<em>Xem tiếp</em> <a class="alignright" title="Chương IX" href="http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/11/ch%C6%B0%C6%A1ng-ix-phong-trao-dan-t%E1%BB%99c-%E1%BB%9F-vi%E1%BB%87t-nam-t%E1%BB%AB-1925-d%E1%BA%BFn-1930/" target="_self">Chương IX</a>)</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/chevietnam.wordpress.com/187/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/chevietnam.wordpress.com/187/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/chevietnam.wordpress.com/187/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/chevietnam.wordpress.com/187/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/chevietnam.wordpress.com/187/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/chevietnam.wordpress.com/187/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/chevietnam.wordpress.com/187/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/chevietnam.wordpress.com/187/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/chevietnam.wordpress.com/187/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/chevietnam.wordpress.com/187/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/chevietnam.wordpress.com/187/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/chevietnam.wordpress.com/187/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/chevietnam.wordpress.com/187/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/chevietnam.wordpress.com/187/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=187&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/11/ch%c6%b0%c6%a1ng-viii-b%c6%b0%e1%bb%9bc-phat-tri%e1%bb%83n-m%e1%bb%9bi-c%e1%bb%a7a-phong-trao-dan-t%e1%bb%99c-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam-sau-chi%e1%ba%bfn-tranh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/bccd66a218a0b2086db33dbc931d297c?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">chevietnam</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Chương VII: Tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ Nhất</title>
		<link>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/11/ch%c6%b0%c6%a1ng-vii-tinh-hinh-kinh-t%e1%ba%bf-xa-h%e1%bb%99i-vi%e1%bb%87t-nam-sau-chi%e1%ba%bfn-tranh-th%e1%ba%bf-gi%e1%bb%9bi-th%e1%bb%a9-nh%e1%ba%a5t/</link>
		<comments>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/11/ch%c6%b0%c6%a1ng-vii-tinh-hinh-kinh-t%e1%ba%bf-xa-h%e1%bb%99i-vi%e1%bb%87t-nam-sau-chi%e1%ba%bfn-tranh-th%e1%ba%bf-gi%e1%bb%9bi-th%e1%bb%a9-nh%e1%ba%a5t/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 11 Jul 2009 04:57:49 +0000</pubDate>
		<dc:creator>chevietnam</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thông Sử Việt theo quan điểm của các Sử gia XHCN]]></category>
		<category><![CDATA[Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch sử Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[sự chuyển biến của kinh tế - xã hội]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://chevietnam.wordpress.com/?p=185</guid>
		<description><![CDATA[I- Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp và những biến đổi trong nền kinh tế Việt Nam 1- Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp - Sau chiến tranh TG1, Pháp tuy thắng trận, nhưng phải chịu nhiều tổn thất về kinh tế-tài chính. [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=185&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>I- Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp và những biến đổi trong nền kinh tế Việt Nam</strong></p>
<p><em>1- Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp</em></p>
<p>- Sau chiến tranh TG1, Pháp tuy thắng trận, nhưng phải chịu nhiều tổn thất về kinh tế-tài chính. Chiến tranh phá huỷ nhiều nhà máy, đường sá, cầu cống, làng mạc của Pháp; nhiều ngành sản xuất công nghiệp bị đình trệ; thương mại giảm sút; nước Pháp trở thành con nợ lớn, nhất là của Mĩ, năm 1920 nợ 300 tỉ Phơ-răng. Chiến tranh tiêu huỷ hang triệu Phơ-răng đầu tư của Pháp ở nước ngoài, điển hình cuộc Cách mạng tháng Mười Nga đã làm mất thị trường đầu tư lớn nhất của Pháp tại châu Âu. Các vấn đề lạm phát, tăng giá và đời sống khó khăn của các tầng lớp lao động đã làm trỗi dậy các phong trào đấu tranh chống chính phủ.</p>
<p>- Trong hoàn cảnh trên, để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế, chính phủ Pháp một mặt ra sức khôi phục kinh tế trong nước, một mặt tăng cường đầu tư, khai thác thuộc địa, trước hết và chủ yếu tại Đông Dương và châu Phi.</p>
<p>- Về thời gian, đợt khai thác thuộc địa lần 2 của thực dân Pháp chính thức được triển khai từ sau Đại chiến TG1 và kéo dài đến trước cuộc khủng hoảng kinh tế TG 1929-1933, tức là trong khoảng 10 năm.</p>
<p>- Tốc độ và quy mô đầu tư của thực dân Pháp trong đợt khai thác thuộc địa lần 2 ồ ạt và rộng hơn nhiều lần so với đợt khai thác lần 1. Số vốn đầu tư tăng nhanh qua các năm; riêng năm 1920 đầu tư đạt 225 tỉ Phơ-răng. Nếu giai đoạn 1888-1918 Pháp mới đầu tư khoảng 1 tỉ Phơ-răng vào toàn Đông Dương(chủ yếu ở VN), thì chỉ trong giai đoạn 1924-1929 số vốn đầu tư đã lên đến 4.000 triệu Phơ-răng. Từ 1931 dù bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế TG, tư bản Pháp vẫn tiếp tục đầu tư vốn vào VN.</p>
<p>- Về hướng(lĩnh vực) đầu tư trong đợt KTTĐL2 cũng khác với KTTĐL1. Nếu đợt KTTĐL1 tư bản Pháp chủ yếu đầu tư vào khai mỏ và giao thông vận tải; thì KTTĐL2 tư bản Pháp đổ xô vào kinh doanh nông nghiệp, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh khai thác khoáng sản.</p>
<p>=&gt; Chính sách tăng cường đầu tư khai thác thuộc địa trên đây của thực dân Pháp đã làm biến đổi mạnh mẽ cơ cấu và trình độ phát triển của các ngành kinh tế VN sau CTTG thứ nhất.</p>
<p><em>2- Những biến đổi trong nền kinh tế Việt Nam</em></p>
<p>- Nông nghiệp: là ngành được TDF chú trọng đầu tư khai thác hơn tất cả các ngành khác trong đợt KTTĐL2. Nếu 1924 thực dân Pháp đầu tư 52 triệu Phơ-răng thì đến 1927 đã đầu tư 400 triệu Phơ-răng, ra sức cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền. Đến 1930, tổng số RĐ TDF chiếm đoạt lên đến 1,2 triệu ha.</p>
<p>Hầu hết đồn điền đều chủ yếu trồng lúa và 1 số loại cây công nghiệp như chè, cà phê, cao su… Tại các đồn điền trồng lúa, phương thức canh tác và bóc lột của địa chủ Pháp-Việt vẫn chủ yếu theo kiểu phong kiến(cho mướn RĐ-thu tô thuế), các biện pháp kỹ thuật ít được áp dụng, năng suất lúa rất thấp so với các nước(11-12 tạ/năm; Xiêm 18 tạ/năm; Malaixia 21 tạ/năm)</p>
<p>Do nhu cầu thị trường TG sau chiến tranh, nhất là Pháp, giá cao su tăng lên nhanh chóng, do đó các nhà tư bản Pháp đổ xô vào kiếm lời trong kinh doanh cao su. Chỉ tính 2 năm 1927-1928, các đồn điền cao su được đầu tư 600 triệu Phơ-răng. Diện tích đồn điền cao su mở rộng không ngừng: năm 1919, diện tích là 15.850ha; 1925 là 18.000ha; 1930 là 78.620ha. Các hoạt động kinh doanh cao su tập trung chủ yếu quanh 3 công ti lớn là: Công ti đất đỏ, Công ty trồng cây nhiệt đới, Công ty Michelin. Sản lượng mủ cao su ngày càng tăng: năm 1919 là 3.500 tấn; 1924 là 6.796 tấn; năm 1929, riêng số cao su xuất khẩu là 10.000 tấn.</p>
<p>Bên cạnh đó, nhiều đồn điền chè, cà phê cũng được xây dựng ngày 1 nhiều và mở rộng diện tích, nhất là thời gian sau 1924. Đến 1930, TDF có khoảng 10.000ha cà phê, 3.000ha chè, ngoài ra còn có hang nghìn hecta dùng trồng mía, bong, hồ tiêu…</p>
<p>Tuy nhiên, tốc độ phát triển trung bình của nông nghiệp VN thời này vẫn thấp, khoảng 1,4%/năm; riêng Nam Kỳ, có tốc độ phát triển cao hơn, khoảng 8,5%/năm trong giai đoạn những năm 20. Chỉ tính từ 1926-1930, các tỉnh Nam Kỳ đã thu hoạch được 3.360 nghìn tấn lúa, trong đó một phần được xuất khẩu ra thế giới. Những năm 20, lúa là mặt hang xuất khẩu chủ lực, chiếm khoảng 60-70% giá trị(năm 1880 xuất 240.000 tấn gạo; 1928 xuất 1.700.000 tấn gạo), VN là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, sau Malaixia.</p>
<p>- Công nghiệp: cũng được tăng cường vốn đầu tư và mở rộng quy mô sản xuất. Tư bản Pháp tiếp tục gia tăng tốc độ đầu tư khai mỏ, nhất là mỏ than(năm 1911 diện tích mỏ là 6 vạn ha; năm 1930 là 43 vạn ha, gấp 7 lần).     Những năm 20, nhiều công ti khai mỏ mới được thành lập như: Công ti than Hạ Long, Đồng Đăng, Tuyên Quang, Đông Triều, Công ti than và mỏ kim khí Đông Dương… Sản lượng than khai thác tăng qua các năm: năm 1919 đạt 665.000 tấn; năm 1929 đạt 1.972.000 tấn, gấp 3 lần.</p>
<p>Bên cạnh than, các mỏ thiếc, kẽm, sắt… đều được bổ sung thêm vốn, nhân công và đẩy mạnh tiến độ khai thác: so với trước chiến tranh TG1, sản lượng thiếc tặng gấp 3 lần; kẽm 1,5 lần; vonfram 1,2 lần. Riêng năm 1928, tư bản Pháp đã khai thác được ở VN gần 2 triệu tấn than, 21.000 tấn kẽm, 250 tấn chì, 105 tấn vonfram, 20 tấn phốt phát, trên 150 nghìn tấn muối.</p>
<p>Tổng giá trị các loại quặng khoáng sản đã khai thác từ 1923 – 1929 tăng gấp 2 lần, đạt 18,6 triệu đồng(tương đương trên 200 triệu Phơ-răng). Số quặng khai thác được chủ yếu để xuất khẩu(năm 1929 Pháp xuất khẩu 1,3 triệu tấn than, chiếm 65% sản lượng khai thác, tăng gấp 2 lần 1913).</p>
<p>Để phục vụ ngành khai khoáng, một số cơ sở chế biến quặng, đúc kẽm, thiếc… đã được thành lập tại Quảng Yên, Hải Phòng, Cao Bằng… để sơ chế khoáng sản để xuất khẩu hoặc phục vụ công nghiệp chính quốc.</p>
<p>Công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến thời kỳ này cũng khá phát đạt, như: xi măng Hải Phòng; các nhà máy tơ-sợi-dệt ở Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Sài Gòn; các nhà máy xay xát gạo, chế biến rượu, làm đường ở Hải Dương, Hà Nội, Nam Định, Chợ Lớn… đều được nâng cấp và mở rộng quy mô sản xuất.</p>
<p>Tuy nhiên, một ngành công nghiệp nặng(luyện kim, cơ khí)với đầy đủ tính chất của nó, chưa thật sự ra đời. Công nghiệp VN vẫn là 1 nền công nghiệp dịch vụ và phục vụ(chủ yếu sản xuất hang tiêu dùng và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chính quốc)nên chịu lệ thuộc nặng nề vào thực dân Pháp và thị trường nước ngoài.</p>
<p>Giao thông vận tải tiếp tục được tăng cường đầu tư vốn và các trang thiết bị kỹ thuật để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa. Chính quyền thực dân cho xây dựng một số tuyến đường sắt xuyên Đông Dương như: Vinh-Đông Hà, Đồng Đăng-Na Sầm. Đến 1931, Pháp xây dựng được 2389 km đường sắt trên lãnh thổ VN. Đường bộ, bao gồm đường liên tỉnh và nội tỉnh, cũng được đẩy nhanh tiến độ xây dựng, cho đến 1930 đạt gần 15.000km, trong đó đường nhựa thì mới chỉ đạt vài nghìn km. Các cảng Hải Phòng, Sài Gòn được nạo vét và củng cố nhà kho, bến bãi; một số cảng mới như Hòn Gai, Bến Thuỷ… được xúc tiến xây dựng. Mạng lưới giao thông thuỷ trên các sông Hồng, Cửu Long tiếp tục được khai thác. Nhìn chung, những năm 30-40 của thế kỷ XX, Đông Dương là một trong những nơi có hệ thống giao thông tốt nhất ở Đông Nam Á.</p>
<p>- Thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương, có bước tiến rõ rệt so với trước. Sau các đạo luật thuế quan vào các năm 1887, 1892, 1910, 1913, năm 1928 chính quyền thực dân ra thêm một nghị định mới nhằm đánh thuế nặng vào các hàng của nước ngoài, nhất là hàng Trung Quốc và Nhật Bản, qua đó thực hiện độc quyền thương mại, giúp hang hoá Pháp tràn ngập thị trường VN(trước thế chiến I hàng Pháp chiếm 37%, những năm 1929-1930 hàng Pháp chiếm đến 63% tổng số hang nhập khẩu). Cán cân thương mại thời kỳ này khá ổn định, thậm chí có xu hướng xuất siêu(trong giai đoạn 1928-1932 chỉ có 1 năm nhập siêu còn lại 4 năm xuất siêu, riêng 1928 giá trị xuất siêu đạt trên 50 triệu đồng). Tổng giá trị hang hoá xuất nhập khẩu tăng nhanh(năm 1920 giá trị xuất đạt 318 triệu, năm 1928 xuất đạt 550 triệu đồng). VN được tăng cường mở rộng quan hệ buôn bán với các nước Anh, Đức, Mĩ, Italia và một số nước trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á như Thái Lan, Trung Quốc, Xinhgapo, Hồng Kông. Tuy nhiên bạn hang chính của VN vẫn là Pháp(giai đoạn 1911-1920 hàng Pháp và các thuộc địa của Pháp chiếm 29,6%; giai đoạn 1921-1930 chiếm 43,2%). Nhìn chung trong 1 giai đoạn khá dài, VN và Đông Dương đóng vai trò “người điều chỉnh” thương mại chính quốc. Hàng hoá VN bán ra ngoài chủ yếu gồm gạo, khoáng sản, chè, cao su, cà phê, hạt tiêu(năm 1932, riêng giá trị gạo chiếm trên 60% tổng giá trị xuất khẩu của VN). Hàng hoá Pháp sang VN gồm hàng tiêu dùng và phục vụ sinh hoạt như: vải, bong sợi, giày dép, rượu, thuốc lá, ôtô; các thiết bị máy móc phục vụ phát triển công nghiệp hầu như không được nhập vào(ví dụ năm 1929, riêng giá trị rượu nhập vào VN là 63 triệu Phơ-răng, trong khi đó giá trị máy nông nghiệp nhập chỉ là 2,4 triệu).</p>
<p>Nội thương cũng phát triển hơn so với trước; quan hệ giữa các tỉnh, các miền của VN cũng được đẩy mạnh. Người Pháp vẫn độc quyền mua-bán về rượu, muối và thuốc phiện. Nhìn chung các hoạt động mua bán lớn của VN đều nằm trong tay người Pháp và Hoa Kiều.</p>
<p>- Ngân hang Đông Dương nắm vai trò tổ chức và chi phối các hoạt động kinh tế-tài chính ở VN. Ngoài việc độc quyền phát hành giấy bạc và cho vay lãi, ngân hang Đông Dương còn trực tiếp quản lí và chỉ đạo hoạt động của các chi nhánh ở các ngành, các tỉnh. Giai đoạn 1925-1930 ngân hang Đông Dương phát triển thêm 19 Nông phố Ngân hang ở khắp các tỉnh Bắc, Trung, Nam, qua đó phát triển việc cho vay lãi nặng và can thiệp sâu vào đời sống nông thôn VN.</p>
<p>Đánh giá cuộc khai thác thuộc địa lần 2 của thực dân Pháp ở VN không chỉ dừng lại ở góc độ tăng cường đầu tư vốn và mở rộng quy mô khai thác, mà còn phải đánh giá ở góc độ yếu tố kỹ thuật và nhân tố con người. Tuy nhiên, cuộc khai thác thuộc địa lần 2 của thực dân Pháp chỉ là sự mở rộng, nhân lên của tình trạng sản xuất lạc hậu trong các cơ sở kinh tế; số máy móc và tiến bộ kĩ thuật được áp dụng cực kỳ hạn chế và ít ỏi trong sản xuất.</p>
<p>Do đó, đặc điểm nổi bật của toàn bộ cơ cấu kinh tế VN thời thuộc địa là sự phát triển mất cân đối: nền nông nghiệp nặng nề, cổ hủ, bên cạnh nền công nghiệp mỏng manh, yếu ớt; trong công nghiệp, ngành khai mỏ chiếm phần lớn, các ngành khác như hoá chất, luyện kim, cơ khí, năng lượng… thì hầu như không phát triển.</p>
<p>Tính chất mất cân đối, lệch lạc còn thể hiện qua quan hệ giữa các vùng, miền trong cả nước. Miền Bắc và miền Nam, kinh tế còn ít nhiều phát triển; riêng miền Trung, chỉ trừ một vài chuyển biến có tính chất cục bộ ở Vinh-Bến Thuỷ, Quảng Nam-Đà Nẵng…, còn lại các nơi khác hầu như vẫn nguyên trạng trong nghèo nàn, lạc hậu; các khu vực miền núi hầu như không có chuyển biến gì, người dân vẫn chủ yếu du canh du cư, sống phụ thuộc chủ yếu vào việc tận dụng các sản vật của thiên nhiên.</p>
<p><strong>II- Chính sách chính trị, xã hội và văn hoá của thực dân Pháp sau chiến tranh thế giới thứ nhất.</strong></p>
<p>Những biến đổi của xã hội VN trước hết chịu sự chi phối của quá trình phát triển kinh tế, đồng thời còn trực tiếp chịu ảnh hưởng của các chính sách xã hội do chính quyền thực dân-phong kiến thi hành.</p>
<p><em>1- Chính sách “cải lương hương chính”</em></p>
<p>Nhằm mục đích can thiệp trực tiếp vào các làng, xã, từ năm 1904 thực dân Pháp bắt đầu thực hiện quá trình “cải lương hương chính” với ý đồ đưa tầng lớp tân học lên cầm quyền thay tầng lớp cựu học. Tuy nhiên, từ nghị định đầu tiên vào 27/8/1904 ở Nam Kì, phải mất 17 năm sau, đến 12/8/1921 thực dân Pháp mới ban hành được nghị định tiếp theo để thực hiện trên đất Bắc Kì. Công cuộc cải lương hương chính tiếp tục được thực hiện ở hai miền với các nghị định 25/2/1927 của Thống sứ Bắc Kì và nghị định 30/10/1927 của Toàn quyền Đông Dương.</p>
<p>Chủ trương chung của thực dân Pháp là tiếp tục sử dụng giai cấp địa chủ và tay sai người Việt vào việc cai trị. Các thành phần này ở bên trên chỉ là những kẻ có chức nhưng không có quyền hành gì đáng kể. Bộ phận đắc lực là guồng máy tay sai ở các cấp dưới, chủ yếu làm nhiệm vụ thừa hành mệnh lệnh của cấp trên. Ngoài bộ phận tay sai cũ được suy trì và cải tạo để sử dụng, Pháp tăng cường đào tạo lực lượng mới để bổ sung và củng cố cho bộ máy chính quyền của chúng. Chính sách này có hiệu lực ở mức độ nhất định, còn bộ phận rộng lớn nhất của xã hội VN là các làng, xã thì Pháp khó chi phối hơn. Pháp không thể mở trường đào tạo các lí trưởng, chánh tổng, các làng, xã bị đóng kín. Nhưng đó lại là bộ phận quan trọng bậc nhất trong cấu trúc xã hội VN, vì mỗi làng, xã là 1 tế bào, 1 cấu kiện ghép thành xã hội nông thôn-nông nghiệp VN, nên Pháp càng phải ra sức tìm một con đường, xâm nhập và chi phối các làng, xã.</p>
<p>Về căn bản, các chính sách cải lương hương chính chấp nhận các cơ chế cổ truyền của làng, xã VN, nhưng nó cố gắng nắm lấy bộ phận cầm đầu làng, xã, hương, thôn. Dù có những khó khăn và phản ứng từ các làng xã, nhưng kết quả của quá trình cải lương hương chính là thực dân Pháp đã thành công trong việc can thiệp vào các làng xã thông qua việc “viên chức hoá” các chức dịch, kì hào, kiểm soát về nhân sự, tài chính, đưa các thành phần gắn bó với chế độ thực dân vào chính quyền…</p>
<p>Sau khi đã xây dựng và củng cố được quyền lực của mình trong thực tế, thực dân Pháp tìm cách gạt bỏ vai trò của triều đình phong kiến trong công việc quốc gia. Với bản quy ước ngày 6/11/1925, Pháp đã công khai bãi bỏ thực quyền của giai cấp phong kiến và nắm lấy quyền thống trị cả trên 3 phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Một bộ máy nhà nước của thực dân Pháp vừa trùm lên, vừa chi phối hệ thống chính quyền phong kiến, hình thành.</p>
<p><em>2- Các cuộc cải cách về chính trị-hành chính</em></p>
<p>Trong những năm 20, thực dân Pháp đã tiến hành một số cải cách nhằm đối phó lại những biến động đang diễn ra trong xã hội VN. Mục tiêu của các cuộc cải cách này là mở rộng cơ sở xã hội của thực dân Pháp, nhưng không làm ảnh hưởng tới nền tảng thống trị ở thuộc địa. Xuất phát từ đó, Pháp kiên trì nhượng bộ đối với giai cấp có của, đồng thời tăng cường đàn áp chống lại quần chúng lao động.</p>
<p>Nhằm xoa dịu quần chúng, các Toàn quyền Pháp là Xa-rô, Lông, Va-ren đã tiến hành một số biện pháp như: lập các Viện Dân Biểu Bắc-Trung kì, mở rộng các công sở cho người Việt, lập các ngạch công chức tương đương cho người Pháp và người Việt có bằng cấp ngang nhau, nhưng với các chức vụ và chế độ lương bổng khác nhau. Bộ phận các uỷ viên người Việt trong các Phòng Thương mại và Canh nông của các thành phố lớn cũng được tăng thêm số lượng. Năm 1928, Pháp lập Đại hội đồng kinh tế-tài chính Đông Dương với tư cách là cơ quan tư vấn về kinh tế-tài chính trong Liên bang Đông Dương.</p>
<p>Một trong những biểu hiện khác của chính sách cải cách này là tăng cường số lượng công chức người Việt trong bộ máy hành chính thuộc địa. Để thực hiện mục tiêu đó, Toàn quyền Đông Dương ban hành sắc lệnh ngày 20/6/1921 về việc tăng cường lựa chọn vào bộ máy hành chính những quan lại người Việt, tạo điều kiện để tạo ra đội ngũ cán bộ địa phương người Việt, là lần đầu tiên trong lịch sử xâm lược và thống trị VN, thực dân Pháp chính thức ban hành một quy chế về việc tuyển dụng người Việt vào bộ máy hành chính thuộc địa. Tuy nhiên các cải cách của Toàn quyền Lông đã không đạt được mục đích  vì đã không làm thay đổi căn bản được tình hình, số lượng công chức người Việt vẫn không đáng kể.</p>
<p>Nhìn chung vấn đề xây dựng đội ngũ công chức người Việt trong những năm 20 là một vấn đề được chính quyền thực dân khá coi trọng. Một số nhà hoạt động trong lĩnh vực hành chính của Pháp coi đây như là chìa khoá để giải quyết tất cả các vấn đề khác của chính sách thuộc địa ở VN.</p>
<p>Để tiếp tục giải quyết vấn đề công chức người Việt, nghị định 27/2/1926 đã nêu rõ rằng từ nay tất cả các chức vụ trong cơ quan hành chính Pháp, trừ một số chức vụ cao, sẽ được xếp ngang nhau cho người VN và người Pháp. Tuy nhiên những quy định đó chỉ là trên giấy tờ, còn trong thực tế Toàn quyền Va-ren đã phê chuẩn một khoản gọi là “phụ cấp thuộc địa” cho các quan chức người Pháp, chiếm khoảng 0,7% lương tháng.</p>
<p>Vì vậy, việc cải cách trên không thoả mãn các công chức người Việt, khiến họ công khai nói rằng: “Các công chức VN do nguồn gốc của mình đã không có quyền nhận khoản phụ cấp thuộc địa và như vậy, chính sách nói trên chỉ có mục đích hạ thấp chủng tộc Á châu”.</p>
<p>Tóm lại, chính sách của thực dân Pháp trong những năm 20 là nhằm ve vãn, tranh thủ và lôi kéo một bộ phận rất nhỏ trong giới thương lưu VN, bao gồm một số nhà tư sản, địa chủ và trí thức lớn. Lực lượng này, vì quyền lợi cá nhân đã đứng về phía bọn xâm lược, câu kết với chính quyền thực dân Pháp áp bức bóc lột nhân dân ta. Còn đại đa số các tầng lớp nhân dân thì bị đẩy về bên kia trận tuyến, đối lập với toàn bộ chế độ thực dân.</p>
<p><em>3- Chính sách thuế khoá</em></p>
<p>Sau chiến tranh TG1, cùng với việc dẩy mạnh đầu tư khai thác, thực dân Pháp cũng tăng cường vơ vét , bóc lột nhân dân VN qua con đường thuế má. Các loại thuế trực thu và gián thu tăng lên. Số tiền thuế ngày càng nặng thêm.</p>
<p>Từ 1919-1921, chính quyền thực dân bãi bỏ mức thuế cũ ở Bắc-Trung kì, tiến hành đánh thuế đồng loạt với mức thuế than mới là 2,5 đồng; mức thuế than ở Nam kì tăng từ 5,58 đồng lên 7,5 đồng (năm 1929).</p>
<p>Tổng số tiền thu thuế ở 3 kì giai đoạn 1912- 1929 tăng gấp 3 lần giai đoạn trước. Trong hoàn cảnh bình thường, mức thuế đó đã nặng; trong những lúc đói kém, mất mùa, khủng hoảng kinh tế, mức thuế đó trở thành một gánh nặng khủng khiếp. Tính chung, không kể già trẻ lớn bé gái trai, mỗi người dân VN phải chịu 8 đồng tiền thuế, tương đương 70kg gạo hạng nhất tại thời điểm đó.</p>
<p>Bên cạnh các loại thuế, chính quyền thực dân còn bắt nhân dân VN mua các loại công trái, quốc trái để lấy tiền xây dựng các công trình công cộng hoặc phục vụ mục đích quân sự; không muốn mua cũng bị ép mua. Chỉ tính riêng số công trái phát hành trong những năm khủng hoảng kinh tế cũng vẫn đem về cho chính quyền thực dân khoảng 150 triệu đồng.</p>
<p><em>4- Chia rẽ dân tộc, chủng tộc</em></p>
<p>Chính sách xã hội của thực dân Pháp đối với các giai tầng xã hội khác nhau là khác nhau.</p>
<p>Với các tầng lớp trên như: những người hữu sản, giàu có, quyền lợi ít nhiều gắn liền với chính quyền thực dân, chúng dành cho những đặc quyền đặc lợi cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.</p>
<p>Với các tầng lớp dưới, thực dân Pháp chủ trương tăng cường bóc lột, đàn áp và đẩy họ vào vòng tăm tối của chế độ ngu dân.</p>
<p>Bên cạnh sự phân biệt giai cấp như trên, các chính sách của Pháp còn thể hiện sự phân biệt chủng tộc trắng trợn. Tất cả mọi người Pháp đều được ưu tiên trong mọi vị trí, mọi công việc, mọi thời gian; còn người Việt đều bị coi thường, khinh rẻ. Người Việt cho dù có tốt nghiệp các trường cao đẳng, thậm chí là học từ Pháp về, cũng không bao giờ được coi ngang bằng với người Pháp cũng học trường đó; bằng cấp ngang nhau nhưng chức vụ và mức lương của người Pháp luôn cao hơn người Việt cùng vị trí, cùng công sở.</p>
<p><em>5- Chính sách văn hoá, giáo dục và những chuyển biến mới.</em></p>
<p>Những năm sau chiến tranh TG1, cùng với sự biến đổi trong cơ cấu kinh tế và giai cấp xã hội, tình hình giáo dục, đời sống tư tưởng, văn hoá và tâm lí ở VN cũng có nhiều chuyển biến.</p>
<p>* Những chuyển biến trong giáo dục:</p>
<p>Cuối 1917, Toàn quyền Xa-rô ban hành nghị định về “Học chính Tổng quy” để cải cách hệ thống giáo dục(đây là cuộc cải cách giáo dục lần 2, lần 1 của Toàn quyền Bô vào 1906). Trong thời kỳ cải cách giáo dục lần 2(1917-1929) thực dân Pháp chủ trương nhanh chóng xoá bỏ hoàn toàn nền giáo dục Nho học(thực tế thì kì thi Hương cuối cùng là vào năm 1919), đồng thời tiếp tục mở rộng hệ thống giáo dục Pháp-Việt. Theo tinh thần của “Học chính Tổng quy”, nền giáo dục bao gồm 2 bộ phận: các trường Pháp chuyên dạy học sinh người Pháp theo chương trình “Chính quốc” Pháp và các trường Pháp-Việt chuyên dạy người Việt theo chương trình “Bản xứ”. Toàn bộ hệ thống giáo dục chia làm 3 cấp: Tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học. Thời gian theo học cụ thể là: tiểu học 5 năm, sau khi hoàn thành chương trình và thi đỗ tốt nghiệp được nhận bằng tiểu học và được thi vào trường trung học; bậc Trung học, học trong 4 năm(trung học Đệ nhất cấp).</p>
<p>Năm 1923, Toàn quyền Méc-lanh thay Xa-rô, có một số thay đổi và điều chỉnh trong chương trình cải cách giáo dục ở VN. Theo đó từ 1924 trở đi, với chương trình “bình diện” nhằm mục đích hạn chế bớt việc đi học của thiếu nhi, thanh niên VN, học sinh sau khi học xong 3 năm bậc sơ đẳng phải thi lấy bằng “Sơ học yếu lược”, rồi mới được lên lớp trên, học hết 2 năm nữa lại phải thi lấy bằng tốt nghiệp “Tiểu học Bổ túc Bản xứ”, nhưng ngay ở 3 năm đầu đó học sinh người Việt đã phải học bằng tiếng Pháp nên rất nhiều trẻ em nông thôn không thể theo học; việc quy định hạn tuổi các cấp cũng rất chặt chẽ càng làm giảm bớt số học sinh muốn đi học.</p>
<p>Để củng cố và hoàn chỉnh một bước giáo dục Trung học, năm 1927 Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định đặt thêm bằng “Tú tài Bản xứ”, tức bằng “Trung học Đệ nhị cấp”, được coi tương đương với bằng “Tú tài Tây học” theo đúng chương trình bên Pháp; những người có bằng “Tú tài Bản xứ” có thể thi vào các trường cao đẳng, đại học ở Đông Dương và bên Pháp.</p>
<p>Bên cạnh các trường phổ thông(Tiểu-Trung học), chính quyền thuộc địa cũng cho xây dựng các trường chuyên nghiệp và dạy nghề, như các trường Bách Công, Bách Nghệ; ở một số thành phố lớn, các học sinh có bằng tốt nghiệp tiểu học được quyền thi vào các trường này.</p>
<p>Để thủ tiêu và thay thế các trường đào tạo quan lại phong kiến, thực dân Pháp đã giải tán 2 trường “Sĩ hoạn” ở Hà Nội và “Hậu bổ” ở Huế vào năm 1917, quyết định thành lập trường “Pháp-Chính” để đào tạo quan lại cai trị cho chính quyền thuộc địa ở VN và Đông Dương, đặt trực thuộc Đại học Đông Dương, do Giám đốc Đại học Đông Dương quản lí.</p>
<p>Một số trường cao đẳng khác cũng được thành lập, thuộc các ngành sư phạm, công chính, thương mại. Năm 1918 lập thêm trường Cao đẳng Nông nghiệp; còn trường Y học Đông Dương sau 16 năm hoạt động được đổi tên thành trường Kiêm bị cao đẳng Y dược.</p>
<p>Như vậy, so với những năm đầu thế kỷ XX, giai đoạn sau chiến tranh TG1 nền giáo dục VN có nhiều thay đổi về hệ thống tổ chức, cơ cấu ngành nghề và nội dung đào tạo.</p>
<p>Về số lượng trường học và những người đi học, đến niên khoá 1922-1923(5 năm sau thực hiện cải cách giáo dục lần 2), ở VN có 3.039 trường tiểu học, 7 trường cao đẳng tiểu học và 2 trường trung học; số học sinh gồm 163.110 người. Từ niên khoá 1923-1925 đến 1930, số học sinh tăng từ 187.000 người lên 434.335 người, trong đó có cả học sinh trường công và tư với các cấp học từ vỡ lòng đến trung học.</p>
<p>Riêng số sinh viên mới chỉ chiếm một số rất nhỏ trong số những người đi học. Năm học 1922-1923 có 436 sinh viên cao đẳng, trong đó: 106 người học ngành Y, 104 ngành Công chính và 41 người ngành Sư phạm. Niên khoá 1929-1930, tổng số sinh viên là 551 người.</p>
<p>Ngoài ra phải kể đến bộ phân học sinh các trường chuyên nghiệp và kĩ nghệ thực hành, trong đó đến năm học 1929-1930, riêng Bắc Kì có 900 học sinh chuyên nghiệp và học nghề.</p>
<p>Đáng chú ý là đa số học sinh các lớp cao(cao đẳng tiểu học, trung học) và sinh viên đại học đều là con em nhà khá giả, có địa vị trong xã hội; còn các gia đình nông dân thì may lắm cũng chỉ cho con em theo học các lớp chữ Hán hay Quốc ngữ ở trường làng; do đó số trẻ em thất học vẫn chiếm tỷ lệ rất lớn, 7-8 phần 10 số người ở độ tuổi đi học.</p>
<p>Số lượng giáo viên cũng tăng nhanh so với đầu thế kỷ. Theo thống kê của chính quyền Pháp, năm 1930 ở VN có 12.000 giáo viên các cấp.</p>
<p>Trong nghiên cứu khoa học, ngoài các cơ quan và viện nghiên cứu đã thành lập từ đầu thế kỷ, thực dân Pháp còn xây thêm một số cơ sở mới như: Túc Mễ cục, Viện Hải dương học, Hội đồng nghiên cứu khoa học(1928, thành viên là các kĩ sư, bác sĩ, các nhà quản lí các cơ quan khoa học và giáo dục). Mục đích của các cơ quan và tổ chức khoa học này là nhằm tìm hiểu và khai thác các nguồn tài nguyên, của cải của đất nước ta, phục vụ yêu cầu lợi nhuận của các nhà tư bản Pháp.</p>
<p>Sự nghiệp Y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng có những tiến bộ đáng kể. Số bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh công và tư có tăng lên. Việc thành lập Viện Patxtơ với các chi nhánh của nó đã góp phần nghiên cứu, sản xuất một số vắc-xin chữa bệnh cho người Pháp và người Đông Dương. Số bác sĩ, y sĩ, y tá, dược sĩ và nhân viên y tế cũng tăng lên. Tuy nhiên đến 1929, trên toàn Đông Dương(20.900.000 dân, trong đó có 43.000 người Âu) chỉ có 761 thầy thuốc(trung bình 1 thầy thuốc/30.000 dân). Một số bệnh nan y như: dịch tả, sốt rét, đậu mùa, lao phổi có xu hướng tăng. Phần lớn các gia đình nông dân và thị dân nghèo không có tiền khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế, buộc phải tự chạy chữa theo lối cổ truyền.</p>
<p>* Đời sống văn hoá-nghệ thuật</p>
<p>Sau chiến tranh TG1, đời sống kinh tế-xã hội VN có nhiều biến đổi: một số ngành kinh tế mới như: ngân hang, công nghiệp chế biến, cơ khí… đã hình thành; các đô thị được mở mang; các lực lượng xã hội mới như công nhân, tư sản, tiểu tư sản cũng ra đời và ngày càng phát triển; hệ thống giáo dục Pháp-Việt mở rộng hơn trước; tầng lớp học sinh-sinh viên, công chức, trí thức ngày càng đông đảo; các cơ sở in ấn và xuất bản xuất hiện ở khắp 3 kì; hang chục tờ báo Pháp ngữ và Quốc ngữ ra đời.</p>
<p>Trong bối cảnh trên, các trào lưu tư tưởng mới, các thành tựu khoa học kĩ thuật, văn hoá, nghệ thuật từ phương Tây thông qua các sách báo nước ngoài đã ồ ạt tràn vào trong nước, thúc đẩy và tăng cường mối quan hệ tiếp xúc giữa 2 nền văn hoá Á-Âu, Đông-Tây ở VN. Việc in ấn, xuất bản và giới thiệu các công trình về khoa học tự nhiên, triết học, luật học của các học giả phương Tây đã góp phần làm thay đổi phương pháp tư duy, nghiên cứu trong một số trí thức tân học, hình thành phương pháp tư duy duy lí tồn tại bên cạnh lối tư duy duy cảm của người VN.</p>
<p>Giai đoạn 1919-1930 được xem như giai đoạn giao thời, chuyển tiếp của lịch sử dân tộc. Trong giai đoạn đó dường như có sự giao thoa, đan xen và tồn tại đồng thời giữa các yếu tố văn hoá truyền thống và văn hoá ngoại lai, giữa nền văn hoá nô dịch của các nhà tư bản thực dân và một nền văn hoá mới đang nảy sinh và dần dần phát triển trong long xã hội thuộc địa VN.</p>
<p>Thực dân Pháp ra sức sử dụng vũ khí văn hoá để phục vụ cho mục đích khai thác thuộc địa, tuyên truyền chính sách hợp tác Pháp-Việt. Chính quyền Pháp ưu tiên xuất bản các sách báo phổ biến tư tưởng Âu châu, cho Phạm Quỳnh ra “Nam Phong tạp chí” thay “Đông Dương tạp chí” của Nguyễn Văn Vĩnh; cho lập “Hội khai trí tiến đức” tập hợp những người thuộc các tầng lớp trên trong xã hội lúc đó. Trên tờ Nam Phong tạp chí và các báo chí thực dân, một số học giả VN thân Pháp ra sức viết bài tán dương chủ trương “Pháp-Việt đuề huề”, thừa nhận chế độ cai trị của Pháp, tuyên truyền và ca ngợi văn minh Pháp là nền văn mình cao nhất của phương Tây…</p>
<p>+ Tuy nhiên bên cạnh đó, một nền văn hoá mới của dân tộc VN cũng đang trên đường hình thành và phát triển mạnh mẽ:</p>
<p>Sau chiến tranh TG1, văn học mới đã chiếm được ưu thế trên văn đàn và đã được công chúng thành thị đón nhận với tấm lòng ưu ái. Nhiều truyện ngắn đã được đăng tải trên các báo chí ở Hà Nội, lúc đầu là của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, rồi Tản Đà, Nguyễn Công Hoan. Các truyện như: Sống chết mặc bay(Phạm Duy Tốn-1918), Câu chuyện một tối của người tân hôn(Nguyễn Bá Học-1921) đều có giá trị hiện thực phê phán nhất định.</p>
<p>Về tiểu thuyết, năm 1916 Tản Đà cho ra đời tác phẩm “Giấc mộng con”. Nhưng nổi bật hơn cả trong những năm 20 là tiểu thuyết “Tố Tâm”(năm 1925) của Hoàng Ngọc Phách, lần đầu tiên trong văn học VN, lối kết cấu “chương-hồi” được thay thế bằng lối kết cấu theo “quy luật tâm lí”; lần đầu tiên các tập tục tâm lí truyền thống của Nho giáo đã bị phê phán gay gắt, tự do cá nhân được ca ngợi, bảo vệ; có thể nói “Tố Tâm” chưa đạt tới một tiểu thuyết “lãng mạn chủ nghĩa” song nó đã mở ra con đường tiến tới “chủ nghĩa lãng mạn” của văn học VN.</p>
<p>Từ sau 1925 còn có thêm các tiểu thuyết: Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật, Sóng hồ Ba Bể của Phạm Bùi Cầm, Nho phong và Người quay tơ của Nguyễn Tường Tam. Báo Phụ nữ Tân văn dành nhiều kỳ để in tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Ngoài ra một số tiểu thuyết lịch sử viết về các anh hung dân tộc và các chiến công của cha ông thuở trước đã xuất hiện như: Tiếng sấm đêm đông, Lê Đại Hành, Việt-Thanh chiến kỷ, Vua Bố Cái.v.v. của Nguyễn Tử Siêu.</p>
<p>Về nghệ thuật tuồng có Hoàng Tăng Bí, chèo có Nguyễn Đình Nghi.</p>
<p>Về kịch nói, năm 1922 vở kịch Chén thuốc độc của Vũ Đình Long đã được diễn thành công tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Từ đó các vở kịch nối tiếp nhau ra mắt độc giả: Toàn án lương tâm và Tây Sương tân kịch của Vũ Đình Long; Bạn và Vợ, Thủ phạm là tôi, Giời đất mới của Nguyễn Hữu Kim; Uyên ương, Hoàng Mộng Diệp của Vi Huyền Đắc; Ông Tây An Nam, Chàng ngốc của Nam Xương.v.v.</p>
<p>Về thơ, cuối những năm 20 xuất hiện tập thơ khóc vợ Linh Phượng ký của Đông Hồ và tập thơ khóc chồng Giọt lệ thu của Tương Phố.</p>
<p>Có thể nói, hầu hết các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch nói và thơ trong thời gian này đều hướng vào mục đích phê phán tình trạng thối nát của xã hội đương thời, nêu lên những xung đột giữa các quan điểm phong kiến cũ và tư tưởng tư sản mới nảy sinh, đả kích những kẻ trưởng giả học đòi làm sang, phơi bày những cảnh lầm than, khốn khó của quần chúng lao động bị bọn thực dân, địa chủ, quan lại ức hiếp, bóc lột; đồng thời nói lên tình cảm yêu nước thương nòi và sự bất lực, chán chường của tầng lớp tiểu tư sản trí thức thành thị trước thời cuộc.</p>
<p>Trong các ngành nghệ thuật hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc… cũng có những biến đổi nhất định. Các mô típ và tư tưởng nghệ thuật phương Tây ngày càng có ảnh hưởng sâu đậm trong phương pháp tư duy và sang tác của các nghệ sĩ VN, thể hiện qua các bức tranh, bức tượng, nhà cửa do họ làm ra. Tuy nhiên, các mô típ mĩ thuật truyền thống, nhất là trong kiến trúc xây dựng đình chùa, nhà cửa ở nông thôn, vẫn đóng vai trò chủ yếu trong các xu hướng mĩ thuật bấy giờ. Đội ngũ nghệ sĩ mĩ thuật chủ yếu là những nghệ sĩ dân gian như thợ mộc, thợ nề, thợ thêu, thợ chạm, thợ tạc tượng, thợ gốm, thợ đúc chuông.. Các loại hình nghệ thuật mới chịu ảnh hưởng hay mô phỏng của phương Tây mặc dù đã phát triển và mở rộng hơn trước, nhưng chưa đủ sức lấn át các mô típ nghệ thuật truyền thống của dân tộc.</p>
<p>Tóm lại, từ sau chiến tranh TG1 đến 1930 là một khoảng thời gian không dài so với lịch sử phát triển của dân tộc VN. Nhưng trong khoảng thời gian đó đã diễn ra những biến đổi sâu sắc và mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội, giáo dục và văn hoá, tư tưởng và tâm lí… Cùng với sự chuyển mình của phong trào dân tộc, nhất là sự lớn mạnh của xu hướng cách mạng xã hội chủ nghĩa, một mô hình giáo dục hiện đại và một nền văn hoá mới đang trên đường hình thành và phát triển, tạo tiền đề thắng lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như cho các giai đoạn phát triển tiếp sau của dân tộc VN.</p>
<p><strong>III- Tình hình phân hoá các giai cấp</strong></p>
<p>Vào thời kì này, sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ nền kinh tế, nên những lực lượng gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp vẫn là những bộ phận quan trọng trong cơ cấu xã hội.</p>
<p><em>1- Giai cấp địa chủ</em></p>
<p>Trong khi các thành phần kinh tế TBCN có những bước phát triển mạnh hơn thời kỳ trước thì các thế lực của giai cấp địa chủ vẫn không bị suy giảm chút nào, trái lại còn được củng cố, phát triển lớn mạnh hơn trước. Thế lực đó được củng cố vững chắc nhất thông qua sự tập trung ngày càng cao ruộng đất-tư liệu sản xuất cơ bản trong nông nghiệp-vào tay giai cấp địa chủ dưới sự che chở của thực dân Pháp.</p>
<p>- Ở Bắc Kì: do bình quân ruộng đất thấp, số chủ ruộng có từ 5 mẫu(1,8ha) trở lên đã được tính là địa chủ và số chủ ruộng có từ 50 mẫu trở lên được coi là đại địa chủ.</p>
<p>Năm 1930, số địa chủ vừa và nhỏ(5-50mẫu)chiếm 8,4% số chủ ruộng và khoảng 20% diện tích canh tác; có 1060 đại địa chủ chiếm 0,1% số chủ ruộng chiếm 20% diện tích canh tác; số chủ ruộng có diện tích dưới 1 mẫu (0,36ha) chiếm 61% số chủ ruộng.</p>
<p>- Ở Trung Kì: gồm 39.500 chủ đất có 5-50 mẫu ruộng, chiếm 6% tổng số chủ ruộng và 15% diện tích canh tác; có 350 đại địa chủ sở hữu trên 50 mẫu bằng 1,4% tổng số chủ ruộng, chiếm 10% diện tích canh tác.</p>
<p>- Ở Nam Kì: diện tích đất canh tác tăng nhanh và mức độ tập trung ruộng đất rất cao so với Bắc và Trung Kì. Vào năm 1930, số chủ ruộng có 5-100 ha là 69.000 người chiếm 25,7% số chủ ruộng và 45% diện tích canh tác(khoảng 1.035.000 ha); có 2.449 đại địa chủ sở hữu 100-500 ha và 244 đại địa chủ có trên 500 ha.</p>
<p>Nói chung, lực lượng địa chủ thời kỳ này chiếm khoảng 7% cư dân nông thôn, nhưng nắm giữ 50% diện tích canh tác. Cho đến sát chiến tranh TG2, toàn VN có khoảng 6.500 địa chủ có sở hữu trên 50ha ruộng đất, trong đó Nam Kì có 6.200, Bắc Kì có 200 và Trung Kì có 100 người. Đó là những cơ sở tạo nên thế lực kinh tế, đồng thời là công cụ bóc lột của giai cấp này đối với nông dân.</p>
<p>Đa số địa chủ đem RĐ phát canh thu tô. Tô có thể là hiện vật hoặc bằng tiền, song chủ yếu là tô hiện vật, gồm các sản phẩm thu được từ đất canh tác. Ở Nam Kì có 345.000 gia đình nông dân chuyên sống bằng lĩnh canh RĐ của địa chủ, chiếm 57% tổng số hộ nông dân; 63% RĐ được đem phát canh và số chủ ruộng có phát canh lên đến 90.285 người. Ở Bắc Kì, số người lĩnh canh RĐ và tá điền là 275.000 người, chiếm 24% cư dân nông thôn. Ở Trung Kì, số tá điền và người lĩnh canh khoảng 100.000 người, chiếm 13% cư dân nông nghiệp.</p>
<p>Ở các vùng miền núi, hình thức bóc lột chủ yếu của địa chủ với nông dân là địa tô lao dịch.</p>
<p>Do các quy chế của chính quyền thực dân đề ra qua các cuộc “cải lương hương chính”, như lựa chọn các thành phần có “tài sản và danh giá”, trung thành với chế độ thực dân.v.v. đưa vào bộ máy chính quyền cơ sở nên địa vị của giai cấp địa chủ trong nông thôn được nâng cao và củng cố vững chắc. Giai cấp địa chủ chiếm đa số trong cơ cấu chính quyền các hương thôn(Hội đồng tộc biểu, Hội đồng kì mục, Xã trưởng, Tổng lí…). Ngoài ra thực dân Pháp còn tạo điều kiện và những cơ sở pháp lí cho giai cấp địa chủ tham gia vào các tổ chức chính quyền bên trên(Hội đồng dân biểu, Hội đồng quản hạt…). Do đó , sự câu kết giữa giai cấp địa chủ với thực dân Pháp càng được củng cố vững chắc hơn.</p>
<p><em>2- Giai cấp nông dân</em></p>
<p>Là thành phần chiếm đại đa số trong xã hội VN với khoảng 90% dân số. Trong quá trình sản xuất, giai cấp nông dân cũng dần bị phân hoá thành 3 tầng lớp: trung nông, bần nông, cố nông.</p>
<p>Trung nông: có tương đối đủ RĐ và công cụ sản xuất(trâu, bò, nông cụ…) để tự sản xuất và nuôi sống mình, không phải bán sức lao động, nhưng cũng không có khả năng tham gia vào việc bóc lột người khác. Tuy nhiên đó chỉ là những đặc điểm có tính chất tương đối. Một số trung nông lớp dưới vẫn phải bán sức lao động(tuỳ thời điểm) và một số có tham gia bóc lột qua việc cho lĩnh canh RĐ dư hoặc phát canh lại RĐ lĩnh canh của địa chủ như ở Nam Kì.</p>
<p>Bần nông: là những người thiếu RĐ canh tác, thiếu trâu bò và nông cụ sản xuất, phải lĩnh canh(thêm) RĐ của địa chủ, thuê mướn trâu bò, nông cụ và tiền vốn.</p>
<p>Cố nông: là tầng lớp nghèo khổ nhất, bần cùng nhất trong giai cấp nông dân. Họ thường không có RĐ, không có trâu bò hay nông cụ. Nguồn sống chính là đi lĩnh canh RĐ, làm thuê, đi ở cho nhà giàu. Theo điều tra năm 1945, ở 16 tỉnh miền Bắc có 11.785 hộ cố nông chiếm 20,6% tổng số nông hộ, nhưng chỉ có 1.513 mẫu 7 sào ruộng chiếm 1,2% tổng số RĐ.</p>
<p>Tóm lại, thời kỳ này giai cấp nông dân chiếm 90% dân số nhưng chỉ có 42% diện tích canh tác. Nông dân bị bóc lột nặng nề, nhưng lại không có lối thoát. Một số lớn bị bần cùng hoá, phải bỏ ra các thành thị, hầm mỏ để kiếm việc, song phần nhiều phải quay về vì không kiếm nổi việc; những năm khó khăn, khủng hoảng kinh tế, tình trạng này càng phổ biến. Đó là con đường bần cùng không lối thoát của nông dân VN thời Pháp thuộc.</p>
<p>Bên cạnh các giai cấp đại diện cho xã hội VN truyền thống, các giai tầng mới cũng xuất hiện và ngày càng phát triển, phân hoá rõ rệt.</p>
<p><em>3- Giai cấp tư sản</em></p>
<p>Trước Thế chiến I, tư sản VN chỉ là một tầng lớp nhỏ bé, chủ yếu kinh doanh thương nghiệp, hoạt động sản xuất còn rất hạn chế. Từ sau chiến tranh, hoạt động kinh doanh của tư sản VN được mở rộng và có quy mô lớn hơn. Họ kinh doanh trong hầu hết các ngành kinh tế: xay xát, in ấn, dệt, nhuộm, vận tải, sửa chữa cơ khí, sản xuất sơn, xà phòng, đường, nước mắm, đồ gốm.v.v. Một số đã có trong tay những sản nghiệp lớn như: hầm mỏ, đồn điền, các công ti thương mại… Một số đã có những cơ sở sản xuất thu hút vài trăm công nhân, mở rộng và phát triển nhanh chóng về thế lực kinh tế…</p>
<p>Tóm lại, tư sản VN đã thực sự hình thành một giai cấp xã hội vào những năm sau Thế chiến  I. Tuy nhiên, do tác động của các điều kiện kinh tế-xã hội mới, nên sau chiến tranh, giai cấp tư sản tiếp tục phân hoá thành 2 bộ phận là Tư sản mại bản và Tư sản dân tộc.</p>
<p>- Bộ phận tư sản mại bản ngày càng đông đảo thêm cùng với tốc độ đầu tư của tư bản Pháp. Từ sau chiến tranh TGI, hang hoá Pháp nhập vào Đông Dương tăng nhanh, từ 1.641 triệu Phơ-răng mỗi năm(giai đoạn 1919-1923) lên tới 2.253 triệu Phơ-răng mỗi năm trong giai đoạn 1924-1928, do đó số người làm đại lí hang hoá cũng tăng lên. Bắt đầu xuất hiện những công ti có quy mô lớn, như: Tri Phú, Quế Dương(Hải Phòng), Đan Phong(Hà Nội), Thuận Hoà(Chợ Lớn)…</p>
<p>Số tư sản mại bản chuyên thầu khoán những công việc công chính, xây dựng cũng tăng lên. Chỉ riêng Bắc Kì những năm 1923-1927 đã có 449 nhà thầu khoán VN lĩnh trưng công việc công chính với số tiền trên 4 triệu Phơ-răng. Ngoài ra, còn có một số người chung vốn với tư bản Pháp kinh doanh công, nông nghiệp như Vũ Duy Hinh, Vũ Văn An…</p>
<p>Một số nhà tư sản VN đã có quan hệ buôn bán ở các nước Miên, Lào, Trung Quốc, Hồng Kông, Xingapo, Inđônêxia, Pháp. Hàng năm các công ti thương mại của VN đã nhập khẩu vào thị trường trong nước từ 3.000 đến 7.000 tấn hang hoá.</p>
<p>- Bộ phận tư sản dân tộc sau chiến tranh TGI cũng có bước phát triển vượt bậc về số lượng và thế lực kinh tế. Nhiều cơ sở kinh tế đã có từ trước và trong chiến tranh TG thứ nhất, nay được mở rông quy mô sản xuất và tăng cường thêm thiết bị kĩ thuật, như xưởng sơn của Nguyễn Sơn Hà, xưởng sửa chữa tàu của Bạch Thái Bưởi, xưởng dệt của Lê Phát Vĩnh… Nhiều đồn điền rộng hàng ngàn mẫu ở Nam Kì xuất hiện, thu hút hang trăm công nhân.</p>
<p>Bên cạnh đó, một số cơ sở mới được thành lập như: nhà máy gạch Hưng Kí ở Bắc Ninh, xí nghiệp dệt Vĩnh An ở Huế…</p>
<p>Nhìn chung, sau chiến tranh TGI, giai cấp tư sản VN đã lớn mạnh và trưởng thành rõ rệt. Đại diện cho thế lực kinh tế của tư sản VN là những người như: Trương Văn Bền, Nguyễn Sơn Hà, Bạch Thái Bưởi, Lê Phát Vĩnh… Công ti tàu biển của Bạch Thái Bưởi đã có lúc sử dụng tới 30 chiếc tàu với 1.500 công nhân.</p>
<p>Tuy nhiên, địa vị kinh tế của tư sản VN còn rất nhỏ yếu và thấp kém so với tư bản nước ngoài, cũng như so với toàn bộ nền kinh tế. Tổng số  vốn kinh doanh của họ chỉ bằng khoảng 5% số vốn của tư bản nước ngoài. Tư sản VN chủ yếu kinh doanh thương nghiệp, trong các ngành công nghiệp thì lực lượng còn rất nhỏ(toàn bộ vốn đầu tư vào các ngành hầm mỏ, cơ khí, giao thông vận tải chỉ bằng 1% số vốn đầu tư của tư bản Pháp). Toàn bộ lực lượng nòng cốt của giai cấp tư sản VN vào cuối những năm 20 chỉ vào khoảng 2.000 người, chiếm 0,1% dân số cả nước.</p>
<p>Bên cạnh giai cấp tư sản ở thành thị, tầng lớp phú nông ở nông thôn cũng phát triển, song cũng rất chậm chạp. Vào những năm 30, lực lượng phú nông chiếm khoảng 2% số hộ nông dân và nắm khoảng 7% diện tích RĐ. Nhìn chung, tầng lớp phú nông ở VN không có khả năng tập hợp tư liệu sản xuất, nhất là RĐ, để phát triển thế lực kinh tế, họ không có sở hữu lớn về RĐ và các tư liệu sản xuất khác. Một bộ phận trong số họ-nhất là ở Nam bộ-phải lĩnh canh RĐ của địa chủ, và khi đã tập trung được khá nhiều RĐ thì một số lại trở lại phát canh thu tô, thay cho việc phát triển hình thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp.</p>
<p>Một trong những nguyên nhân khiến cho giai cấp tư sản VN phát triển “chậm một cách khác thường” là vì họ luôn bị chèn ép và cản trở từ nhiều phía. Tư bản Pháp, với uy thế của kẻ thống trị, đã ra sức chèn ép tư sản VN trong kinh doanh, nhất là trong sản xuất công nghiệp. Trong thương nghiệp, tư sản VN không những gặp phải tư sản Pháp, mà còn gặp phải một lực lượng cạnh tranh nguy hiểm khác là tư sản người Hoa. Các hoạt động thương mại, từ buôn bán thóc gạo, xay xát, vận chuyển và xuất nhập khẩu đều bị tư sản Hoa kiều lũng đoạn triệt để. Trong nông nghiệp, quan hệ tư bản chủ nghĩa lại bị giai cấp địa chủ với lối tổ chức sản xuất phong kiến cũ kìm hãm nặng nề.</p>
<p>Quá trình phát triển của tư sản VN từ sau chiến tranh TGI là quá trình lớn mạnh và chuyển biến từ một tầng lớp xã hội sang một giai cấp xã hội, và bắt đầu bước lên vũ đài chính trị, góp phần mình vào các phong trào dân tộc. Tuy vậy, vì cơ sở kinh tế của giai cấp tư sản VN hết sức nhỏ yếu nên thái độ chính trị của họ rất bạc nhược. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sau Thế chiến I, vai trò chủ yếu thuộc về tầng lớp tiểu tư sản chứ không phải tư sản; và sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái(1930) bị thất bại thì vai trò chính trị của giai cấp tư sản hầu như chấm dứt.</p>
<p><em>4- Giai cấp công nhân</em></p>
<p>Giai cấp công nhân VN ngày càng đông đảo thêm theo đà phát triển đầu tư vào các ngành kinh tế. Năm 1929, riêng số công nhân làm trong các doanh nghiệp của người Pháp ở Đông Dương(chủ yếu ở VN) là 221.050 người. Ngoài ra, số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư sản VN và nước ngoài khác cũng chiếm khoảng vài vạn người. Chưa kể, luôn luôn tồn tại một số lượng đáng kể công nhân thời vụ theo các hợp đồng của tư sản.</p>
<p>Đông đảo nhất trong giai cấp công nhân VN là công nhân nhóm ngành công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải và thương nghiệp gồm 86.622 người, chiếm 39,2% tổng số công nhân, tập trung ở các thành thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Sài Gòn, Chợ Lớn. Bộ phận đông đảo thứ hai là số công nhân các đồn điền tập trung chủ yếu ở Nam Trung kì và Tây Nam kì với 81.188 người, chiếm 36,8% tổng số công nhân. Tiếp đến là đội ngũ công nhân mỏ với 53.240 người, chiếm 24,6% tổng số công nhân, tập trung chủ yếu ở vùng Quảng Yên, Đông Triều.</p>
<p>Một số công nhân qua con đường tuyển mộ cưỡng bức, nhất là số công nhân đồn điền. Một số chỉ vô sản hoá nửa vời(bán vô sản), nhất là số công nhân theo mùa, phu công nhân. Trình độ văn hoá của công nhân VN rất thấp, số người mù chữ đông. Tính chất vô sản hiện đại của họ cũng bị hạn chế bởi việc sử dụng quá rộng rãi lao động thủ công trong các ngành sản xuất, kinh doanh(hiện tượng phổ biến trong quá trình sản xuất là giới chủ sử dụng lao động chân tay một cách triệt để; trong hầm mỏ, các hoạt động đào, xúc, chuyển than… đều chủ yếu sử dụng sức lao động chân tay của con người). Tính chung trong tất cả các ngành cho đến năm 1929, số công nhân kỹ thuật chỉ chiếm có 0,43% tổng số công nhân. Điều kiện sống và lao động của công nhân nói chung rất khổ cực, họ thường làm việc từ 10 tiếng, cá biệt từ 12-16 tiếng một ngày, với đồng lương rẻ mạt, thêm vào đó thường xuyên bị đốc công, cai… áp bức, đánh đập tàn nhẫn. Do đó, giai cấp công nhân VN sớm có tinh thần đấu tranh. Mặc dù số lượng công nhân chiếm tỷ lệ chưa lớn trong tổng số dân VN(năm 1929 chiếm 1,1%) nhưng họ sống khá tập trung tại các thành thị lớn, các trung tâm công nghiệp(năm 1929, Hòn Gai-Đông Triều có tới 35.900 công nhân mỏ; Hà Nội có hơn 2 vạn công nhân trên tổng số 13 vạn dân; Vinh-Bến Thuỷ có 7.000 công nhân, chiếm 38% dân số). Tinh thần kỷ luật, ý thức đoàn kết của công nhân cũng được rèn giũa qua quá trình lao động và đấu tranh.</p>
<p>Do những đặc điểm trên, giai cấp công nhân VN đã sớm được giác ngộ ý thức giai cấp và nhanh chóng vươn lên nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Các phong trào đấu tranh do giai cấp công nhân tổ chức, tham gia ngày càng nhiều. Ý thức giác ngộ cách mạng của giai cấp công nhân ngày càng được nâng cao theo đà của các cuộc đấu tranh và của việc tăng cường tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin vào VN. Từ 1930, với việc thành lập ĐCS VN, giai cấp công nhân VN đã chính thức giành được ngọn cờ lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.</p>
<p><em>5- Giai cấp tiểu tư sản</em></p>
<p>Các tầng lớp tiểu tư sản thành thị thời kì này cũng ngày càng đông đảo cùng với quá trình mở mang các đô thị, tăng cường đầu tư phát triển kinh tế-văn hoá-giáo dục. Họ bao gồm thợ thủ công, thị dân, học sinh-trí thức với địa bàn cư trú chủ yếu ở các thành thị. Họ được bổ sung lien tục trong quá trình 30 năm phát triển kinh tế-xã hội và đã hợp thành một tầng lớp rất đông đảo trong xã hội.</p>
<p>Giới trí thức và học sinh các trường là bộ phận quan trọng của đội ngũ tiểu tư sản. Năm 1929, ước tính có 12.000 giáo viên các trường tiểu-trung học. Số học sinh phổ thông các cấp là 335.545 người(trong đó, 328.000 học sinh tiểu học, 7.545 học sinh trung học). Bên cạnh đó là hang trăm sinh viên các trường cao đẳng và đại học.</p>
<p>Số viên chức làm việc trong các công sở gồm khoảng 23.000 người.</p>
<p>Số người buôn bán nhỏ có đóng thuế môn bài thường xuyên khoảng 130.000 người.</p>
<p>Còn về hoạt động công nghiệp, theo ước tính vào giữa những năm 30, VN có khoảng 21,6 vạn thợ thủ công(trong đó Bắc kì là nơi tập trung đông nhất với khoảng 12 vạn, Trung kì 3,6 vạn, Nam kì 6 vạn); đó là chưa kể số thợ thủ công không chuyên trong các làng mạc chưa thể thống kê được. Cũng theo ước tính, số thợ thủ công chiếm khoảng 6-7% dân số(Bắc kì có khoảng 4 vạn gia đình chuyên làm nghề thủ công). Đa số thợ thủ công làm việc ở nông thôn, họ tự mua nguyên liệu, tự tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy những thợ thủ công này không có khả năng tự chuyển các cơ sở sản xuất thành các công trường thủ công, mà chỉ giữ nguyên cơ sở sản xuất với quy mô nhỏ vốn có.</p>
<p>Nói chung, thu nhập và đời sống vật chất của trí thức và giới công chức khá cao so với nông dân và công nhân. Trong các công sở, lương của viên chức nhỏ khoảng 49 đồng/năm, viên chức trung bình là 166 đồng/năm(trong khi giá gạo vào thời điểm cao nhất trong năm 1930 là 13,1 đồng/tạ). Tuy nhiên, so với thu nhập của các viên chức người Pháp, thì thu nhập của viên chức người Việt vẫn thấp hơn rất nhiều lần(viên chức Pháp thu nhập trung bình 5000 đồng/năm, gấp 30 lần viên chức trung bình và trên 100 lần thu nhập của viên chức nhỏ người Việt; lương 1 người gác cổng Pháp cao gấp 3,5 lần lương 1 kỹ sư VN). Sự bất bình đẳng này gây nên tâm lí bất mãn ngày càng sâu sắc trong giới công chức người bản xứ.</p>
<p>Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, dân số thành thị tăng lên nhanh chóng. Từ 1913 – 1921, Hà Nội tăng thêm 10.000 người, Sài Gòn tăng 33.000, Hải Phòng tăng 40.000 người. Đến 1928, thành phố Nam Định có 38.000 dân, Hải Phòng 98.000 dân, Hà Nội 130.000 dân, Huế 41.000, Sài Gòn 125.000 và Chợ Lớn 192.000 dân.</p>
<p>Đầu những năm 20, dân số thành thị mới chiếm 3,6% tổng dân số, thì đến những năm 30 đã lên đến 8-10%, cá biệt như ở Sài Gòn-Chợ Lớn dân thành thị chiếm 14%.</p>
<p>Nhìn chung thời kì sau chiến tranh thế giới I, các tầng lớp, giai cấp mới đại diện cho phương thức sản xuất mới, đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn quá chậm chạp so với yêu cầu của sự tiến bộ xã hội. Các lực lượng xã hội mới vẫn chỉ là thiểu số, nắm trong tay một tiềm lực kinh tế hết sức hạn hẹp. Cơ cấu xã hội cổ truyền tuy đã bị biến dạng và xáo trộn khá mạnh, nhưng vẫn chưa bị phá vỡ và thay đổi căn bản. Tính chất thuộc địa tư bản chủ nghĩa trở thành thuộc tính nổi bật của xã hội VN vào thời kì này.</p>
<p>Dưới tác động của phương thức sản xuất TBCN do tư bản Pháp du nhập vào, nền kinh tế VN dần chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp sang nền kinh tế thuộc địa-tư bản chủ nghĩa. Có thể hình dung kết cấu kinh tế VN thời kì này có hai khu vực. Một khu vực hiện đại bao gồm công nghiệp hiện đại, thương nghiệp, các cơ sở tài chính và giao thông, các đồn điền công nghiệp; Và một khu vực truyền thống tập hợp các phương thức hoạt động truyền thống như nông nghiệp và thủ công nghiệp. Việc sử dụng phương thức kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa đã tạo ra bước phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất. Nền kinh tế hang hoá đã bắt đầu hình thành và phát triển ở một số khu vực sản xuất. Các sản phẩm làm ra không phải chỉ đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn dùng để xuất khẩu ra thị trường thế giới. Nhờ có các hoạt động kinh tế với nước ngoài mà lần đầu tiên nền kinh tế VN đã vượt khỏi biên giới quốc gia để tiếp cận và từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới.</p>
<p>Rõ ràng so với giai đoạn trước, nền kinh tế VN từ đầu thế kỷ XX đến những năm 30 đã có bước phát triển nhanh chóng và những chuyển biến căn bản. Quan hệ TBCN đã được mở rộng và giữ vị trí quan trọng trong nhiều ngành kinh tế.</p>
<p>Trên cơ sở biến đổi về kinh tế, các thành phần giai cấp xã hội tương ứng cũng dần biến đổi theo. Những lực lượng đại diện cho xã hội cũ  như địa chủ, nông dân ngày càng bị phân hoá sâu sắc: địa chủ thì giàu lên nhanh chóng, còn đa số nông dân thì rơi vào cảnh nghèo đói, bần cùng. Đồng thời các lực lượng xã hội mới như tư sản, công nhân, tiểu tư sản cũng bắt đầu xuất hiện và từng bước trưởng thành nhanh chóng cùng với sự mở rộng của các thành phần kinh tế mới-TBCN. Dân số tăng nhanh, các thị trấn và thị xã được mở rộng nhiều so với trước; bộ mặt thành thị và cả một số vùng nông thôn ven thị cũng thay đổi. Một số cơ cấu xã hội mới đang trên đường định hình và phát triển theo hướng TBCN.</p>
<p>Tuy nhiên, quá trình tư bản hoá của Pháp ở VN còn để lại nhiều hạn chế và những hậu quả nặng nề, mà hạn chế lớn nhất là đã tạo ra một cơ cấu kinh tế què quặt, mất cân đối và sự chuyển biến quá chậm của nền kinh tế, và do đó dẫn tới sự phân hoá thiếu triệt để của cơ cấu giai cấp xã hội.</p>
<p>Mặc dù vậy, sự ra đời và phát triển của các lực lượng xã hội mới đã tạo ra những tiền đề vật chất cần thiết cho sự tiếp thu các quan điểm và tư tưởng mới, làm cơ sở động lực thúc đẩy sự phát triển của phong trào dân tộc, đưa xã hội VN chuyển biến nhanh vào quỹ đạo vận hành của toàn nhân loại.</p>
<p>(<em>Xem tiếp</em> <a class="alignright" title="Xem Chương VIII tiếp theo" href="http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/11/ch%C6%B0%C6%A1ng-viii-b%C6%B0%E1%BB%9Bc-phat-tri%E1%BB%83n-m%E1%BB%9Bi-c%E1%BB%A7a-phong-trao-dan-t%E1%BB%99c-%E1%BB%9F-vi%E1%BB%87t-nam-sau-chi%E1%BA%BFn-tranh/" target="_self">Chương VIII</a>)</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/chevietnam.wordpress.com/185/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/chevietnam.wordpress.com/185/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/chevietnam.wordpress.com/185/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/chevietnam.wordpress.com/185/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/chevietnam.wordpress.com/185/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/chevietnam.wordpress.com/185/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/chevietnam.wordpress.com/185/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/chevietnam.wordpress.com/185/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/chevietnam.wordpress.com/185/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/chevietnam.wordpress.com/185/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/chevietnam.wordpress.com/185/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/chevietnam.wordpress.com/185/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/chevietnam.wordpress.com/185/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/chevietnam.wordpress.com/185/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=185&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/11/ch%c6%b0%c6%a1ng-vii-tinh-hinh-kinh-t%e1%ba%bf-xa-h%e1%bb%99i-vi%e1%bb%87t-nam-sau-chi%e1%ba%bfn-tranh-th%e1%ba%bf-gi%e1%bb%9bi-th%e1%bb%a9-nh%e1%ba%a5t/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/bccd66a218a0b2086db33dbc931d297c?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">chevietnam</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Lịch sử khẩn hoang miền Nam(Sơn Nam): Phụ Lục</title>
		<link>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ph%e1%bb%a5-l%e1%bb%a5c/</link>
		<comments>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ph%e1%bb%a5-l%e1%bb%a5c/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 07 Jul 2009 17:11:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator>chevietnam</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử khẩn hoang miền Nam - Sơn Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://chevietnam.wordpress.com/?p=170</guid>
		<description><![CDATA[Người Pháp cố ý ém nhẹm những rắc rối xảy ra trong việc phân phối đất đai. Thuở ấy,  người dân thấp cổ bé miệng chỉ có thể kêu nài và nếu đem phân xử thì người dân không  rành luật lệ luôn luôn bị thất kiện. Hội đồng phái viên đi xét đất gồm [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=170&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Người Pháp cố ý ém nhẹm những rắc rối xảy ra trong việc phân phối đất đai. Thuở ấy,  người dân thấp cổ bé miệng chỉ có thể kêu nài và nếu đem phân xử thì người dân không  rành luật lệ luôn luôn bị thất kiện.<br />
Hội đồng phái viên đi xét đất gồm toàn là viên chức, thân hào của tỉnh, quận, tổng và làng. Lề lối làm việc của Hội đồng này tuy nói là quan sát tại chỗ, ghi vào biên bản rành  mạch nhưng họ chỉ ngồi tại công sở làng, với lính mã tà bảo vệ. Làng mạc ở Hậu giang quá  rộng, dầu đủ thiện chí các viên chức cũng khó lội bùn sình, phơi nắng dầm mưa hằng đôi ba  cây số dưới ruộng để xem đâu là ranh giới từng sở đất. Trên nguyên tắc, nhà nước Pháp tự hào là dành nhiều dễ dãi cho dân, phát triển chế độ tiểu điền chủ hơn là chế độ đài điền chủ  nhưng trong thực tế lại khác.<br />
Dư luận của mọi giới kể cả dư luận của những tay thực dân Pháp đã xúc động khi ở  Hậu giang xảy ra hai biến cố quan trọng về quyền sở hữu đất ruộng :<br />
<em>— Vụ Ninh Thạnh Lợi, năm 1927 ở Rạch Giá.<br />
— Vụ Nọc Nạn, năm 1928 ở Bạc Liêu.<br />
</em>Lúc bấy giờ từ những tờ báo thân chánh quyền, ủng hộ thực dân đến báo có xu hướng  ôn hòa đều lên tiếng vì những lý do sau đây :<br />
— Nạn nhân là những người chí thú làm ăn, tuyệt nhiên không có những người làm  chánh trị xúi dục. Họ chỉ muốn bảo vệ phần đất ruộng mà họ đã khai thác từ lâu.<br />
— Những người phạm tội đã tìm đủ mọi cách để kêu nài trong mức cố gắng tối đa của  họ.<br />
— Thành phần xã hội của những bị can là điền chủ lớn hoặc nhỏ, chớ không phải là tá  điền hoặc bần cố nông.<br />
— Họ không bao giờ nêu khẩu hiệu chống chế độ thực dân Pháp hoặc đưa yêu sách  giùm cho người khác, nhằm mục đích khuấy động thành một phong trào lan rộng.<br />
— Bộ máy đàn áp của thực dân Pháp đã quá sốt sắng, trừng phạt quá đáng thay vì dùng biện pháp ít tốn xương máu hơn. Luật lệ mà thực dân bấy lâu đưa ra về vấn đề khẩn  đất chỉ là những cạm bẫy để cho kẻ lương thiện sụp xuống dễ dàng.<br />
Thực dân đành thú nhận sự thiếu sót về mặt nghiên cứu tâm lý dân Việt, cũng như tâm lý người Miên.<br />
Hai vụ Nọc Nạn và Ninh Thạnh Lợi vi phạm đến những nguyên lý thấp nhứt về lòng  nhân đạo : Có thể nói là chẳng một ai dám binh vực thái độ của thực dân, mặc dầu đã tán thành ngấm ngầm chế độ ấy trong một mức nào đó. Nhờ báo chí tường thuật và quảng bá  tin tức, dư luận xúc động mạnh, các chiến sĩ quốc gia dùng dịp này mà chỉ trích chánh sách  của thực dân; ôn hòa như ông Bùi Quang Chiêu mà cũng phải lên tiếng.<br />
Các tài liệu hoặc sách nghiên cứu của người Pháp sau này không dám bỏ quên hai biến  cố nói trên nhưng họ chỉ đề cập vắn tắt trong vài hàng, hoặc cố ý giảm thiểu tầm quan trọng.<br />
Nhiều giai thoại được phổ biến truyền khẩu nên hai vụ án trên lần hồi trở thành  chuyện truyền kỳ, người thuật lại có thể vô tình hay cố ý thêm thắt chi tiết hoặc sửa đổi nội  dung. Chúng tôi thử ghi lại những nét chánh.</p>
<p><strong><span style="color:#990000;">Vụ án Ninh Thạnh Lợi<br />
</span></strong>Tài liệu căn cản mà chúng tôi sử dụng là bản phúc trình của Thống đốc Nam kỳ  Blanchard de la Brosse gởi lên Toàn quyền Đông Dương, đề ngày 28/5/1927.<br />
Làng Ninh Thạnh Lợi (quận Phước Long, tỉnh Rạch Giá) trước kia là vùng đất thấp và phèn, cỏ mọc hoang vu, trên mấy giồng cao ráo thì người Miên đã làm ăn lâu đời. Từ khi đào  kinh Quan Lộ — Phụng Hiệp nối Cà Mau đến Ngã Bảy (Cần Thơ), dân tới khai khẩn hai bên  bờ ngày càng đông đúc, lập ra quận Phước Long (khi trước làng này thuộc về quận Long  Mỹ).<br />
Thời đàng cựu tuy là dùng chánh sách đồng hóa nhưng vua chúa nhà Nguyễn dành  cho người Miên ở Nam kỳ nhiều quyền tự trị : đất đai của họ thì họ gìn giữ, thủy lợi (huê lợi  cá tôm dưới sông rạch) thuộc về họ hưởng.<br />
Người Pháp lúc mới xâm chiếm đã gặp nhiều sốc Miên khá đông đúc nên vội kết luận  là người Việt không có tài “thực dân”, vì những vùng chung quanh xóm Miên hãy còn  nguyên vẹn, hoang vu.<br />
Theo luật thông dụng của người Cao Miên từ xưa thì người dân được quyền tự do canh  tác nơi nào họ muốn; họ cứ đến cày cấy nơi vùng đất hoang. Nếu có người canh tác từ trước  thì phải đợi khi nào đất bỏ hoang trong 3 năm liên tiếp, kẻ khác mới được chiếm hữu.<br />
Luật lệ phiền phức về khẩn đất mà người Pháp ban hành đã làm đảo lộn tình thế. Vài cường hào thừa cơ hội lập bộ mới để chiếm đoạt, lấn đất người Miên nhưng người Việt Nam  vẫn thua người Pháp về phương diện này. Năm 1922, một người Pháp là Beauville—Eynaud  dùng thủ đoạn hợp pháp nhưng bịp bợm, cho tay em đứng tên xin khẩn đất trong làng Ninh  Thạnh Lợi rồi hắn mua lại những biên lai xin khẩn ấy. Kết quả là hắn trở thành người chủ  điền lớn, chiếm đến 9/10 diện tích của làng. Nhưng trước lời thánh oán của dân Miên, tên  Eynaud phải trả đất lại, dân làng lúc bấy giờ đã kêu nài tận quan Thống đốc Nam kỳ và Hội  đồng quản hạt.<br />
Nhưng một người xã trưởng (Huê kiều lai) vẫn giữ nhiều thế lực trong làng. Ông ta  vốn là tay sai thân tín của tên Beauville—Eynaud chiếm đất dạo nọ. Ngoài ra, xã trưởng này  cũng là người thân tín của cai tổng Tr.<br />
Kế hoạch chiếm 9/10 đất đai của làng Ninh Thạnh Lợi đã thất bại. Nhưng lần sau, tiếp  tục kế hoạch này là cai tổng Tr. Viên cai tổng này làm việc chậm rãi và thâm hiểm hơn, cho  tay em là xã trưởng làm giấy tờ để trưng khẩn từng sở đất nhỏ, do đó mà một phần đất của  ông chủ Chọt bị sứt mẻ.<br />
Ông chủ Chọt bèn kiện viên xã trưởng và thắng kiện. Ông chủ Chọt, người cầm đầu  cuộc khởi loạn là điền chủ gốc Tàu lai Miên. Trong làng có tất cả chừng 900 dân đinh, đại đa  số là người Miên. Chủ Chọt đứng bộ 300 mẫu đất ruộng, góp địa tô và cho vay ăn lời, mỗi  năm thâu ước 15.000 giạ lúa.<br />
Vào đầu tháng 5/1927, chủ Chọ (người Pháp phiên âm là Chok) bắt đầu ra tay.<br />
Hương chức làng lân cận và lính mã tà ở quận lỵ Phước Long cùng chủ điền Pháp đều  chú ý đến những cuộc hội họp bất thường, trong đó có chủ Chọt, Mốc (em rể của ông ta) và một người thày bùa tên là Cồ Cui mà nhiều người cho rằng em của chủ Chọt. Họ tụ họp  chừng 40 người, làm lễ cúng, phát bùa, khoe rằng hễ đeo vào người là súng bắn không lủng.  Bọn tay em mặc quần áo trắng, mấy người lãnh tụ thì mang cờ xí nhiều màu. Họ cử hành  liên tiếp nhiều cuộc lễ khác, thay đổi địa điểm trong làng hoặc ở làng giáp ranh, phải chăng  với mục đích củng cố tinh thần bọn tay em và thâu nạp thêm người mới ? Mọi việc diễn ra  êm thắm, không xúc phạm đến tài sản hay tánh mạng ai cả.<br />
Một biến cố nhỏ lại xảy ra. Khi chủ Chọt và bọn tay em làm lễ trên phần đất đai của  đồn điền Mézin (tên thực dân nổi danh về khai thác rừng tràm, gần như độc quyền) thì tên  cai điền của Mézin bèn thị oai, cầm súng đưa lên như hăm dọa bắt buộc chủ Chọt phải giải tán (cai điền của Pháp được quyền giữ súng). Bọn chủ Chọt và tay em liền phản ứng ngay,  bắt sống bốn người tá điền trên phần đất của Mézin rồi đem về “lãnh thổ” của mình.<br />
Tên cai điền hoảng hốt bèn đánh điện cho chủ tỉnh Rạch Giá mà báo nguy (đây là làng gần quận lỵ). Trong khi đó, chủ Chọt và đồng bọn trở về sào huyệt. Đó là căn nhà lớn của ông ta, hai bên là lẫm lúa và nhà cho bọn làm công ở, ngoài ra còn tích trữ sẵn nào dao mác,  nào phãng phát cỏ kéo cổ thẳng trở thành loại gươm bén !<br />
Một cuộc lễ khác diễn ra. Cồ Cui làm phép, cầu khẩn với thần linh. Bấy giờ đạo Cao  Đài bắtn đầu phát triển đến Hậu giang, hương chức mấy làng lân cận suy luận qua sắc  phục trắng của bọn tay em, cho là hình thức giống như đạo Cao Đài. Có lẽ chủ Chọt và đồng  bọn muốn lập một tôn giáo mới, thế thôi.<br />
Bức điện tín của người cai điền đến tay chủ tỉnh Rạch Giá vào lúc chủ tỉnh hội thường  lệ với các chủ quận. Chủ quận Phước Long và viên cai tổng được lịnh trở về địa phương để  xem xét tình hình và ứng phó gấp.<br />
Bấy giờ, tình hình như căng thẳng hơn. Sau cuộc lễ lớn, chủ Chọt bước qua giai đoạn  mới : cho giăng tứ phía một sợi chỉ màu trắng tượng trưng cho ranh giới bất khả xâm phạm,  cấm ngặt không cho ai bước qua.<br />
Quan chủ quận Phước Long đi ghe đến công sở làng Ninh Thạnh Lợơi vào chiều ngày 6/5/1927. Ông lên bờ, thấy vài người Miên mặc quần áo trắng đứng lãng vãng gần đó. Ông  ra lịnh gọi họ lại để hỏi chuyện. Trong công sở cũng còn một vài người Miên nhưng tất cả đều không thèm trả lời và như theo một hiệu lịnh, họ kéo ra, chạy về phía quan chủ quận.<br />
Quan chủ quận hoảng sợ, chạy trở xuống ghe trong khi bọn tay em của chủ Chọt rượt  trên bờ và liệng đất theo ghe để khiêu khích.<br />
Hôm sau, ngày 7, theo lịnh quan chủ quận, 2 người lính kín (mật thám), 4 lính mã tà  và viên cai tổng cùng đến nơi để tái lập trật tự. Họ mang theo loại súng bắn đạn chài. Khi gặp tay em của chủ Chọt, lính bắn vài phát. Bọn tay em dùng dao mác và phãng mà rượt  theo, chẳng ai bị thương cả. Bọn lính mã tà và lính kín hoảng sợ chạy trở về dinh quận để  báo động.<br />
Ngay trong đêm ấy, bọn chủ Chọt liền đến bao vây nhà của cai tổng Tr. ở ngã tư Phó  Sinh và nhà của viên xã trưởng Ninh Thạnh Lợi ở Cỏ Thum. Viên cai tổng vắng mặt. Họ rút  lui, không phá hại gì trong nhà cả. Nhưng mặc dầu không có xã trưởng ở nhà, bọn người  hăng máu nọ ra tay hạ sát cha của ông này.<br />
Viên cai tổng và xã trưởng vì quá khôn ngoan nên không dám ngủ nhà, điều này chứng  tỏ rằng chủ Chọt hận về chuyện giựt đất.<br />
Uy thế của chủ Chọt càng lẫy lừng, bọn tay em càng tin rằng với bùa phép thì súng  bắn không lủng, như lần bị bắn đạn chài hôm trước cho thấy rõ.<br />
Chủ tỉnh Rạch Giá bèn đích thân vào quận Phước Long để đàn áp. Cùng đi với ông ta có viên thanh tra mật thám và một số lính mã tà. Khi đến Phước Long thì đã 8 giờ tối. Và ông ta lại trở về chợ Rạch Giá vào lúc hừng đông hôm sau. Ông ta thấy không nên ở lại  Phước Long vì toán quân gồm lính mã tà và tên cò Tây đã bị loạn quân đánh đại bại. Tên cò  Bouchet bị thương khá nặng, 3 người lính mã tà thì chết khi lâm trận. Trận này xảy ra trước khi viên chủ tỉnh đến Phước Long vì ông ta đi bằng tàu đò sung công, còn tên cò  Bouchet thì lại dùng chiếc tàu khác, mượn của ty Kiểm lâm.<br />
Số là viên cò Bouchet quá khinh địch, khi tàu chạy ngang vùng cấm địa của bọn chủ  Chọt thì dừng lại rồi ra lịnh cho chừng 10 tên mã tà mang súng trên vai đến tìm vài tên  phiến loạn mà bắt sống làm con tin, để dằn mặt và điều tra. Dọc đường, lính mã tà gặp bọn  tay em của chủ Chọt đang nghinh chiến với dao mác. Bọn lính dỗ dành, mời họ đi theo để  gặp mặt viên cò Tây mà kêu nài, trình bày nỗi oan ức.<br />
Bọn tay em của chủ Chọt chịu nhận lời nhưng với điều kiện là họ được đi thong thả  phía sau, bọn lính phải đi phía trước. Bọn lính chấp thuận và lại khinh địch, mang súng  trên vai, đi trước.<br />
Khi còn chừng 100 mét tới công sở (tức là chừng 120 mét thì tới chiếc tàu mà viên cò  Tây đang chờ đợi) thì theo hiệu lịnh bằng tiếng Miên, bọn tay em của chủ Chọt xông tới,  đâm bọn lính mã tà từ phía sau lưng, khiến chẳng ai đề phòng kịp.<br />
Hai ba người lính mã tà đủ thời giờ nạp đạn bắn trả lại, làm cho đối phương bị thương  và chết 6 người. Một viên mã tà và 2 người lính (có lẽ lính kín) bị loạn quân giết tại trận.<br />
Viên cò Bouchet bấy giờ đang đứng trên bờ, thấy chuyện náo động thì hoảng sợ (mặc dầu bên cạnh ông ta còn 15 người mã tà), nên chạy lên tàu trốn vào “ca—bin” riêng. Nhưng  một tay em của chủ Chọt lanh tay, giựt cây súng của tên mã tà tử trận (trong ấy có sẵn  đạn), bèn nhắm vào viên cò mà bắn gây thương tích trầm trọng. Phát đạn thứ nhì bắn lên  tàu trúng tên cai mã tà, gây thương tích. Lại còn một tên lính bị chém đứt 3 ngón tay.<br />
Thế là tàu chạy nhanh để tẩu thoát, bỏ sót lại một tên lính mã tà. Tên này nhảy xuống  kinh xáng, lẩn trốn dưới cỏ để rồi lội nước qua bờ bên kia.<br />
Sau này, giới hữu quyền Pháp chê tên cò Bouchet quá vụng về và quá sợ chết. Bấy giờ,  trên bờ chỉ có chừng 30 loạn quân với võ khí thô sơ và 3 cây súng mà họ vừa giựt được. Nếu  từ trên tàu mà bắn cho kéo tay thì hàng chục người lính còn lại đủ sức giải tán và gây tổn  thất nặng cho đối phương, chớ không rút lui một cách thảm bại.<br />
Viên chủ tỉnh gặp toán quân của tên cò Bouchet trên đường về Phước Long. Lính mã tà của chủ tỉnh và của tên cò cộng lại cỡ 30 người, đủ sức trở lại ăn thua với bọn người làm  loạn. Nhưng viên chủ tỉnh không làm chuyện đó được vì ông ta “đi tàu đò từ Long Mỹ đến,  và chủ tàu này không chịu chạy đến nơi bất an”. Vả lại, chủ tỉnh còn muốn đưa tên cò  Bouchet về Sài Gòn để điều trị gấp.<br />
Quả thật là thắng lợi cho phe chủ Chọt về phương diện tâm lý : chủ quận rút lui, chủ  tỉnh cũng rút lui, tên cò bị thương&#8230; Vì vậy dân trong vùng hoảng sợ, trong một đêm ai nấy  vội vã tản cư trong khi chủ Chọt treo bảng ra lịnh không cho bất cứ tàu bè nào qua lại khu  vực của ông ta kiểm soát, đồng thời mấy tiệm buôn Huê kiều phải mua bán như thường lệ,  bằng không thì sẽ bị phá cửa.<br />
Chủ tỉnh Rạch Giá bèn đánh điện cầu cứu với tỉnh Cần Thơ. Hôm ấy, khi nhận được  điện văn là vào lúc xế trưa, các quan ăn lễ kỷ niệm nữ anh hùng Jeanne díArc. Chủ tỉnh  Cần Thơ nghỉ phép, vắng mặt. Phó chủ tỉnh bèn ra lịnh cho trung úy cảnh sát tên là Turcot tức tốc qua Rạch Giá với 30 lính mã tà của tỉnh Cần Thơ.<br />
Họ đi xe hơi tới Long Mỹ. Nơi đây, trung úy Turcot gặp viên Thanh tra Lao động từ Sài  Gòn đến. Viên Thanh tra này biết nói rành tiếng Miên. Khi bàn chuyện bạo động ở Ninh  Thạnh Lợi, viên Thanh tra này hỏi về cách ứng phó sẽ áp dụng thì Turcot bảo rằng khi đến  nơi sẽ bắt bọn làm loạn, nếu bọn này chống lại thì lính mã tà sẽ dùng súng đạn, không cần  dè dặt.<br />
Toán lính của trung úy Turcot đến, tấn công ngay vào sào huyệt. Lẽ dĩ nhiên, chẳng  một ai chịu ra đầu hàng khi viên trung úy ra lịnh.<br />
Súng nổ, bọn tay em của chủ Chọt chống cự hăng hái, họ dùng khí giới bén và bốn  khẩu súng giựt được của lính mã tà hôm trước. Họ bắn tất cả 80 viên đạn, tức là đến viên  đạn cuối cùng. Bên chủ Chọt, 14 người chết tại trận, gồm chủ Chọt, tên thày bùa và con gái của chủ Chọt. Cô gái này đứng hàng đầu, xung phong khi nghinh chiến. Ngoài ra còn  khoảng 20 người bị thương, bị bắt giam.<br />
Tài liệu không nói rõ bên lính mã tà tổn thất ra sao (theo lời thuật lại sau này của người địa phương thì lính mã tà bị thương khá đông, nhưng nhẹ thôi).<br />
Những người thuộc phe chủ Chọt, luôn cả chủ Chọt được chôn vào địa điểm mà đến  nay người địa phương còn gọi là “mã chủ Chọt” ở giữa ruộng (đến vùng Phước Long hỏi ai cũng biết).<br />
Quan Thống đốc Blanchard de la Brosse chứng minh rằng cuộc thảm sát xảy ra là tất  yếu, không có cách nào khác hơn (ông ta muốn binh vực bọn thuộc hạ) nhưng nhìn nhận  rằng tên cò Bouchet bị thương lần trước và bọn lính mã tà đều quá dở.<br />
Người địa phương thì “khen ngợi” viên xã trưởng, thầy cai tổng và quan chủ quận  Phước Long là khôn ngoan và am hiểu tình hình : thà rằng trốn hoặc rút lui còn hơn là xông  pha vào vòng giáo mác. Khôn ngoan nhứt là viên chủ tỉnh Rạch Giá đã rút lui về chợ mà ở  cho yên thân, để rồi chụp mũ, cho cuộc khởi loạn có tánh cách chống Pháp. Chủ quận và hương chức làng Ninh Thạnh Lợi cũng muốn chụp mũ như vậy để khỏi gánh trách nhiệm về  những bất công mà họ đã gây ra.<br />
Quan Thống đốc không đồng ý rằng cuộc khởi loạn nhằm mục đích lật đổ ách thực dân  Pháp, vì người Miên ở các vùng phụ cận tuyệt nhiên không hay biết. Chủ Chọt không ngu  dại gì mà cử đồ đại sự với lực lượng vỏn vẹn 40 người.<br />
Lập luận thứ nhì, do một số đông báo chí Pháp ngữ đưa ra, lại thiên về “khảo cứu  chủng tộc” : người Miên vào mùa nắng thường nổi cơn “say máu ngà” giống như trường hợp  người Mã Lai say nắng, nổi cơn khùng (kêu là Amok) trở nên cuồng dại, hung hăng bất cần  thực tế, lý trí kiểm soát không được hành động. Chẳng qua là dân ở Ninh Thạnh Lợi chưa  được khai hóa, còn manh tánh chất thời cổ sơ của chủng tộc “ấn độ, Mã Lai”. Họ bảo rằng đây là vấn đề bịnh thần kinh, thuộc về y học !<br />
Lập luận thứ ba, của báo chí Việt ngữ ở Sài Gòn lúc bấy giờ, cho đây là cuộc khủng  hoảng của chánh sách điền địa bất công do người Pháp bày ra; viên chức địa phương tham  nhũng, giành đất của dân.<br />
Tuy không nói rõ rệt mình theo lập luận nào nhưng quan Thống đốc Nam kỳ lại trình  bày với quan Toàn quyền rằng theo ông ta thì “lịch sử của các tỉnh miền Tây Nam kỳ trùng  hợp với lịch sử của cách tổ chức về quyền tư hữu ruộng đất, và sự phản ứng của dân bản xứ,  của người Miên đối với quy chế về đất đai (mà chánh phủ sắp đặt cho họ)”. Rốt cuộc, quan Thống đốc chứng minh rằng mục tiêu đầu tiên của chủ Chọt chỉ là ăn thua với cường hào địa phương (xã trưởng và cai tổng) vì hai cá nhân này lấn đất của ông  ta. Đây không phải là vụ khởi loạn có tính chất chính trị nhưng là một vụ thường phạm.<br />
Tuy nhiên, vẫn theo ý kiến của viên Thống đốc này, chánh phủ nên chú ý hơn đến các  sốc Miên hẻo lánh ở miền Tây. Ông ta cũng hứa với quan Toàn quyền là sẽ cứu xét với tinh  thần rộng rãi một số nguyện vọng của người Miên, như việc đóng thuế, quy chế miễn đi lính  cho sư vãi, đồng thời thử nghiên cứu việc tách ra vài vùng đất ruộng dành đặc biệt cho  người Miên làm chủ. Và sẽ cứu xét một cách công bình những vụ khiếu nại về ruộng đất ở  làng Ninh Thạnh Lợi.<br />
ít ra, giặc chủ Chọt cũng làm cho thực dân Pháp và cường hào giựt mình trong nhiều  năm.</p>
<p><strong><span style="color:#990000;">Vụ án Nọc Nạn<br />
</span></strong>Cánh đồng Nọc Nạn thuộc làng Phong Thạnh, quận Giá Lai, tỉnh Bạc Liêu thời Pháp  thuộc. Về nguồn gốc của hai tiếng Nọc Nạn thì chưa ai giải thích thỏa đáng, hoặc là nơi đây  đất thấp, dân muốn cất nhà thì phải xốc nạn theo kiểu nhà sàn. Hoặc là tiếng Miên, nói trại  lại. Cánh đồng này nằm trên đường Bạc Liêu, Cà Mau, với con rạch Nọn Nạn. Vùng này đất  cao ráo và tốt.<br />
Những chiến sĩ quốc gia bấy giờ lên tiếng và theo dõi vì đây là cuộc tranh đấu giữa  người tiểu điền chủ chống cường hào, để giữ lại phần tư hữu tài sản mà chính ông bà họ đã  tạo ra. Không có gì chứng minh rằng họ hành động vì có người xui giục để khuấy động trong  địa phương.<br />
Cuộc tranh đấu xảy ra chỉ vì cường hào địa phương được che chở bằng những luật lệ quanh co và phức tạp của thực dân Pháp.<br />
Nhiều giai thoại truyền khẩu vẫn còn được nhắc nhở, chi tiết lần hồi có thể sai lạc. Chúng tôi căn cứ vào hai nguồn tài liệu căn bản :<br />
— Bài vè Nọc Nạn do tác giả vô danh được truyền tụng, lời lẽ mộc mạc, chi tiết khá cụ thể, lưu hành từ những năm 1930, 1931.<br />
— Loạt bài do ký giả Lê Trung Nghĩa (tự Việt Nam) đăng trên báo La Tribune  Indochinoise do Bùi Quang Chiêu làm chủ nhiệm. Bấy giờ, Bùi Quang Chiêu là chiến sĩ  quốc gia tiến bộ. Ký giả Lê Trung Nghĩa là người gốc ở Phong Thạnh, chuyển xảy ra tại quê quán nên ông hiểu rõ và đến địa phương nhiều lần, giúp gia đình nạn nhân bằng mọi cách,  khác hơn trường hợp một vài ký giả khác chỉ tường thuật đại khái để bán báo.<br />
Báo La Tribune Indochinoise từ ngày 17/8/1928 đến 24/8/1928 đặc biệt dành cho vụ án này với những bài chiếm trọn cả trang nhứt; những số trước đó cũng đã nhắc nhở từng chập.<br />
Bài vè Nọc Nạn chúng tôi không sưu tầm được phần sau, nên ghi phần đầu mà thôi :<br />
<em>Trời Nam thiên hạ thái bình,<br />
Kẻ lo nông nghiệp người gìn bán buôn.<br />
Ngàn năm gió thuận mưa tuôn,<br />
Lúa thì một giạ, giá thì đồng hai.<br />
Nhân dân ai nấy mừng thay,<br />
Rủ đi làm mướn giá rày đặng cao.<br />
Dưới sông, ca—nốt, đò, tàu,<br />
Lộ thì xe chạy, trước thì khách thương&#8230;<br />
&#8230; Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên,<br />
Bạc Liêu chữ đặt, bình yên dân rày.<br />
Mậu Thìn vốn thiệt năm nay,<br />
Một ngàn hai tám, tiếng rày nói vang.<br />
Phong Thạnh vốn thiệt tên làng,<br />
Giá Rai là quận, chợ làng kêu chung.<br />
Anh em Mười Chức công khùng,<br />
Bị tranh điền thổ, rùng rùng thác oan.<br />
Hăm lăm tháng chạp rõ ràng,<br />
Lúc bảy giờ sáng xe quan đến liền.<br />
Chợ đông đương nhóm tự nhiên,<br />
Thấy cò lính lại, người liền đến coi.<br />
Thuốc đạn, súng ống hẳn hoi,<br />
Hai cò bảo lính : “Đòi làng đến đây.<br />
Có trát biện lý bằng nay,<br />
Sai ta xuống rày, đong lúa đương tranh !<br />
Thị Trân là vợ huyện Lành,<br />
Lãnh án đành rành mướn bọn ta đi.<br />
Biện Toại nhà ở chốn ni ?<br />
Làng phải dẫn lộ ta đi đến liền”.<br />
Hai cò bước xuống đò nghiêng,<br />
Bảo làng với lính đi liên một đò.<br />
Phong Thạnh hương quản tên Cho,<br />
Ngồi trước mũi đò, bàn luận gần xa :<br />
“Xuống đây, ắt bọn nó ra,<br />
Dữ lành chưa biết việc mà làm sao ?”<br />
Nước ròng đò xuống đi mau,<br />
Tám giờ đã tới lao xao lên liền.<br />
Cò bảo lính đứng liên liên,<br />
Còn làng phải đứng ra riêng một hàng.<br />
Trong nhà Mười Chức luận bàn,<br />
Than cùng từ mẫu hai hàng lâm ly :<br />
“Dầu con thác xuống âm ti&#8230; </em></p>
<p>Về những bài báo do Lê Trung Nghĩa viết, chúng tôi sử dụng với sự dè dặt. Bấy giờ có những sự thật mà ký giả biết rõ nhưng không thể viết ra được, vì là cuộc vận động công  khai trên báo chí để cứu nạn nhân.<br />
Lời khai trước tòa án của những nhân chứng hoặc của người trong cuộc phải được hiểu  qua khía cạnh riêng : lắm khi, họ phủ nhận sự thật vì sự thật ấy bất lợi cho họ trước tòa,  hoặc họ biết nhưng lại khai rằng không biết, chưa kể đến những người làm chứng bị mua chuộc bằng tiền bạc.<br />
Trước năm 1900, một nông phu đến khai phá rừng ở rạch Nọc Nạn trên diện tích non  73 mẫu tây. Năm 1908, ông này chết để lại cho con là hương chánh Luông. Đất thì rộng, sức người và vốn liếng có hạn, năm 1910, anh em hương chánh Luông bắt đầu làm việc tích cực  hơn. Đất khai phá phải trải qua hai ba năm đầu không có huê lợi vì cây cỏ còn nhiều, nào  gốc cây, nào đất trủng quá thấp, nạn chuột bọ, heo rừng. Lúc bắt đầu khai phá thì vùng này  hoang vu, thưa thớt dân cư, chẳng thấy ai đến tranh giành cả. Tỉnh Bạc Liêu hẻo lánh, việc  đo đạc ruộng đất để lập bộ rất chậm trễ so với các tỉnh miền trên.<br />
Năm 1910, hương chánh Luông làm đơn xin khẩn chánh thức 20 mẫu và chịu đóng  thuế trên diện tích này. Đơn ấy được chấp thuận và được cấp biên lai.<br />
Năm 1912, họ làm ruộng thêm trên khoảnh đất ấy, canh tác trọn và xin rước kinh lý (trường tiền) đến đo đạc theo luật định, để xin bằng khoán chính thức. Viên trường tiền tên  là Arboratie đến đo đạc, làm phúc trình và chủ tỉnh Bạc Liêu trao cho ông hương chánh  Luông bản đồ phần đất nói trên.<br />
Năm 1916, một người tên là Tăng Văn Đ. đứng ra tranh cản, viện lý do phần đất mà  hương chánh Luông và gia đình đang canh tác là công lao của y một phần nào. Tăng Văn Đ.  được chủ tỉnh đòi đến xử và thất kiện. Tuy nhiên, viên chủ tỉnh lại cho Tăng Văn Đ. một sở  đất nhỏ, cắt ra từ phần đất của ông chánh Luông.<br />
Phần đất của ông chánh Luông gồm 72,95 mẫu, bị cắt cho Đ. bốn mẫu rưỡi tức là chỉ còn lại 68,45 mẫu mà thôi. Để giải quyết vụ này, viên chủ tỉnh nói trên cấp cho hương  chánh Luông một tờ bằng khoán tạm, số 303 đề ngày 7/8/1916.<br />
Ông hương chánh Luông mất. Biện Toại là con trai lớn của gia đình và các em đành  nhường nhịn và chấp nhận, mặc dầu đất của tổ phụ để lại mất hết 4 mẫu rưỡi. Nên nhớ  rằng bằng khoán cấp cho Biện Toại là bằng khoán tạm.<br />
Tưởng rằng công việc canh tác được yên ổn, dè đâu năm 1917 xảy ra một biến cố khác :  sự can thiệp của một người Huê kiều giàu khét tiếng trong tỉnh : ông bang Tắc, tên thật là Mã Ngân. Ông bang này muốn khẩn đất bằng con đường quanh co nhưn hữu hiệu, ông ta  rành luật lệ và biết rõ những sơ hở.<br />
Số là giáp ranh với phần đất của gia đình hương chánh Luông do Biện Toại là con trai đứng thay mặt, có phần khác do Phan Văn Được làm chủ. Sau khi chết, đất của Phan Văn Được để lại cho vợ hưởng, người vợ này tên Nguyễn Thị Dương. Ông bang Tắc (Mã Ngân) chú ý nhiều vào phần đất của Nguyễn Thị Dương, đến gặp bà này mà trả giá và tìm đến  hương chức làng Phong Thạnh để xem xét lại kỹ.<br />
Hương chức làng Phong Thạnh tiết lộ rằng phần đất của anh em Biện Toại, giáp ranh  với phần đất của Nguyễn Thị Dương đã khai thác xong nhưng chưa có bằng khoán chính thức.<br />
Là người rành luật lệ, ông bang làm giấy tờ mua đất, cho thêm bà Dương chút ít tiền  để trong tờ bán đất ghi rằng “bán phần đất với ranh giới bao trùm luôn khoảnh đất mà anh  em Biện Toại đang khai thác”.<br />
Lập tức, ông bang Tắc tìm cách hăm he, cho anh em Biện Toại biết rằng đất mà họ  đang canh tác là của ông ta, vì ông ta đã mua lại của bà Nguyễn Thị Dương rồi. Lẽ dĩ nhiên,  anh em Biện Toại phản ứng ngay, tìm cách kêu nài lên quan trên rằng bà Nguyễn Thị  Dương đã bán phần đất mà họ đã có bằng khoán tạm cho bang Tắc, và bang Tắc đã lấn đất.<br />
Đơn đã gởi bốn lần đến chủ tỉnh Bạc Liêu và bốn lần lên Thống đốc Nam kỳ, luôn cả  quan Toàn quyền Đông Dương để kêu nài. Nhưng việc khác lại xảy ra.<br />
Năm 1919, bang Tắc lại xúi dục tá điền của ông ta xông qua phần đất của anh em Biện  Toại, đốt một căn chòi ruộng và giết một con trâu để dằn mặt. Nhưng anh em Biện Toại vẫn  không nao núng, tin nơi công lý. Bấy giờ, chủ quận ở Giá Rai là ông phủ H. Theo lời tự thuật của quan phủ này thì khi đến trấn nhậm tại Giá Rai, hay tin có cuộc tranh chấp giữa ông bang Tắc và anh em Biện  Toại, ông ta đã đòi ông bang Tắc tới để phân xử, đề nghị với ông Bang là nên nhân nhượng  chia đất ra hai phần đồng đều, ông bang phân nửa, anh em Biện Toại phân nửa (như vậy là trong thực tế, ông bang đã lấn thêm một phần đất đôi chục mẫu). Quan phủ H. cũng phân trần rằng chính ông đã nhờ hương cả trong làng để đưa đề nghị ấy với anh em Biện Toại, nhưng anh em ông này không chấp nhận sự chia hai đồng đều ấy.<br />
Trong vụ án Nọn Nạn, dư luận đã đổ lỗi cho quan phủ H. Phải chăng quan phủ này  nhận số tiền của ông bang nên đưa đề nghị này ? Nếu là người vô tư, tại sao ông không mời  anh em Biện Toại đến dinh quận để phân giải mà chỉ mời có một mình ông bang ? Quan  phủ thanh minh với dư luận như vậy thì ta tạm tin như vậy.<br />
Cũng năm ấy (1919), quan phủ H. được làm chủ Tịch Hội đồng phái viên để xác nhận  sở hữu chủ của từng sở đất ở làng Phong Thạnh với diện tích chính xác, ranh giới, để chánh  thức cấp bằng khoán.<br />
Mặc dầu anh em Biện Toại khiếu nại nhưng với thế lực của ông bang, với sự hậu thuẫn  của một số người, phần đất của anh em Biện toại lại bị chính thức xem như là đất của ông  bang Tắc. Về sau, ra trước tòa đại hình, Biện Toại vẫn cả quyết đây là vụ ăn hối lộ, luôn cả viên họa đồ là Roussotte cũng ăn vì thoạt tiên, khi đo đạc tên Pháp này cho rằng đất ấy là của Biện Toại, nhưng khi đã nhận tiền của bang Tắc, hắn nói ngược lại đó là của bang Tắc.<br />
Mặc dầu vậy, anh em Biện Toại vẫn cương quyết chống đối. Đất đã mất rồi, họ ở đó mà  chờ&#8230; đèn công lý của thực dân Pháp !<br />
Bang Tắc cứ tiếp tục lo hợp thức hóa phần đất chiếm cứ mà Hội đồng phái viên (có ông  phủ H. làm chủ tịch) xác nhận là của chính bà Nguyễn Thị Dương ưu tiên khai khẩn rồi  bán lại cho ông ta. Ngày 13/4/1926, Thống đốc Nam kỳ ký nghị định bán thuận mãi sở đất  50 mẫu với giá 5000 đồng cho Mã Ngân (tên thật của bang Tắc).<br />
Bang Tắc cứ hăm dọa, buộc anh em Biện Toại đong lúa ruộng vì với nghị định trên và với tờ bằng khoán chính thức, anh em Biện Toại đã trở thành tá điền trên phần đất của họ.<br />
Anh em Biện Toại chống đối ra mặt. Bang Tắc không dám làm to chuyện vì ông ta đã  từng dính líu vào vài chuyện rắc rối về pháp lý, nếu sanh sự thêm thì nhà nước thực dân lúc  bấy giờ có thể dùng luật lệ mà trục xuất ông ta về Tàu, cộng với mấy tọi trạng trước. Ông ta  nghĩ ra một biện pháp rất có lợi và rất ôn hòa để thắng đối phương. Ông ta bán sở đất trên  cho một bà rất có uy thế : bà Hà Thị Tr., mẹ vợ của người anh ông phủ H. (vì vậy mà sau này, dư luận cho rằng vụ giựt đất là do phủ H. tiếp tay với bang Tắc một cách đắc lực). bà  này mua xong, bèn đòi thâu địa tô trên phần đất mà anh em Biện Toàn đang canh tác.<br />
Ngày 6/12/1927, bà Tr. xin được một án lịnh của tòa cho phép tịch thâu tại chỗ tất cả lúa mà anh em Biện Toại gặt được. Anh em Biện Toại nghe tin ấy, bắt đầu lo sợ.<br />
Ngày 13/2/1928, lính mã tà tới gặp anh em Biện Toại để thi hành lịnh thâu lúa, anh  em Biện Toại kháng cự.<br />
Ngày 14, tức là ngày hôm sau, lính mã tà lại vô lần thứ nhì. Anh em Biện Toại cũng  chống cự, lính mã tà lại rút lui.<br />
Ngay trong đêm ấy, anh em Biện Toại đoán chắng rằng ngày mai, lính mã tà sẽ đến  với lực lượng đông đảo và thái độ cứng rắn hơn vì là lần thứ ba, sau hai lần cảnh cáo.<br />
Anh em trong gia đình tụ họp lại, làm lễ lạy ông bà. Mẹ là bà hương chánh Luông cũng  được mời ngồi để các con lạy, gọi là báo hiếu lần chót. Anh em bèn trích huyết vào cái tô, thề  ăn thua, không sợ chết. Để thi hành kế hoạch, anh em bày ra chuyện bắt thăm để nhờ vong  linh ông bà chỉ định ai là người đứng ra hy sinh đầu tiên. Lần thứ nhứt, đứa em gái tên  Trọng lại rút nhằm thăm. Anh em không muốn thấy đứa em gái lại đảm nhận sự hy sinh  quá lớn lao nên đồng ý là cho bắt thăm lần thứ nhì.<br />
Và lần thứ nhì này, cũng cô Trọng được lá thăm ấy. Cô Trọng bình tĩnh đứng dậy, bảo  các anh :<br />
— Ông bà đã dạy, em xin liều chết !<br />
Nên nhớ một chi tiết : Trước đó, khi được án tòa và thấy thái độ quá cứng rắn của anh  em Biện Toại, hương chức làng tự ý bắt giam 24 giờ bà hương chánh Luông để hăm dọa.  Biện Toại vì thương mẹ nên hứa sự không chống cự. Nhờ đó, bà hương chánh được về nhà để các con lạy lần chót.<br />
Lúc đến công sở, thái độ của Biện Toại rất buồn rầu.<br />
Lại còn một chi tiết khác : thày hương thân trong làng đã mướn người gặt lúa của anh em Biện Toại, vì lịnh tịch thâu đưa tới nhằm lúc lúa chín. Mười Chức, em Biện Toại đã xin phép vị hương thân để được tự mình gặt lúa nhưng vị hương thân từ chối, hồ nghi rằng  nhân cơ hội ấy Mười Chức có thể giấu bớt lúa. Khi ra tòa, viên Chưởng lý thắc mắc : tại sao  số lúa mà hương chức làng mướn gặt chỉ có 2.080 giạ thay vì 3.500 giạ như phỏng định ?  Phải chăng hương chức làng đã lén ăn cắp bớt số lúa này để xài riêng ? Và nếu lúa gặt được  nhiều, sau khi đong lúa ruộng theo án lịnh tòa mà còn dư lại đủ ăn trong mấy tháng đầu  năm thì anh em Biện Toại chưa ắt tuyệt vọng đến mức, để rồi thảm trạng lại xảy ra !<br />
Biện Toại sống với mẹ và các em trong đại gia đình, số lúa thu hoạch chia ra vẫn là ít. ở xứ Bạc Liêu, mỗi năm gia đình nào cũng phải dư nhiều lúa để bán mà sắm quần áo, thuốc  men, chớ không như ở Tiền giang chỉ cần đủ lúa ăn, còn bao nhiêu món khác trong gia đình  đều mua sắm nhờ hoa màu phụ như vườn dừa, chuối, hoặc chăn nuôi.<br />
Thảm trạng xảy ra vào sáng ngày 16/2/1928. Tìm lại sự thật, nhứt là các chi tiết thì hơi khó khăn. Lính mã tà thì cương quyết đổ tội cho đám anh em Biện Toại (trong giấy thuế thân, ghi sai là Tại). Những nạn nhân trong cuộc thì muốn chứng minh rằng họ chỉ tự vệ.  Một số người trong cuộc đã chết, nếu còn sống thì họ sẽ đưa ra nhiều bằng chứng khác.<br />
Đại khái, những nét lớn như sau :<br />
Khoảng 7 giờ sáng, hai tên cò Tây là Tournier và Bouzou cùng bốn người lính mã tà từ  Bạc Liêu đến Phong Thạnh để tiếp tay với hương chức làng mà thi hành lịnh án của tòa, đong số lúa hiện ở trên phần đất của anh em Biện Toại. Hai viên cò này tưởng là chuyện  thông thường, họ không được cho biết là sẽ gặp khó khăn. Tên cò Tournier vừa mua được  cây súng săn nên đem theo, dọc đường anh ta còn lạc quan, bắn thử một phát chết một con  cò. Cùng đi với họ đến đống lúa có hương thân, hương hào và hương quản làng sở tại;<br />
Anh em của Biện Toại cất nhà rải rác hơi xa nhau, sát bờ rạch. Đống lúa thì ở ngoài  ruộng, cách nhà họ chừng 500 thước.<br />
Dọc đường, khi đi ngang qua nhà Biện Toại, hương hào kêu réo để mời chứng kiến việc  đong lúa nhưng không ai trả lời. Nhà cứ đóng cửa. Lập tức, hương hào bèn đến nhà Biện  Toại và đến nhà bà mẹ là bà hương chánh. Chẳng ai chịu đến cả.<br />
Đến gần đống lúa, tên cò Tournier yêu cầu hương chức làng phải mời một người trong  gia đình, thí dụ như một người em của Biện Toại đến chứng kiến việc đong lúa.<br />
Mười lăm phút sau, một cô gái đi ra, hướng về đống lúa : cô Nguyễn Thị Trọng, em của  Biện Toại. Theo sau là đứa cháu gái của Trọng, đứa bé này tên là Tư, 14 tuổi.<br />
Thoạt tiên, tên cò Tournier đuổi cô Trọng, bảo rằng con gái còn nhỏ làm sao hiểu đầu  đuôi cuộc tranh chấp đất ruộng này được ! Viên cò nói là đến đây để trợ giúp hương chức  làng đong số lúa theo lịnh tòa.<br />
Cô Trọng phản đối bằng lời lẽ khẳng khái, trong đó có câu “Chết sống ở đây”. Viên đội  mã tà thông dịch lại. Tên cò Tounier ra lịnh đuổi lần thứ nhứt. Cô Trọng cứ đứng đó, yêu  cầu khi đong lúa xong thì hương chức phải giao cho cô một giấy biên nhận ghi rõ bao nhiêu  giạ.<br />
Tournier trả lời rằng không có chuyện trao biên nhận. Rồi thì Tournier tát tai cô Trọng.<br />
Cô Trọng rút trong áo ra một cây dao nhỏ, loại dao có miếng sặt chận ở trước cán. Cò  Tournier đập một báng súng khiến cô té xỉu. Cò Bouzou bèn tiếp tay, giựt cây dao của cô bà Bouzou lại vụng về khiến lưỡi dao đâm tay ông ta một vết xoàng không đáng kể. Rồi thì lính  mã tà trói cô Trọng để đó.<br />
Đứa cháu nãy giờ đứng ở ngoài xa, khi thấy cô Trọng ngã gục và bị trói, bèn chạy về  nhà, báo động.<br />
Từ trong xóm nhà, anh em Biện Toại chạy ra, mang theo nào là dao mác, gậy gộc. Họ chia ra hai tốp. Tốp thứ nhứt do Mười Chức, em ruột Biện Toại cầm đầu; tốp thứ nhì do thị  Nghĩa, vợ Mười Chức cầm đầu.<br />
Tên cò Tournier ra lịnh cho bọn lính chuẩn bị ứng phó. Tournier bảo một tên lính ra lịnh cho Mười Chức đừng dùng vũ khí.<br />
Mười Chức chạy đến quá gần, cò Tournier bèn bắn chỉ thiên một phát. Nhưng Mười  Chức cứ tiến tới và tên cò lại nhắm ngay Mười Chức mà bắn.<br />
Tuy bị thương rất nặng, Mười Chức vẫn cầm mắc gượng nhào tới, đâm trúng bụng tên  Tournier, rồi cả hai đều ngã xuống.<br />
Anh em của Mười Chức tấn công bọn lính mã tà và tên cò Bouzou. Cò Bouzou rút súng  lục, bắn làm bị thương nặng bốn người. Cò Tournier tuy bị thương nặng nhưng cũng bò lết  lại gần cò Bouzou. Vì bắn không còn một viên đạn, Bouzou bèn giựt khẩu súng lục của Tournier mà bắn tiếp. Một số người bị thương, bị chết. Miều là em rể của Biện Toại giựt  được khẩu súng mút—cơ—tông của Bouzou. Với khẩu súng ấy, Miều chạy ra xa bắn về phía bọn lính mã tà nhưng không gây thương tích cho ai. Lính mã tà cũng rút lui một lượt.<br />
Nhân viên công lực đến điều tra, được biết trong số người “làm loạn” có 5 người đàn ông, 2 người đàn bà và 3 người đàn bà khác không biết tên.<br />
Ngay buổi sáng hôm ấy, Mười Chức và vợ (tên Nghĩa) đều chết, luôn cả người anh tên  Nhẫn cũng chết.<br />
Nhịn (trong giấy thuế ghi sai là Nhịnh, anh của Mười Chức), Liễu (em gái của Mười  Chức) đều bị thương nặng, được đưa tới nhà thương. Liễu còn sống. Ba ngày sau, Nhịn chết.  Tóm lại, về phía gia đình Biện Toại thì có 4 người chết (ba đứa em ruột và một người em  dâu là vợ Mười Chức). Nên chú ý là vợ Mười Chức đang mang thai. Bài vè Nọn Nạn ở đoạn chót kể lại với giọng trầm hùng là “Năm <em>người đổi một thằng Tây</em>” tức là kể luôn đứa hài  nhi còn trong bụng mẹ.<br />
Về phía đối phương, chỉ có tên cò Tournier chết ngày 17, khi nằm ở nhà thương Bạc  Liêu.<br />
Bọn hương chức hội tề đã nhanh chân bôn tẩu từ khi thấy tình hình quá căng thẳng.<br />
Cô Trọng bị bắt. Biện Toại với con trai là Tía thì ra chợ Bạc Liêu với khẩu súng mà Miều đã giựt được. Ông Biện nộp súng và thưa với nhà nước về chuyện các em bị cò Tây giết. Ông Biện và đứa con bị bắt luôn. Miều thì hôm sau bị bắt. Còn một người duy nhất  trốn thoát là Dậu.<br />
Hoàn cảnh của bà hương chánh Luông thật đáng thương hại : các con của bà đều bị  chết, không chết thì bị bắt. Bà ở nhà một mình.<br />
Báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ đua nhau khai thác vụ Nọc Nạn. Ký giả xuống tận nơi điều  tra. Dư luận từ mọi giới, luôn cả giới thực dân đều thuận lợi cho gia đình Biện Toại. Họ bị áp bức quá lộ liễu, họ là tiểu điền chủ siêng năng nhưng bọn cường nào cấu kết với quan lại  tham nhũng đã đưa họ vào đường cùng. Hơn nữa, bấy giờ phong trào quốc gia đang sôi nổi, xu hướng chống thực dân lan tràn, đám táng cụ Phan Chu Trinh vừa xảy ra vào hai năm  trước (1926). Đảng Lập Hiến ra đời, thủ lãnh là ông Bùi Quang Chiêu còn đang hăng hái.  Tuy là theo chủ trương Pháp, Việt đề huề, ông cũng cố gắng làm một chuyện xây dựng mặc  dầu ông phủ H. nối giao cho bang Tắc, là người của đảng ông. Ngoài ra, còn sự giúp đỡ tận  tình của ký giả Lê Trung Nghĩa là cây bút phóng sự của tờ La Tribune Indochinoise do chính Bùi Quang Chiêu chủ trương.<br />
Trong giới trí thức Pháp, nhiều người tiến bộ đã bực mình vì biến cố Nọc Nạn. Ký giả  Lê Trung Nghĩa nhờ hai luật sư rất tận tâm là Tricon và Zévaco biện hộ cho gia đình nạn  nhân, cãi không ăn tiền. Người có chút lý trí phải nhận rằng anh em Biện Toại chẳng mảy  may gì thù oán cá nhân tên cò Tournier cả.<br />
Tòa Đại hình Cần Thơ xửa vụ án này vào ngày 17/8/1928. Ông Rozario ngồi chánh án,  công tố viên là Moreau. Ông Moreau này khá tốt và công bình. Ngoài ra còn một ông hội  thẩm là ông Sự, rất tốt.<br />
Người Pháp đứng trước tình thế gay go. Mặc nhiên, họ đem ra xử những hậu quả của  luật lệ bất công do chính họ ban hành, tức là họ xử cái chế độ của họ. Tha bổng tất cả nạn  nhân thì không được, nhưng lên án thì lên án làm sao ? Chuyện này cả nước đều hay biết.<br />
Trừ báo La Dépêche lIndochine ra thì tất cả báo chí Sài Gòn đều có mặt, theo dõi phiên  tòa : báo LíEcho Annamite, Đông Pháp thời báo, LíImpartial, LíOpinion, Le Courrier  Saigonnais, Le Phare, La Tribune Indochinoise.<br />
Tòa tuyên án như sau : Biện Toại, Nguyễn Thị Liễu (em út của Toại) và Tia (con trai của Toại) được tha bổng. Cô Nguyễn Thị Trọng, 6 tháng tù (nhưng đã bị giam sáu tháng  rồi). Miều, chồng của Liễu (em rể của Biện Toại) : 2 năm tù vì có tiền án ăn trộm.<br />
Đây là bản án rất nhẹ, so với những bản án khác thời thực dân. Qua lời khai của can phạm và những người làm chứng, chúng ta biết thêm những chi tiết quan trọng sau đây :<br />
— Từ năm 1910, Biện Toại đã vào đơn xin trưng khẩn phần đất mà về sau xảy ra tranh  chấp. Bấy giờ, chủ tỉnh có cấp cho biên lai. Nhưng biên lai ấy bị ăn cướp đánh lấy mất, Toại  làm đơn xin bổn nhì. Điều rất lạ là bộ sổ ghi đơn xin khẩn đất ở Bạc Liêu vào năm ấy lại bị mất. Ai làm mất ? Phải chăng là sự cố ý đánh cắp, thủ tiêu hồ sơ trong văn khố cũ, để cường  hào tha hồ tung hoành ! Viên chức ở tòa bố Bạc Liêu lúc vụ án xảy ra là ông phủ Tâm.  Nưhng ông này xác nhận rằng tài liệu cũ bị đánh cắp từ lâu rồi, trước khi ông nhận chức.<br />
— Ông hội thẩm Sự đã nhấn mạnh cho tòa nhớ rằng tiếng Việt khó dịch, thí dụ như mấy tiếng “Chết sống ở đây” mà cô Trọng trả lời với tên cò Tournier. Nếu viên đội thông dịch sai thì viên cò có thể nổi giận. “Chết sống ở đây” có hai nghĩa. Một là “Dầu chết hay  sống, tôi vẫn đứng tại đây, đuổi tôi, tôi không đi đâu hết”. Hai là “Mạng đổi mạng tại đây”.<br />
— Hương thân Hồ Văn Hi xác nhận rằng tên cò Tournier bắn trước, sau đó Mười Chức  mới đâm tên cò. Chi tiết này xác nhận lời đồng bào địa phương đồn đãi cho rằng Mười Chức  là người đầy đủ tiết tháo và chí khí anh hùng : Bị đạn rồi, nhưng còn đủ thần lực và bình  tĩnh để ngã về phía trước mà đâm kẻ thù cho bằng được, đâm rất trúng, rồi mới chịu chết vì bị thương quá nặng !<br />
— Công tố viên Moreau lưu ý với tòa : Có thể là viên thơ ký lãnh trách nhiệm ghi nhận  đơn xin khẩn đất hồi năm 1910 đã trao cho Biện Toại một biên lai nhưng không có đánh số,  với dụng ý dành phần đất ấy cho người khác.<br />
— Lâm Văn Kiết từng có chân trong Hội đồng phái viên đã xác nhận với Hội đồng :  Phần đất tranh chấp là của Biện Toại khai khẩn trước tiên. Công tố viên bèn nói tiếp : Lâm Văn Kiết chỉ là hương chức làng, làm sao dám cãi lại ông phủ (ám chỉ ông phủ H., người  theo phe của bang Tắc).<br />
— Tri phủ Ngô Văn H. khai rằng mặc dầu thấy có tranh chấp về đất đai, nhưng hồi  năm ấy với danh nghĩa là chủ tịch Hội đồng phái viên, ông ta đành buông trôi vì đo lại ranh  rấp đất đai là vấn đề phiền phức. Viên họa đồ đã tốn công đo đất ở làng Phong Thạnh suốt 3 năm rồi. Công tố viên bèn quở trách cho rằng vì công lý không thể viện lý do là mất thời giờ,  nếu thấy bất công là phải đo đạc, xem xét ranh đất trở lại. Công tố viên nói thẳng : lề lối của phủ H. trong lúc làm chủ tịch Hội đồng phái viên thật là bừa bãi, vì phủ H. bừa bãi nên xảy  ra vụ án bi thảm này.<br />
Bị luật sư chất vấn, phủ H. đành thú nhận rằng chính anh của ông ta chớ không phải ông ta là người đang hùn vốn với bang Tắc để khai thác hai chiếc tàu đò đang chạy trên  đường Bạc Liêu, Cà Mau mang tên là tàu Hồ Nam và Hồ Bắc.<br />
— Khi bang Tắc (Mã Ngân) ra làm chứng, ông ta bảo rằng khong hối hận gì cả. Viên hội  thẩm hỏi Mã Ngân : “Dân chúng cho rằng đáng lý ra ông phải chết thay cho viên cò  Tournier”. Mã Ngân nín, không trả lời.<br />
— Qua lời khai của bà Hồ Thị Tr., công chúng thấy có sự sắp sặt của bang Tắc để bán lại cho bà ta phần đất tranh chấp, vì ba ta đủ sức ăn thua công khai hơn. Mã Ngân muốn  phủi tay.<br />
Trước khi buộc tội, Công tố viên Moreau yêu cầu Tòa nên thận trọng trước khi phán  quyết. Công tố viên nhắc lại rằng vụ này xảy ra sau vụ án Ninh Thạnh Lợi hồi năm ngoái.  Vụ này chứng tỏ dân chúng đang sống trong tình trạng căng thẳng và vấn đề đất đai là chuyện nghiêm trọng. Người ta có thể xúc phạm bất cứ chuyện gì, nhưng nên tránh xúc  phạm tới điền thổ. Mã Ngân chỉ là người mua đất để cho tá điền mướn lại, trong khi Biện  Toại là người đích thân canh tác. Công tố viên trách cứ bà Hồ Thị Tr. là giàu có (tài sản ước  từ 2 đến 300.000 đồng lúc bấy giờ) mà quá nhẫn tâm đòi tịch thu tất cả lúa gặt hái được của  Biện Toại lại còn đòi thêm một số tiền khác. Công tố viên bảo rằng hoàn cảnh của Biện Toại  thật là khốn nạn : Những người không tình cảm đến giựt đất, rồi bọn quyền thế lại tiếp tay với bọn người sang đoạt. Công tố viên Moreau yêu cầu Tòa :<br />
— Tha bổng Biện Toại và con là Tia.<br />
— Cho cô Trọng được hưởng trường hợp giảm khinh (ra trước Tòa cô Trọng cứ chối là  không có cầm dao, mặc dầu đủ bằng cớ).<br />
— Cho Miều (em rể của Biện Toại) được hưởng trường hợp giảm khinh, mặc dầu Miều  đã ba lần bị can án ăn trộm.<br />
— Tha bổng cô Liễu (em Biện Toại, vợ của Miều) vì thiếu bằng cớ.<br />
Luật sư Tricon đứng lên biện hộ, đại ý nhận định đây chỉ là vấn đề điền địa. Ông cho  rằng chánh sách trưng khẩn ruộng đất hồi thời nhà Nguyễn thật là công bằng và thích hợp với thực tế, trong khi những luật lệ về trưng khẩn đất đai do người Pháp đặt ra chưa được  hoàn hảo có thể gây nhiều rắc rối lúc áp dụng vào thực tế. Thời gian quá kéo dài, từ khi đương sự được tạm cấp đất đến khi được cấp vĩnh viễn; vì vậy mà xảy ra cưỡng đoạt, gian  giảo. Những người trong Hội đồng phái viên chỉ ngồi tại chỗ, không chịu bước chân xuốn  bùn mà tới sở đất để xem xét. Họ quyết định theo ý kiến cho những người lương thiện hoặc kém lương thiện báo cáo lại.<br />
Luật sư Tricon kết luận đại để :<br />
— Biện Toại đã tranh đấu với rừng rậm để khai phá và tranh đấu với tử thần. Sau một  ngày làm lụng khổ nhọc, anh em trở về chòi, sau khi ăn cơm, họ cho rằng chết có lẽ sướng  thân hơn là sống trong hoàn cảnh nhọc nhằn. Sau khi tranh đấu với tử thần (có lẽ luật sư muốn nói tới bịnh rét rừng), anh em trong gia đình lại còn phải tranh đấu với những người  khác, tức là bọn người chỉ biết có đồng tiền, làm giàu bằng thủ đoạn sang đoạt. Sau khi tranh đấu với bọn người nói trên, họ còn phải tranh đấu với thủ tục pháp lý. Chúng ta,  những người Pháp, nên xây dựng ở xứ này một chế độ độc tài. Không phải độc tài bằng sức mạnh của súng đạn, nhưng là sự độc tài của tình cảm cao đẹp.<br />
Luật sư Zévaco đứng lên biện hộ, ca ngợi lời buộc tội của Công tố viên, vì Công tố viên  đã lưu ý đến sự thật, đến công lý và cả lòng nhân đạo. Luật sư phân chia ra hai vụ án, vụ tranh chấp điền thổ và vụ án giết người.<br />
Luật sư cho rằng chánh sách của nhà nước thì tốt, nhưng nhiều người thừa hành xấu  đã làm cho chánh sách trở nên xấu đối với dân chúng. Việc cai trị trở thành xấu nếu các  quan phủ (chủ quận) là người ác độc. Sau khi xảy ra thảm trạng, có lẽ nhà nước nên nói  thẳng với Mã Ngân : “Chúng tôi trả lại cho ông số tiền 1.080 đồng mà ông đã xuất ra theo  giá của nhà nước để mua phần đất của Biện Toại. Và xin ông để nhà nước được yên”. Luật  sư nhắc lại ý kiến của Công tố viên là muốn cho bộ máy cai trị có lề lối đứng đắn thì phải sa thải những kẻ bất lương. Luật sư nói thêm rằng : Đuổi những tên bất lương ở cấp dưới cũng  chưa đủ, phải đuổi những người ở cấp cao hơn mà bấy lâu nhà nước đã tin cậy. Nên sa thải vài ông phủ, ông huyện bất hảo. Chúng ta đã thấy rõ hành động của cặp bài trùng : Mã Ngân cấu kết với một ông phủ chủ quận. Tên chánh phạm của tấn kịch đẫm máu này chính  là phủ H.<br />
Trạng sư Zévaco cũng xin tòa tha thứ cho các bị can và lên tiếng : Xin qů ngài đừng  đưa ra một bản án nghiêm khắc, một bản án được luận ra vì phẫn nộ. Bởi vì những người  nông phu khốn nạn này mai đây cũng sẽ bị trừng phạt khá đầy đủ rồi, khi họ trở về tới nhà.  Thừa phát lại sẽ tới để tịch thâu số lúa của họ, và lần này, quý tòa có thể tin rằng không  bao giờ xảy ra vụ nổi loạn nữa đâu. Thưa quý tòa, lần này sẽ có một bà lão khóc về cái chết  của bốn đứa con. Bốn người này đã chết, vì họ tưởng rằng có thể tự lực gìn giữ phần đất  ruộng mà họ đã từng rưới mồ hôi và máu của họ trên đó.<br />
Một số người Pháp ở Cần Thơ và ở vài tỉnh lân cận đã đến xem phiên tòa gay cấn này,  họ tỏ ra hài lòng với bản án. Vài người ở Phong Thạnh xin gặp những người bị tội và xin  phép cho tội nhân ăn bữa cơm với thức ăn đem sẵn.<br />
Một tiệc bày ra tại Cần Thơ để thết đãi hai vị luật sư và ký giả của các báo Pháp và  Việt, do một số đồng bào ở Phong Thạnh và một số nhân sĩ như các ông Huỳnh Minh Chí, Nguyễn Duy Biện, Nguyễn Viết Trọng ở Giá Rài, ông Bùi Văn Túc ở Long Điền. Nên hiểu  đây là thói trung hậu và hào hoa cố hữu của dân Bạc Liêu xưa nay. Một đại diện đứng lên  cám ơn hai luật sư và bà hương chánh Luông cũng đến cám ơn họ.</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/chevietnam.wordpress.com/170/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/chevietnam.wordpress.com/170/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/chevietnam.wordpress.com/170/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/chevietnam.wordpress.com/170/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/chevietnam.wordpress.com/170/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/chevietnam.wordpress.com/170/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/chevietnam.wordpress.com/170/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/chevietnam.wordpress.com/170/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/chevietnam.wordpress.com/170/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/chevietnam.wordpress.com/170/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/chevietnam.wordpress.com/170/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/chevietnam.wordpress.com/170/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/chevietnam.wordpress.com/170/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/chevietnam.wordpress.com/170/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=170&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ph%e1%bb%a5-l%e1%bb%a5c/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/bccd66a218a0b2086db33dbc931d297c?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">chevietnam</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Lịch sử khẩn hoang miền Nam(Sơn Nam): Chương II-6:  Những triệu chứng bất ổn</title>
		<link>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ch%c6%b0%c6%a1ng-ii-6-nh%e1%bb%afng-tri%e1%bb%87u-ch%e1%bb%a9ng-b%e1%ba%a5t-%e1%bb%95n/</link>
		<comments>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ch%c6%b0%c6%a1ng-ii-6-nh%e1%bb%afng-tri%e1%bb%87u-ch%e1%bb%a9ng-b%e1%ba%a5t-%e1%bb%95n/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 07 Jul 2009 17:07:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator>chevietnam</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử khẩn hoang miền Nam - Sơn Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://chevietnam.wordpress.com/?p=168</guid>
		<description><![CDATA[Việc khai thác đất đai ở Nam kỳ đem lại nguồn lợi đáng kể cho thực dân : bán đất công  thổ, thâu thêm thuế điền, thâu thuế xuất cảng lúa gạo, dân tiêu thụ thêm hàng hóa nhập  cảng. Sau trận thế chiến thứ nhứt, địa vị người Pháp ở thuộc địa được củng [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=168&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Việc khai thác đất đai ở Nam kỳ đem lại nguồn lợi đáng kể cho thực dân : bán đất công  thổ, thâu thêm thuế điền, thâu thuế xuất cảng lúa gạo, dân tiêu thụ thêm hàng hóa nhập  cảng.<br />
Sau trận thế chiến thứ nhứt, địa vị người Pháp ở thuộc địa được củng cố hơn. Nước  Pháp thắng trận, các nước ở Đông Dương góp phần để giúp mẫu quốc với con số khá cụ thể :<br />
— Trong 1000 dân, đổ đồng có 5 người sang Pháp (cỡ 2 người làm lính chiến, 2 người  làm lính thợ).<br />
— Tính đổ đồng, mỗi người dân ở Đông Dương gởi giúp sang Pháp là 2 cắc, trích trong  quỹ của ngân sách Đông Dương còn dư lại.<br />
— Năm 1916, quan toàn quyền Charles cho Pháp bằng tiền và bằng gạo trị giá 3 triệu bạc.<br />
— Gần hồi đình chiến, Đông Dương cho Pháp vay lối 30 triệu bạc.<br />
— Tiền quyên trợ cho Pháp lối 600 triệu bạc.<br />
Sau năm 1919, nền kinh tế Đông Dương thêm dồi dào nhờ chánh sách đầu tư. Năm  1921, Pháp cho một tập đoàn tài phiệt (trong đó có Đông Dương Ngân Hàng) thử nghiên  cứu việc nối liền đường xe lửa từ Sài Gòn lên Battambang (Batambang là tỉnh nhiều lúa gạo  dư để xuất cảng) và đường xe lửa nối liền từ Mỹ Tho đến Bạc Liêu nhưng chỉ là kế hoạch dở  dang trên giấy.<br />
Mức sản xuất ở Nam kỳ từ năm 1920 đến 1927 trung bình trên hai triệu tấn mỗi năm,  cao nhứt là năm 1927 với 2.291.333 tấn. So với 1926 thì mùa 1927 ở các tỉnh miền Tây diện  tích canh tác tăng thêm 72.440 mẫu (Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Trà Vinh,  Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu). Các tỉnh còn lại của Nam kỳ chỉ tăng chừng  16.000 mẫu.<br />
Mức gia tăng này đạt được nhờ sự thành công lớn của giống lúa sạ đem kết quả tốt ở  Long Xuyên. Riêng tỉnh Châu Đốc, tăng thêm đến 5000 mẫu lúa sạ và 9500 mẫu lúa ba  trăng.<br />
Con kinh Cái Sắn đã đào xong, lộ xe Rạch Giá Long Xuyên thành hình bắt đầu cho lưu  thông vào năm 1929, giúp cho cánh đồng Cái Sắn dễ khai thác suốt 60 cây số ngàn..<br />
Tại khu vực Bình Đông Bình Tây, người Huê kiều lạc quan tới mức lạm phát nhà máy  xay lúa gạo : năm 1925 có 46 nhà máy cỡ lớn, năm 1927 đến 66.<br />
Cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu có ảnh hưởng đối với Đông Dương từ giữa năm  1930. Đặc điểm của cuộc khủng hoảng này là lúa gạo vẫn có thể bán ra được, có nơi tiêu thụ  nhưng với giá quá rẻ.<br />
Giá gạo tại Sài Gòn sụt lần từ 13,30 đồng mỗi 100 kí lô (vào tháng 4/1930) còn 3,20  đồng (vào tháng 11/1933). Theo P. Bernard, gạo mất giá từ 72 đến 76 % so với lúc trước.  Nhưng trong thực tế ta thấy khác hơn :<br />
— Năm 1928, lúa bán một giạ (40 lít) là 1,2 đồng, theo bài vè Nọc Nạn “lúa thì một giạ bán thì đồng hai”.<br />
— Năm 1933, vào tháng 12, phái bộ Nam kỳ ở Đại Hội đồng kinh tế lý tài Đông Dương  đánh điện cho Bộ Thuộc địa rằng “Dân chúng đói khát lầm than&#8230; lúa bán 1 cắc (1 giạ) ở  Nam kỳ”.<br />
Nguy cơ lớn lại xảy ra cho điền chủ Việt và luôn cả điền chủ Pháp. Đặc biệt là điền chủ  Việt bấy lâu thiếu nợ quá nhiều của nhà Băng hoặc của Chà Chetty, với giấy tờ và những  điều kiện đặc biệt. Vay bằng tiền thì phải trả bằng tiền, chớ không được trả bằng lúa. Ngày  trước, khi chưa có kinh tế khủng hoảng, muốn thanh toán 1200 đồng bạc để trả tiền lời nợ, chỉ cần bán 1000 giạ lúa. Năm 1933, muốn thanh toán số nợ trên phải bán đến 12.000 giạ lúa, tức là 12 lần nhiều hơn, một số lúa mà không bao giờ chủ điền có dư nổi.<br />
Tiểu điền chủ đã vay nợ của đại điền chủ với điều kiện ngặt nghèo hơn. Họ đành chịu  mất đất để trừ nợ. Một số lớn điền chủ đành chịu phát mãi đất. Theo bác sĩ Trần Như Lân  cũng là hội đồng quản hạt (quê ở Rạch Giá, nên am hiểu tình thế khá cụ thể) thì vào năm  1933 nợ của điền chủ thiếu nhà Băng và Chà Chetty lên tới 65 triệu đồng nhưng nhà nước  chỉ cho vay lại — trong thực tế — có 5 triệu. Số 5 triệu này, nhà nước không đưa ra bạc mặt  nhưng cho điền chủ mượn trên nguyên tắc, để trả nợ số mà điền chủ đã thiếu nhà nước khi  mua đất công thổ (trong khoảng 1921 đến 1930, chánh phủ bán cho điền chủ 4.987.167 đồng  về đất công thổ).<br />
ở Hậu giang, ngay trong khi nền cai trị còn vững mạnh, hai biến cố lớn đã làm lung lay chánh sách khẩn đất của thực dân Pháp : vụ Ninh Thạnh Lợi ở Rạch Giá và vụ Nọc Nạn ở  Bạc Liêu vào những năm 1927 và 1928. Báo chí Sài Gòn nói nhiều, các chánh khách quốc gia thuộc đảng Lập Hiến cũng lên án thực dân. Vụ Ninh Thạnh Lợi làm cho 17 người Miên  chết vì thực dân tàn sát. Vụ Nọc Nạn khiến cho 4 người Việt Nam chết. Họ là những tiểu  điền chủ, họ tự động chống cự với thực dân, tuyệt nhiên không ai xúi dục; lúc bấy giờ ở miền  Nam chưa có đảng Cộng Sản.<br />
Khuyết điểm căn bản của nước ta hồi thời Tự Đức là chánh sách bế quan tỏa cảng, vì vậy mà lúa bán không được giá. Người dân chỉ làm ruộng trong mức đủ ăn. Điền chủ thì cho  vay lấy địa tô để đóng thuế cho triều đình và dành dụm tiền bạc mà ăn xài, hưởng thụ cá nhân, sắm vàng để lại cho con cháu, lập vường tược để dưỡng già, nếu dư thì đầu tư vào việc  mua thêm đất ruộng.<br />
Thực dân Pháp cho áp dụng chánh sách thông thương, phát triển xuất cảng, tìm thị trường mới cho lúa gạo Nam kỳ với những tàu máy chở chuyên nhanh và nhiều. Giá gạo  tăng gấp 5 lần so với thời Tự Đức. Đó là lý do chánh yếu khiến cho dân chúng lần hồi sống  an phận và có phần vui vẻ với Tân trào, các lãnh tụ cầm đầu nghĩa quân với mục đích phò  vua lần hồi chẳng còn ai theo.<br />
Nhưng việc mở mang thương cảng Sài Gòn và phát triển thương mãi, thâu vét tài nguyên và lợi dụng nhân công rẻ của thực dân Pháp đã gây thêm nhiều mâu thuẫn trong  nước :<br />
— Phong trào Hội kín thành hình theo kiểu Thiên Địa Hội, đã liên kết được một số  nông dân có kỳ thị với văn hóa Tây phương. Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương ở vùng Thất Sơn  phát triển thêm. Một lực lượng đáng kể cũng tập họp ngay trong thành phố Sài Gòn gồm  những nông dân chưa thích ứng được với hoàn cảnh mới, vì vậy mà xảy ra hai cuộc khởi loạn năm 1913 và 1916 ở Nam kỳ (Sài Gòn, Chợ Lớn và nhiều tỉnh).<br />
— Phong trào Duy Tân (gọi là cuộc Minh Tân) cùng việc vận động Đông Du đã đánh  dấu giai đoạn tranh đấu phối hợp với toàn quốc. Nam kỳ là nơi có nhiều điền chủ và công  chức sang giàu. Họ không muốn bị thực dân Pháp kềm hãm bằng một chánh sách bế quan tỏa cảng mới, về mặt tinh thần : Hoàng thân Cường Đễ có lẽ được người ở Nam kỳ ái mộ  nhiều, so với miền Trung hay Bắc.<br />
Nhưng người Nhựt đã phản bội, nhân sĩ và điền chủ Nam kỳ thấy rằng vọng ngoại là bất thành. Ngày nào còn thực dân Pháp thì họ không thể nào phát triển kỹ nghệ bổn xứ  hoặc nắm việc nội ngoại thương được. Phong trào bị dập tắt nhưng dư âm cứ vang dậy. Thực  dân rất lúng túng về sự xuất hiện của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ : đàn áp thì khó vì đây là một tôn giáo đã được hiện đại hóa, nhưng để cho phát triển thì e có hại vì trong tôn giáo có nội dung dân tộc này, vài cựu chiến sĩ của phong trào Duy Tân lại đóng vai trò quan trọng.<br />
Việc đầu tư của thực dân Pháp khiến phát triển thêm một vài hãng xưởng nhưng quan trọng nhứt là những công ty đồn điền cao su với số nhân công cực khổ, thua sút thân phận  người tá điền. Đấy là lực lượng lớn, tập trung, khó kềm hãm.<br />
Việc khai hóa của nước Pháp về hình thức là cho du nhập những tư tưởng tự do, dân  chủ và tư tưởng xã hội của Tây phương, đồng thời cũng chấp nhận việc cho phép thanh niên  Việt Nam du học sang Pháp nếu ngăn cấm không cho họ sang Nhựt. Đám thanh niên này  về nước, tuy một số đã hủ bại, nhưng còn một số khác trở thành tai họa không nhỏ. Họ  tranh đấu, dùng những phương tiện mới, thấp nhứt là hình thức ra báo chí.<br />
Ngày xưa, khi ông Cử Trị châm biếm Tân trào, khi ông Đồ Chiểu làm thơ ca ngợi hào  khí đất nước thì chỉ một số ít người biết. Nhưng với hai vụ Ninh Thạnh Lợi và Nọc Nạn vào  năm 1927 và 1928, lần đầu tiên ở toàn Nam kỳ và các nhà “khảo cứu” Pháp phải giựt mình,  nhờ vai trò của báo chí. Hai biến cố trên là việc bộc phát tự động, chứng tỏ người lưu dân ở  Rạch Giá, Cà Mau tuy xa xôi, trình độ văn hóa kém nhưng đã trưởng thành, cả người Việt  lẫn người Miên.<br />
Lịch sử khẩn hoang ở miền Nam ít ra cũng giúp ta thấy được một thực tế. ý thức dân  tộc phát triển mạnh khi sinh hoạt làng xóm thành nền nếp và sinh hoạt vật chất được tạm  ổn định. Nếu khi người Pháp chiếm Nam kỳ vào cuối thế kỷ 19, vùng Ba Giồng được nổi  danh là nhờ đất xưa, gọi là địa linh, thì kể từ cuộc kinh tế khủng hoảng 1930—1933 người  bình dân ở Rạch Giá, Cà Mau cũng bắt đầu theo dõi chuyện Nhựt đánh Mãn Châu, vụ  Thượng Hải, Ngô Tùng qua báo chí, qua lời thuật lại của một vài thầy giáo làng từ Sa Đéc, Tam Bình thuyên chuyển xuống.<br />
Họ thấy chế độ Pháp quả là không hợp thời. Họ hiểu rõ khi cho đào kinh xáng, mở  mang lộ xe, thực dân có dụng tâm gì. Và biện pháp hữu hiệu nhứt để cho người ở trong vựa  lúa miền Nam được hạnh phúc không phải là cắt Nam kỳ ra để lập một tiểu quốc, để rồi  không lấy tiền thuế của dân Nam kỳ mà đem tài trợ cho ngân sách Đông Dương, dành tiền  thuế của người Nam kỳ cho riêng người Nam kỳ xài, như một chánh sách của đảng Lập  Hiến đề xướng cho “Pháp — Việt đề huề”. Các chiến sĩ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh đưa ra biện pháp tích cực, hợp với thực trạng của dân tộc hơn.</p>
<p>(Xem <em>Phụ Lục</em>)</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/chevietnam.wordpress.com/168/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/chevietnam.wordpress.com/168/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/chevietnam.wordpress.com/168/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/chevietnam.wordpress.com/168/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/chevietnam.wordpress.com/168/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/chevietnam.wordpress.com/168/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/chevietnam.wordpress.com/168/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/chevietnam.wordpress.com/168/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/chevietnam.wordpress.com/168/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/chevietnam.wordpress.com/168/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/chevietnam.wordpress.com/168/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/chevietnam.wordpress.com/168/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/chevietnam.wordpress.com/168/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/chevietnam.wordpress.com/168/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=168&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ch%c6%b0%c6%a1ng-ii-6-nh%e1%bb%afng-tri%e1%bb%87u-ch%e1%bb%a9ng-b%e1%ba%a5t-%e1%bb%95n/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/bccd66a218a0b2086db33dbc931d297c?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">chevietnam</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Lịch sử khẩn hoang miền Nam(Sơn Nam): Chương II-5:  Cần Thơ, đầu cầu và thủ đô miền Hậu Giang</title>
		<link>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ch%c6%b0%c6%a1ng-ii-5-c%e1%ba%a7n-th%c6%a1-d%e1%ba%a7u-c%e1%ba%a7u-va-th%e1%bb%a7-do-mi%e1%bb%81n-h%e1%ba%adu-giang/</link>
		<comments>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ch%c6%b0%c6%a1ng-ii-5-c%e1%ba%a7n-th%c6%a1-d%e1%ba%a7u-c%e1%ba%a7u-va-th%e1%bb%a7-do-mi%e1%bb%81n-h%e1%ba%adu-giang/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 07 Jul 2009 17:05:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>chevietnam</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử khẩn hoang miền Nam - Sơn Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://chevietnam.wordpress.com/?p=166</guid>
		<description><![CDATA[Vùng Cần Thơ thời Mạc Thiên Tứ mang tên là Trấn Giang, vào năm 1793. Mãi đến khi  người Pháp xâm chiếm, Cần Thơ là vùng không quan trọng. Ngọn rạch Cần Thơ ăn thông  qua sông Cái Bé rồi ra vịnh Xiêm La nhưng không rõ rệt. Đời Tự Đức, Đại nam Nhất thống  [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=166&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Vùng Cần Thơ thời Mạc Thiên Tứ mang tên là Trấn Giang, vào năm 1793. Mãi đến khi  người Pháp xâm chiếm, Cần Thơ là vùng không quan trọng. Ngọn rạch Cần Thơ ăn thông  qua sông Cái Bé rồi ra vịnh Xiêm La nhưng không rõ rệt. Đời Tự Đức, Đại nam Nhất thống  chí mô tả khúc đường ấy : Cuối đông qua xuân, nước khô bùn cứng ghe thuyền qua lại  không được, từ mùa hạ qua đông, nước mưa tràn bờ thì ghe thuyền cỡi lên trên cỏ và bèo mà  đi, cứ trông theo phía tả hay phía hữu rừng cây mà nhận dấu đường. Nơi đây không có bóng người, có rất nhiều muỗi và đĩa, người qua lại rất khổ sở. Tóm lại, Cần Thơ chỉ đông đúc ở  phía sát bờ Hậu giang.<br />
Về giao thông và kinh tế, từ đời họ Mạc đến lúc người Pháp đến, lúa gạo ở Rạch Giá và ở Cà Mau thì xuất cảng cho những ghe Hải Nam vào chợ Cà Mau và Rạch Giá; lúa gạo ở Sóc  Trăng và Ba Thắc thì bán theo cửa Ba Thắc (bản đồ Pháp ghi là cửa Tranh De, chắc là do  chữ Trấn Di, đọc trại rồi âm lại). Vùng Cần Thơ chỉ là những xóm sung túc bên rạch Cần  Thơ và rạch Bình Thủy, phía bắc là vùng Ô Môn có đất giồng khá tốt.<br />
Đời Gia Long, Cần Thơ thuộc về huyện Vĩnh Định, năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nhập qua phủ Tân Thành (do Sa Đéc cai quản).<br />
Vùng Ô Môn đời Tự Đức (và có lẽ từ các đời trước) là khu vực ít nhiều tự trị của người  Miên nên Đại nam Nhất thống chí gọi là “thổ huyện”.<br />
Thoạt tiên người Pháp đặt Cần Thơ (vùng rạch Cần Thơ và Ô Môn) là hạt nhưng  không quan trọng bằng hạt Long Xuyên (Đông Xuyên) hoặc Sóc Trăng. Nghị định ngày 30/4/1872 lại đặt ra Trà Ôn, phần đất của Cần Thơ nhập qua Trà Ôn. Hạt Trà Ôn lại bị giải tán để rồi ngày 23/2/1876 tái lập hạt Cần Thơ với chợ Cần Thơ là tỉnh lỵ; Trà Ôn chỉ còn vai  trò quận lỵ, nhưng là quận lỵ quan trọng nhứt nhì của tỉnh.<br />
Pháp không lầm khi chọn Trà Ôn làm trung tâm quan trọng. Việc bán lúa gạo ra nước  ngoài lần hồi không còn do các hải cảng Cà Mau, Rạch Giá (phía vịnh Xiêm La) hoặc Bãi Xàu (bờ Hậu giang) đảm nhận như trước nữa. Ghe buồm Hải Nam tuy to, chở nặng nhưng  làm sao cạnh tranh nổi với các tàu sắt, chạy máy của Tây phương tại bến Sài Gòn.<br />
Tàu máy chở gạo qua Hương Cảng với giá vốn nhẹ hơn. Dầu muốn hay không, lúa gạo  miền Sóc Trăng cũng phải mượn đường Trà Ôn để đem bán tại Chợ Lớn. Rạch Trà Ôn nối  qua sông Mân Thít bên Tiền giang, con đường mà trước kia Nguyễn ánh và Tây Sơn giành  nhau quyền kiểm soát.<br />
Quan cai trị Pháp biết nhìn xa : dời tỉnh lỵ về rạch Cần Thơ thì chợ Cần Thơ trở thành  ải địa đầu quan trọng, nắm luôn nẻo thông thương thứ nhì, cũng nối từ Hậu giang qua Tiền giang để lên Sài Gòn, Chợ Lớn. Đó là con đường từ rạch Cái Vồn qua rạch Nha Mân, phía Sa Đéc. Lại còn phía tây Cần Thơ là vùng Rạch Giá, Cà Mau bao la với nhiều triển vọng về  lúa gạo, đất hoang chưa khai phá.<br />
Cần Thơ có khí hậu tốt, đất hoang tuy chưa được khai thác đúng mức nhưng là rừng  chồi thưa thớt, không như rừng tràm ở nước mặn phía Rạch Giá, Cà Mau. Giữa Cần Thơ,  Sóc Trăng và ranh tỉnh Rạch Giá còn một cánh đồng bát ngát, nước ngọt, không quá thấp  như Đồng Tháp Mười, không quá sình lầy và nhiều phèn. Đó là cánh đồng sau này trở  thành quận Phụng Hiệp, đầy lau sậy, có voi (voi ăn sậy và lau). Thoạt tiên người Pháp gọi  đó là “Đồng Sậy” nhưng vì khai phá xong nên địa danh này không còn thông dụng như trường hợp Đồng Tháp Mười hay rừng tràm U Minh.<br />
Rạch Cần Thơ chạy dài tới Phong Điền, nhà cửa đông đúc. Rạch Cái Răng là nơi đất  tốt. Đất ở rạch Bình Thủy không đâu sánh bằng; rạch Cần Thơ và rạch Bình Thủy như nối tiếp nhau ở cuối ngọn. Tuy không là văn vật như miền Tiền giang nhưng dân ở hai con rạch  này khá thuần thục, thông hiểu lễ nghĩa “trai Nhân ái, gái Long Xuyên”.<br />
Thực dân Pháp nhắm mục đích biến Cần Thơ thành trung tâm quan trọng nắm giềng  mối đường giao thông về Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau trong giai đoạn mà đường  thủy nắm ưu thế. Về sau, sau trận thế chiến 1914—1918, những con lộ xe cũng nhằm phục  vụ mục tiêu chiến lược này. Phải qua Cần Thơ mới lên Sài Gòn được, đa số lúa gạo gom về  Cần Thơ vì đây là con đường vận tải ngắn nhứt.<br />
Khi Pháp đến, vùng Ba Láng (nhánh của rạch Cần Thơ) là nơi khởi nghĩa của Đinh  Sâm. Đinh Sâm thất bại nhưng vào tháng 3/1870, chừng 200 nghĩa quân tụ tập lại ăn tiệc, chuẩn bị đánh tòa thâm biện Cần Thơ. Thực dân phát giác kịp, bắt giam 141 người, trong số  này chừng 55 người mà thực dân cho là nguy hiểm bị đề nghị đày ra Côn Nôn hoặc đảo  Réunion. Tham biện lúc bấy giờ là Alexandre dùng dân địa phương làm xâu, cất nhà lá chung quanh nhà lồng chợ để bán hoặc cho mướn lại.<br />
Theo báo cáo thì ở Cần Thơ việc kiện thưa đất đai xảy ra quá nhiều chứng tỏ người dân  thấy tương lai sáng sủa của nghề nông. Chủ tỉnh ra lịnh lập bộ điền cho kỷ hơn để thâu  thuế. Năm 1887, đất canh tác là 85.000 mẫu, so với năm trước (khai để đóng thuế) tăng thêm 17.000 mẫu. Diện tích của tỉnh là 205.000 mẫu, tức là còn lại 110.000 mẫu có thể canh  tác. Dân ghi trong bộ để chịu thuế trong toàn tỉnh là 26.500 người.</p>
<p><strong><span style="color:#990000;">Đào kinh xáng Xà No</span></strong><br />
Kinh xáng Xà No là công trình lớn lao đầu tiên của Nam kỳ về đường thủy, có thể so  sánh với việc thiết lập đường xe lửa Sài Gòn, Mỹ Tho về đường bộ. Kỹ thuật Tây phương đã  biểu diễn với tất cả sức mạnh và hiệu năng.<br />
Đời Gia Long và Minh Mạng, vua và các quan đã nhận rõ vai trò quan trọng của kinh đào đối với miền Tiền giang và Hậu giang. Kinh Thoại Hà, kinh Vĩnh Tế là những công  trình chiến lược đứng đắn, nối vịnh Xiêm La qua Hậu giang để rồi lên Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sài  Gòn. Ai cũng biết đào kinh thì đất ráo phèn, ruộng nương dễ khai phá, dân chúng thích quy  tụ ở nơi “sông sâu nước chảy”.<br />
Kinh xáng Xà No nối Hậu giang qua vịnh Xiêm La, xuyên qua vùng đất tốt và to rộng  giữa nhánh sông Cái Lớn và rạch Cần Thơ (nhánh sông Cái Lớn nơi ấy gọi là Rạch Cái Tư).<br />
Từ năm 1866, nhà nước dùng xáng mà vét lại rạch Bến Lức và kinh Bảo Định nhưng  kết quả chưa được như ý muốn. Năm 1875, đô đốc Duperré cho đào lại kinh Chợ Gạo và  kinh Trà Ôn, dùng dân xâu. Năm 1893, quan toàn quyền De Lanessan cho đấu thầu ở  Paris. Công ty Montvenoux trúng thầu với giá là ba cắc rưỡi một thước khối, trong tháng  đầu phải đào 60.000 thước khối đất và năng xuất tăng thêm, trong tháng thứ 25 phải đào  200.000 thước khối.<br />
Sáng kiến đào kinh Xà No trước tiên do hai người Pháp là Duval và Guéry nêu ra vì  quyền lợi ích kỷ. Họ thấy đất tốt và rộng nên xin trưng khẩn. Và khi chưa được giấy phép  trưng khẩn chánh thức là họ đã vận động với quan toàn quyền Paul Doumer (17/5/1900).  Chủ tỉnh Cần Thơ cho biết là trước đó, năm 1896, đã đào kinh Ô Môn (nối ngọn sông Cái Bé  từ Rạch Giá qua Ô Môn) dùng dân xâu nhưng tạm ngưng vì ở vùng đào kinh xảy ra nạn  dịch khí. Kinh Xà No nếu đào được thì ích lợi vô cùng, giúp khai thác hàng mấy chục ngàn mẫu đất tốt phía địa phận Cần Thơ. Nhưng Duval và Guéry lại muốn nhà nước đào thật  gấp, trong vòng một năm cho xong và bắt đầu đào ở phần đất mà họ đang xin trưng khẩn  (tức là khởi đầu từ khoảng giữa) để họ thâu lợi sớm.<br />
Kinh vừa khởi đào là Guéry được nghị định của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer  cấp cho không một sở đất tốt với diện tích khổng lồ là 2.500 mẫu nằm trên vùng đào kinh, tọa lạc tại làng Nhân Nghĩa, tổng Định Bảo, tỉnh Cần Thơ (nghị định số 338 ngày  14/2/1901).<br />
Kinh Xà No đào từ 1901 đến tháng 7/1903 là xong, bề ngang trên mặt rộng 60 mét,  dưới đáy 40 mét tốn phí 3.680.000 quan. Lần này, nhà thầu sử dụng loại xáng lớn chạy  bằng hơi nước, với những giàn gàu bằng sắt. Máy của xáng mạnh 350 mã lực, mỗi giàn mút  được 375 lít, thổi bùn ra xa đến 60 mét. Giàn gàu của xáng chạy theo vòng tròn (như xe đạp  nước). Từ xa, chiếc xáng giống như chiếc chiến hạm, máy chạy vang rền suốt năm ba cây số,  mang theo một số chuyên viên, nhân công hàng trăm người. Dọc theo hai bên bờ phải chở  củi đem tới sẵn, vì xáng đốt nồi sốt—de bằng củi.<br />
Vài chuyện khôi hài xảy ra, một số dân chạy theo xáng, dùng thúng mà hứng bùn để  tìm vàng, nhưng chỉ gặp xương người xương thú. Nhiều người cho rằng cứ “cắm dùi” là đất  ấy về phần mình, vì mình đến trước nhứt. Cu—li của hãng xáng tụ tập, bày ra đánh bài,  uống rượu hoặc đi ăn cướp, bọn cặp—rằn đo đất thì hăm dọa những chủ nhà ở gần con kinh  sắp đào để tống tiền, ai cho tiền thì nhà cửa, vườn tược khỏi bị đào ngang. Bọn chuyên viên  người Pháp đứng cao trên xáng, hò hét như các vị chỉ huy chiến hạm. Khung cảnh trầm  hùng này đã in sâu vào giai thoại thời ấy, trở thành ca dao, chiếc xáng của Tây là sức mạnh  cơ khí vô địch.<br />
Lễ khánh thành kinh Xà No là ngày trọng đại, có lẽ đó là lần đầu tiên mà quan Toàn quyền Đông Dương chịu đặt chân đến miền Hậu giang. Quan lại địa phương, thân hào nhân  sĩ từ các tỉnh lân cận đến tề tựu đón rước, ban quân nhạc từ Sài Gòn đến, lại có tổ chức dạ vũ.<br />
Phần đất mà Duval và Guéry trưng khẩn thuộc vào loại tốt nhứt nhì của Nam kỳ.  Những năm 1908—1910, trong khi ở tỉnh Cần Thơ điền chủ bổn xứ và điền chủ Pháp rầu lo  vì nạn đói, nước mưa dâng quá cao thì phần đất của Duval và Guéry chẳng bao giờ bị lỗ lã nhờ ở sát bờ kinh. Điền của Guéry mướn bọn cựu quân nhân Pháp làm cai điền với súng ống  hẳn hòi, xét bắt ghe xuồng qua lại. Ai chở lúa lậu thì bọn cai điền được chủ tỉnh cho phép  lập biên bản giải tòa. Dân ở gần điền và các chủ điền lân cận đều bực dọc về thể thức xét hỏi  này : lúa của họ bị kiểm soát, khi cần mượn đường nước để đi ngang qua điền. Kinh đào là của nhà nước, nhưng bọn điền Tây xem như là khu vực quân sự riêng của họ.<br />
Vào những năm đầu thế kỷ, ở Cần Thơ người Pháp và người Việt có Pháp tịch làm chủ 36.000 mẫu (1910). Dường như chỉ có Duval và Guéry là thành công nhứt, vài công ty khác như Société des Rizières franco—annamites, hoặc Michel—Villaz et Cie đều lỗ lã, hoặc có  những tư nhân như Balmann đã phá sản.<br />
Công ty Associaton Rizicole Indochinoise thành hình vào năm 1910, gởi chuyên viên  qua Mỹ quốc nghiên cứu các loại máy cày thích hợp rồi cho một kỷ sư canh nông là Alazard  đến Thới Lai (Ô Môn) mang theo máy cày, máy bừa, máy gieo mạ, xin chánh phủ thuộc địa trợ cấp để thí nghiệm cải tiến kỹ thuật nhưng không đạt kết quả khả quan. Tên Duquet thử  thí nghiệm việc cày máy vào mùa nắng, đầu năm 1911.<br />
Tư nhân Pháp sẵn sàng góp tay với nhà nước để trong điền đất của họ có kinh đào cho  riêng họ thủ lợi, dân xâu phải tiếp tay (trường hợp Sambuc và Belin trợ cấp 8.600 đồng  nhân dịp đào kinh Thới Lai).<br />
Năm 1907, để phục vụ cho mùa 1907—1908 nhà nước thiết lập ở Cần Thơ một phòng  Dinh Điền nhầm mục đích tìm nhân công cho các điền của người Pháp ở Cần Thơ, mộ dân  nghèo ở Bắc kỳ vào. Nhưng tốp dân mộ này vì bị quan lại ở quê xứ cưỡng bách, nên khi đến  Cần Thơ lại lãng công, thiếu thiện chí. Rốt cuộc, nhà nước trả họ về quê để khỏi chịu tốn  kém về cơm gạo.<br />
Phòng Dinh Điền bèn kiên nhẫn thí nghiệm lần thứ nhì, nhờ quan Công sứ tỉnh Thái Bình chọn lựa kỹ lưỡng hơn, nhằm khẩn hoang vùng Phụng Hiệp. Người ứng một phải ký giao kèo chịu ở Nam kỳ ít nhứt là 3 năm, mỗi gia trưởng khi đến Cần Thơ được tạm cấp 4 mẫu đất, 5 năm sau trở thành sở hữu chủ, trong giai đọan khai thác đầu tiên được miễn 5  năm khỏi đóng thuế điền và thuế thân. Sau này, đất bán lại với giá rẻ cho người khai thác,  lại còn giúp đỡ cụ thể về tiền bạc để sắm quần áo, nông cụ.<br />
Đích thân viên đầu phòng Dinh Điền ra tới tỉnh Thái Bình để ký giao kèo với các gia  trưởng chịu vào Cần Thơ nhưng làm sao viên chức này biết rõ cách thức tuyển mộ của quan Công sứ tỉnh Thái Bình ? Đợt người vào Nam này gần như bị quan trên bắt buộc phải đi, gồm có : 84 gia đình tổng cộng 328 người, chia ra 84 người cha, 85 người mẹ, 122 trẻ con, 37  người lớn tuổi.<br />
Cuối tháng 5/1908, họ vào Cần Thơ, đưa đến vùng Phụng Hiệp (bấy giờ còn hoang vu) cứ 8 ngày là phát gạo, 15 ngày là phát tiền. Họ lãng công, một số chịu làm lụng nhưng  không quen kỹ thuật làm ruộng ở địa phương, một số đông thì trốn, bỏ vợ con. Theo báo cáo  của quan huyện ở Rạch Gòi thì tốp người ứng mộ này chỉ gồm chừng 5 hay 6 người là nông  dân, còn bao nhiêu là dân mà viên chức ngoài Bắc cứ lùa vào Nam, tạp nhạp, theo kiểu bắt  phu. Vì thế mà cuộc di dân không thu được kết quả gì ráo.<br />
Từ tháng 12/1908 đến tháng 4/1909, họ lần lượt bị đưa về Bắc, còn sót lại 19 người  đang ở tù, vì bất hảo (phúc trình hằng năm về tình hình tổng quát tỉnh Cần Thơ, niên khóa  1908—1909 của chủ tỉnh L. de Natra).<br />
Trong đợt di dân đầu tiên, 50 người gọi là “cu li Bắc kỳ” tới điền của Duval và Guéry  với một viên đội và 2 người cai canh chừng, nhà nước yêu cầu chủ điền cho lãnh lương hơi  cao một tí để họ siêng năng làm việc. Nên hiểu cuộc dinh điền của Pháp chỉ là mô phỏng  vụng về hình thức lập ấp đời Tự Đức. Đây là hình thức nô lệ trá hình, bị thất bại vì thiếu  chính nghĩa.<br />
Câu hát “Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền. Anh thương em cho bạc cho tiền, đừng cho lúa gạo xóm riềng họ hay” phản ảnh tâm trạng lạc quan của người dân thời ấy.<br />
Vàm Xáng (vàm của kinh Xáng) là nơi kinh Xà No khởi đầu bên phía Cần Thơ (Xà No,  Srok Snor, xóm có nhiều cây điên điển). Ngã ba này trở nên tấp nập, ghe xuồng đậu để chờ  con nước thuận lợi mà qua Rạch Giá hay ra chợ Cần Thơ.<br />
Năm 1908, hương chức làng Nhân ái đứng đơn xin lập chợ, gọi là chợ Vàm Xáng để  thâu huê lợi cho làng. Một thân hào tình nguyện cho làng khoảnh đất để cất chợ, nhà canh  và phố. Về sau, nhà tước tách địa phận này qua làng Nhân Nghĩa. Hương chức làng Nhân ái lại phản đối, lấy lý do : “Làng Nhân ái này là của ông bà cha mẹ chúng tôi lập ra hơn một  trăm năm nay, nên luôn luôn rất bình an”, nếu cắt đất chợ mà nhập qua làng khác, e hư phong thủy (nhưng thật ra hương chức làng mất dịp làm ăn).<br />
Năm 1913, một thân hào khác lại tặng cho làng sở đất 880 thước vuông để cất nhà trường làng “dạy trẻ con học hành phong hóa”. Lúa từ phía Rạch Giá theo kinh Xà No chở  ra chợ Cái Răng, do người Huê kiều mua về, mướn nhà máy xay ra gạo tại chỗ trước khi  đem về Chợ Lớn mà xuất cảng. Nhờ đó, chợ Cái Răng trở thành kho lúa gạo to lớn với nhiều  dịch vụ mua bán mà người Huê kiều thao túng trên thị trường nội địa.<br />
Năm 1908, chợ Cái Răng đã sung túc đến mức hương chức hội tề sở tại bán cái sườn  nhà lồng chợ cho làng Thới Thạnh để mua cái sườn nhà chợ khác, to và chắc chắn hơn.<br />
Vào đầu năm 1911, nhiều người bày ra sáng kiến lập chành, thoạt tiên chành cất bằng  lá. Và cũng năm này, công ty Asiatic Petroleum xin phép cất cây cầu sắt dài 15 mét tại bến  Cái Răng cho tàu chở dầu cặp bến dễ dàng hơn.</p>
<p><strong><span style="color:#990000;">Cuộc tranh đấu của trí thức Cần Thơ</span></strong><br />
Đây là phong trào Duy Tân (gọi là cuộc Minh Tân) do Gilbert Trần Chánh Chiếu cầm  đầu.<br />
Cần Thơ là nơi mà giới điền chủ Việt có truyền thống văn hóa cao, tuy kém các tỉnh  miền trên như Mỹ Tho, Tân An nhưng đứng vào hàng đầu các tỉnh Hậu giang. Người ở Cần  Thơ liên lạc dễ dàng với các tỉnh miền trên. Đặc biệt là giới công chức Cần Thơ có tinh thần  dân tộc, đến mức khiến thực dân Pháp phải khó nghĩ, lo ngại.<br />
Phong trào Đông Du lôi cuốn con nhà khá giả ở Bình Thủy và Trà Ôn (nơi giáp ranh vùng Tam Bình). Lão sư Nguyễn Giác Nguyên ở chùa Nam Nhã (chùa Minh Sư, Bình Thủy)  được ông Cường Để phong cho chức chủ tỉnh Cần Thơ nếu việc lớn được thành. Về mặt công  khai, phong trào Duy Tân khá rầm rộ. Nhân sĩ yêu nước thời bấy giờ lập Hội khuyến học  Cần Thơ vào ngày 23/3/1906. Trên điều lệ, mục đích của hội là giúp hội viên học hỏi trau giồi kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa của nước Pháp bằng mọi phương tiện. Hội trưởng hội  này là Võ Văn Thơm, hai ông phó Hội trưởng là Hồ Hưng Nhường và Nguyễn Háo Văn. Vì  chê thành phần Hội khuyến học Sài Gòn lúc bấy giờ kém tích cực và cũng vì muốn hoạt  động riêng nên Hội Cần Thơ không tán thành việc gia nhập vào Hội khuyến học Sài Gòn (20 phiếu chống, 2 phiếu thuận). Ông Nguyễn Háo Văn là chiến sĩ đắc lực của phong trào Duy Tân. Về sau, khi vụ án Gilbert Chiếu phanh phui ra, ông bị cách chức vào ngày 19/4/1909  (ông là thư ký hạng nhứt). Và ba ngày sau thực dân cũng cách chức ông tri phủ Nguyễn  Công Luận ở Sa Đéc, ông Huỳnh Công Bền, tri phủ Cai Lậy, ông Phạm Văn Bảy, tri huyện  ở chợ Mỹ Tho bị can đồng một tội.<br />
Tuy nhiên, vì không dám khuấy động quá mức, thực dân lúc bấy giờ có thái độ tương  đối hòa hưởn, ông Nguyễn Văn Háo rút đứa con trai đang du học bên Nhựt về, cho tiếp tục  học tại Saint Joseph English College Hong Kong (đây là ông Nguyễn Háo Vĩnh, có công  trong việc chấn hưng ngành xuất bản sách ở miền Nam).<br />
Trong bài diễn văn đọc kỳ đại hội của Hội khuyến học Cần Thơ ngày 10/1/1908, ông  Hội trưởng Võ Văn Thơm công khai đề cao tinh thần dân tộc, cổ xúy người Việt nên hăng  hái, bớt lười biếng, đứng lên tranh thương với Hoa kiều và ấn kiều, và trong hiện tại, họ đã  nể nang người Việt. Lời lẽ trong bài diễn văn này không dính dấp gì với mục đích của Hội là “phổ biến văn hóa Pháp” cả.<br />
Khi báo cáo cho Thống đốc Nam kỳ về tình hình trong tỉnh, lần lượt các viên chủ tỉnh ở  Cần Thơ thú nhận như sau :<br />
<strong>— Báo cáo năm 1908—1909 của L. de Natra :</strong> Chủ tỉnh Cần Thơ hồi năm ngoái nhận  định rằng “vụ án Gilbert Chiếu và đồng bọn không gây phản ứng gì rõ rệt đối với nhân tâm  trong tỉnh. Tuy nhiên, ta phải nhìn nhận rằng một số đông kẻ liên can trong vụ án đều là  quê quán ở Cần Thơ. Họ đang bị giam để chờ ngày ra trước tòa án Mỹ Tho&#8230;”<br />
Chủ tỉnh de Natra nói là những biến cố năm 1908 chứng minh một cách khá rõ rệt rằng dân Nam kỳ bấy lâu chỉ lo làm ăn và cầu mong được yên ổn, lại bị xúi giục. Đa số  người đi xúi dục này đều là những kẻ thọ ơn nhà nước Pháp. “Người bổn xứ, mà ta có thể tin  cậy là trung thành với chế độ đã tìm mọi cách mà họ có thể có được để chuẩn bị khởi loạn”.<br />
<strong>— Báo cáo năm 1909—1910</strong> : Từ khi xảy ra vụ án Gilbert Chiếu tới nay, chẳng có sự việc  gì nổi bật, đáng ghi&#8230; “Nhưng khi tiếp xúc với người bổn xứ, ngay đến những người đã từng  phục vụ nhà nước Pháp một cách hữu ích, ta phải giựt mình vì thái độ chỉ trích của họ đối  với tất cả những gì liên quan đến chính quyền thuộc địa, một lối chỉ trích mỉa mai, cay cú”.<br />
<strong>Báo cáo năm 1910—1911 :</strong> “Không có cuộc biến loạn, không có sự bộc lộ cụ thể nào xảy ra. Tuy nhiên, dưới bề ngoài yên ổn này ta nhận ra một cách dễ dàng là còn một phần của dân chúng — may thay số người này không đông đảo cho lắm — họ có thái độ đối lập và thái độ chỉ trích không nhân nhượng, tận gốc, đối với tất cả những gì của chánh quyền, những gì  xuất phát từ phía người Pháp”. Gilbert Chiếu được tòa xử miễn tố, vì vậy mà họ càng lừng  lẫy hơn, lại còn một số người đồng lõa trong vụ án cũng được miễn tố. Dân trong tỉnh đủ sức  đóng thuế, nhưng tình hình bên Mãn Châu đã có ảnh hưởng ở toàn cõi Viễn Đông. Cầm đầu nhóm chống đối chính quyền, có nhiều viên thư ký hoặc quan lại đã bị cách chức, họ đang  sống ngày qua ngày.<br />
Thiên Địa Hội phát triển đặc biệt ở vùng Rạch Giá. Tháng 5/1909, nhà nước phát giác từ 3 đến 400 người gia nhập hội, chừng 15 người cầm đầu bị đưa ra tòa. Năm 1910—1911,  chủ tỉnh Cần Thơ lại bực mình vì sau 50 năm thống trị của người Pháp mà những hội như thế ấy tại sao lại có thể tồn tại và phát triển ? Theo viên chủ tỉnh này, lý do chánh là sự bất  lực của các tòa án đã xử phạt quá nhẹ nên dân không sợ.<br />
Một tài liệu khám phá tổ chức Thiên Địa Hội ở vùng Cần Thơ thuộc về Nghĩa Hòa đoàn (gọi theo giọng Tàu là Dì Hóa). Về cách tổ chức thì giống như các nhóm Thiên Địa Hội  khác, với chủ soái, phó chủ soái, chánh chủ hương, phó chủ hương. Hội viên lấy bí danh,  theo họ của các vị ngũ tổ thời trước như Vạn Vân Long, Hồng Vạn Chương. Chỉ trừ một số  người Huê kiều làm chánh chủ soái, còn bao nhiêu đều là hương chức. Đặc biệt là về chức  vụ thảo hài, hồng côn, bạch phiến, có riêng một người là võ bạch phiến, một người là văn  bạch phiến, văn thảo hài, võ thảo hài. Phải chăng họ chú trọng đến vấn đề quân sự để khởi  nghĩa trong ngày gần nhứt ?<br />
Vào những năm 1907, vùng biên giới tỉnh Cần Thơ xảy ra nạn cướp bóc, chuyên đánh  ghe buôn và những chủ điền ở nơi hẻo lánh. Cần Thơ gồm đất đai ở hai bên bờ Hậu giang,  giữa sông lại có cù lao, bọn cướp hoành hành nơi giáp ranh với Sóc Trăng, Vĩnh Long, Long  Xuyên, Rạch Giá. Cầm đầu bọn cướp gồm những tay khét tiếng đầy đủ bản lãnh, nổi danh  nhứt là Sáu Nhỏ. Theo lịnh của cấp trên, các làng được phép truy nã bọn cướp qua làng bên  cạnh, mặc dầu khác tỉnh. Vì bọn chúa đảng lần hồi sa lưới nên các vụ cướp giảm lần từ 43  vụ, khoảng 1906—1907, sụt còn 14 vụ, khoảng 1908—1909.</p>
<p><strong><span style="color:#990000;">Lộ xe, chợ phố và trung tâm ngã bảy (Phụng Hiệp)</span></strong><br />
Nhiều con kinh tiếp tục đào nối liền các rạch nhỏ trong tỉnh, quan trọng nhứt là công  trình mở mang đường giao thông ở cánh đồng Phụng Hiệp mà trước kia người Pháp gọi là Plaine des Roseaux. Đất Cần Thơ phía tả ngạn Hậu giang đã có dân cư từ lâu. Phía hữu  ngạn là đất tốt tuy hoang vu đầy lau sậy nhưng dầu sao đi nữa với địa thế tương đối cao (so  với Châu Đốc hoặc Rạch Giá), với phù sa nước ngọt (dễ trồng hoa màu phụ), nhứt là gần  đường giao thông về Sài Gòn (lúa bán có giá) thì vẫn là nơi lý tưởng mà ai cũng muốn bám  vào, không xong thì mới xuống Rạch Giá, Cà Mau là nơi đất thấp, nhiều muỗi mòng.<br />
Liệt kê việc đào kinh ở tỉnh Cần Thơ là điều rắc rối vì nhiều con kinh đào đợt đầu, rồi  đợt nhì nối dài rồi mở rộng, rồi vét lại cho sâu nhiều lượt.<br />
Nên chú ý là số dân xâu dùng vào việc đào kinh nhỏ khá nhiều, cực khổ nhứt là dân  vùng Rạch Gòi (về sau quận lỵ dời về Ngã Bảy, Phụng Hiệp).<br />
Chuyên viên thủy nông nghiên cứu không chính xác. Lắm vùng đất làm ruộng được,  nhưng bỗng nhiên lại trở thành đất thấp, bị ngập lụt triền miên chỉ vì ảnh hưởng của mấy  con kinh đào lân cận. Trong trường hợp ấy, dân làng và điền chủ phải tự nguyện xin làm  xâu, đào thêm kinh phụ để cứu nguy cho ruộng đất của mình.<br />
— Đào kinh Trà ết (1902), đào kinh Bà Thậm qua Tân Lược (1899), vét lại năm 1904.<br />
— Đào kinh từ ngọn Cái Bé qua Thốt Nót từ 1908 đến 1910.<br />
— Vét kinh Nhiêu Sự để nối liền Bò Hút qua Sa Đéc (1909).<br />
— Vét kinh Vàm Bi (1909—1910), điều chỉnh lại kinh Ô Môn qua ngọn sông Cái Bé  (1911—1912).<br />
— Đào kinh Xẻo Vông (1908—1912).<br />
Năm 1911, vào ngày 9/4, quận Rạch Gòi có đến 2150 dân xâu làm việc thường trực để  đào kinh. Riêng về rạch Ông Rầy (nối qua Rạch Giá) dùng đến 1230 dân xâu. Năm 1910,  quận Ô Môn cung cấp 3250 dân xâu (Định Thới : 1130 người, Thới Bảo : 2120 người). Việc đào kinh không theo nguyên tắc mà luật lệ đã định (5 ngày) nhưng là làm khoán, trung  bình mỗi chuyến làm xâu, mỗi người phải đào cho xong chừng 15 thước khối đất.<br />
Năm 1909, một kế hoạch có ích lợi thực tế được thực hiện, đó là đào con kinh ngắn, cắt  ngang cù lao Mây để ghe chở lúa từ phía Phụng Hiệp đi tắt qua vàm Trà Ôn, khỏi đi vòng quanh phân nửa cù lao như trước.<br />
Lộ xe từ Cần Thơ đi Sóc Trăng, đi Long Xuyên, đi Vĩnh Long cứ đắp từ từ, dùng dân  xâu và cu li mướn rẻ tiền, từ năm 1908 về sau. Bấy giờ chưa có hủ lô chạy máy nên dân phải thay phiên nhau đẩy “ống cán” để cán đá. Đá đã tới bến thì dùng sức người để đẩy xe rùa  trên đường rầy bằng sắt mà đưa tới chỗ cán, hao tổn sức lực. Khi làm đường lộ, có cai và đội  lục lộ trông coi, ai lười biếng thì bị rầy la, ai muốn trốn về nhà thì cứ lo hối lộ. Nhà nước  phát chừng 4 cắc bạc mỗi ngày, nhưng tiền này thường bị ăn bớt.<br />
Cánh đồng Phụng Hiệp lần hồi có nhiều kinh quy tụ về một trung tâm, gọi là Ngã Bảy.<br />
Voi rừng bị bắn chết, một mớ thì bị mấy thày ngải từ Nam Vang tới bắt; nhà nước đã  xuất ra 241 đồng để thưởng mấy thày ngải này.<br />
Có thể nói khoảng 1908—1909 là những năm lạc quan nhứt về mặt phát triển, xây  dựng cơ cấu kinh tế : cất xong nhà chợ (chợ cá) tại chợ Cần Thơ, ráp nhà lồng chợ mới ở Cái  Răng, nhà lồng chợ Cái Răng thì bán cho chợ Ô Môn, nhà lồng chợ Ô Môn thì bán cho chợ  nhỏ hơn là chợ Rạch Gòi.<br />
Cuối năm 1910, nhà thầu đã cẩn xong bờ sông Cần Thơ (chỗ vàm rạch Cái Khế) : cẩn  bằng cừ cây, lót vỉ sắt, tráng xi—măng bên ngoài cho nước không làm lở và đồng thời cẩn đá  luôn bờ sông tại chợ.<br />
Năm 1911, chỉnh đốn lại mấy “mũi tàu” rạch Cái Vồn Lớn, Cái Vồn Bé và bờ rạch Trà Ôn. Mấy nẻo yết hầu này là đường chở lúa gạo từ Hậu giang qua Tiền giang; dùng kỹ thuật  đặc biệt, cẩn từng cục xi—măng cứng (gọi là cuirasse Decauville) để khỏi bị nước xoáy làm lở  bờ. Năm 1908, chủ tỉnh Outrey đưa ra kế hoạch biến Phụng Hiệp trở thành một thương  cảng.<br />
Xáng đào thêm con kinh nối Phụng Hiệp với Sóc Trăng, năm 1901.<br />
Bấy lâu, lúa từ Cà Mau chở lên Mỹ Tho rồi lên Sài Gòn theo con đường quanh co,  không thuận lợi : từ Cà Mau theo kinh lên Bạc Liêu, qua Cổ Cò, Sóc Trăng, ra Đại Ngãi, vượt Hậu giang rồi theo con rạch Tiểu Cần đến Láng Thé, rồi qua Tiền giang đến Mỏ Cày,  qua Bến Tre rồi Mỹ Tho. Năm 1914, kế hoạch đào kinh Quan Lộ được nghiên cứu và thi  hành gấp, nối liền Cà Mau thẳng lên Phụng Hiệp để từ đó qua Cái Côn rồi qua Trà Ôn, con đường rút ngắn hơn nhiều. Ngoài ra, hai bờ kinh Quan Lộ sẽ quy tụ dân đến khẩn đất, nhà nước thêm lợi.<br />
Năm 1915, quận lỵ Rạch Gòi dời đến Ngã Bảy, Phụng Hiệp, gọi là quận Phụng Hiệp.  Đây là quận thành hình giữa vùng lau sậy hoang vu, sau 10 năm đào kinh xáng, nằm trên  đường thủy từ Cà Mau ra Hậu giang, đem lúa và sản phẩm lên Sài Gòn.<br />
Trên những nét chánh, việc khẩn hoang được hoàn tất, khi đường thủy nắm ưu thế.  Qua trận thế chiến thứ nhứt, đường bộ bắt đầu phát triển. Cần Thơ vẫn nắm giềng mối của  các tỉnh giàu có như Sóc Trăng, Bạc Liêu (và Cà Mau). Đồng thời phân nửa tỉnh Rạch Giá cũng nhờ Cần Thơ mà đến Sài Gòn theo đường bộ ngắn nhứt.<br />
Nhờ dân đông đúc nên việc giáo huấn ở Cần Thơ phát triển mạnh hơn các tỉnh khác ở  Hậu giang. Năm 1903, đã lập trường nữ tiểu học với một nữ giáo viên người Pháp cai quản,  trường dạy thêm môn thêu thùa và có bàn máy may biểu diễn cho học sinh và cha mẹ học  sinh xem.<br />
Từ năm 1910, dân ở Cần Thơ và ở Trà Ôn được xem chiếu bóng (chiếu bóng câm) do  nhóm Batisson cho chiếu lưu động những phim ngắn, khôi hài hoặc thời sự khoa học. Năm 1917, An Hà nhựt báo ra đời tại Cần Thơ, đó là ấn bản chữ Việt của tờ Courrier de líOuest  cũng ra mắt tại Cần Thơ.<br />
Năm 1926, trường Trung học Cần Thơ nhận học sinh năm đầu tiên (lớp thứ Nhứt).</p>
<p>(<em>Xem tiếp Chương II-6</em>)</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/chevietnam.wordpress.com/166/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/chevietnam.wordpress.com/166/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/chevietnam.wordpress.com/166/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/chevietnam.wordpress.com/166/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/chevietnam.wordpress.com/166/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/chevietnam.wordpress.com/166/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/chevietnam.wordpress.com/166/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/chevietnam.wordpress.com/166/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/chevietnam.wordpress.com/166/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/chevietnam.wordpress.com/166/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/chevietnam.wordpress.com/166/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/chevietnam.wordpress.com/166/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/chevietnam.wordpress.com/166/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/chevietnam.wordpress.com/166/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=166&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ch%c6%b0%c6%a1ng-ii-5-c%e1%ba%a7n-th%c6%a1-d%e1%ba%a7u-c%e1%ba%a7u-va-th%e1%bb%a7-do-mi%e1%bb%81n-h%e1%ba%adu-giang/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/bccd66a218a0b2086db33dbc931d297c?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">chevietnam</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Lịch sử khẩn hoang miền Nam(Sơn Nam): Chương II-4:  Vùng Bạc Liêu, Cà Mau xa xôi và phức tạp</title>
		<link>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ch%c6%b0%c6%a1ng-ii-4-vung-b%e1%ba%a1c-lieu-ca-mau-xa-xoi-va-ph%e1%bb%a9c-t%e1%ba%a1p/</link>
		<comments>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ch%c6%b0%c6%a1ng-ii-4-vung-b%e1%ba%a1c-lieu-ca-mau-xa-xoi-va-ph%e1%bb%a9c-t%e1%ba%a1p/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 07 Jul 2009 17:03:41 +0000</pubDate>
		<dc:creator>chevietnam</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử khẩn hoang miền Nam - Sơn Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://chevietnam.wordpress.com/?p=164</guid>
		<description><![CDATA[Cà Mau là đất có dân từ thời Mạc Cửu, qua đời Gia Long thì những giồng cao ráo ở ven  sông Ông Đóc, sông Gành Hào, sông Bãi Háp và vài phụ lưu đã thành xóm. Lúc tẩu quốc,  Gia Long nhờ dân ở Cà Mau giúp nhiều về tài lực, nhân lực ; [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=164&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Cà Mau là đất có dân từ thời Mạc Cửu, qua đời Gia Long thì những giồng cao ráo ở ven  sông Ông Đóc, sông Gành Hào, sông Bãi Háp và vài phụ lưu đã thành xóm. Lúc tẩu quốc,  Gia Long nhờ dân ở Cà Mau giúp nhiều về tài lực, nhân lực ; vài người nổi danh, như Dương  Công Trừng. Mũi Cà Mau là vùng rừng đước, rừng vẹt, còn lại là rừng tràm. Phía Nam Hải, nhiều nơi có bãi cát đen. Phần ở chót mũi Cà Mau gần như nước mặn tư niên, trừ khi mưa  già. Dân sống được là nhờ nước ngọt từ Hòn Khoai chở vào bờ.<br />
Từ xưa, Cà Mau là nơi người Hoa kiều sống rải rác với người Miên. Nhằm mùa đánh  cá, ngư phủ ở Gò Công đến ven biển, cất chòi ở tạm rồi trở về xứ. Đợt Huê kiều vào lập  nghiệp khiến cho Bạc Liêu, Cà Mau trở thành khá phồn thịnh là đợt cuối thế kỷ 19, khi người Pháp đến. Họ đi bằng tàu buồm vào Cà Mau, khỏi ghé qua Sài Gòn. Lại còn một số  người từ Sài Gòn, Chợ Lớn đến lập nghiệp.<br />
Nghề làm ruộng muối do người Hoa kiều nắm trọn. Vào thời Gia Long, nghề dệt chiếu  thành hình với kỹ thuật cao, cùng là nghề khai thác sáp ong, mật ong và sân chim. Người  Pháp nhận xét lệch lạc về vùng Cà Mau, Bạc Liêu vì họ so sánh với các tỉnh miền Tiền  giang. Dân địa phương đã khéo léo nhắm vào nhu cầu thị trường, làm ruộng vừa phải, dư quá nhiều cũng không ích lợi gì. Họ làm thêm rẫy khoai lang, nhứt là nghề đánh lưới và  đóng đáy để thu huê lợi to hơn : tôm khô, cá khô.<br />
Các viên tham biện đầu tiên đến Cà Mau, Bạc Liêu ghi lại khung cảnh hoang vắng  thưa thớt, họ quên rằng lúc ấy hễ nghe tiếng máy tàu là ai nấy chạy trốn. Nhà cửa thường  cất khuất lấp ở ngọn rạch, nơi đất cao. Vàm rạch là bãi bùn đầy cây cỏ. Chạy tàu ngoài sông  cái, nơi nước sâu thì khó bề nắm được tình hình. Lại còn sự kê khai sai lạc về đất ruộng và  dân số của hương chức làng. Người Huê kiều thì tỏ ra ương ngạnh, không muốn nơi mà họ  đã nắm ưu thế lại bị xáo trộn.<br />
Về mặt hành chánh, thực dân lúng túng không biết nên tổ chức thế nào cho hợp lý.  Thoạt tiên sau khi chiếm ba tỉnh miền Tây, vùng mũi Cà Mau nhập vào hạt Rạch Giá với  tỉnh lỵ là chợ Rạch Giá. Vùng Bạc Liêu thì nhập qua hạt Sóc Trăng.<br />
Vào tháng 6/1871, vùng mũi Cà Mau nhập qua tỉnh Sóc Trăng, tách khỏi Rạch Giá. Nhưng 6 tháng sau, hoàn lại tỉnh Rạch Giá như cũ. Đến ngày 18/12/1882, chánh phủ mới dứt khoát lập ra một tỉnh mới : lấy một phần vùng Bạc Liêu thuộc hạt Sóc Trăng và vùng  Cà Mau thuộc hạt Rạch Giá nhập lại đặt ra tỉnh Bạc Liêu. Đây là hạt thứ 21 của Nam kỳ thuộc địa.<br />
Nên phân biệt rõ về trường hợp tỉnh Bạc Liêu, tuy gom vào chung một đơn vị hành  chánh nhưng gồm hai phần đất khác nhau về địa chất và về mức khẩn hoang :<br />
— Vùng Bạc Liêu, theo địa danh thời Tự Đức, ăn từ rạc Bạc Liêu trở về phía đông tiếp  giáp qua Sóc Trăng. Mãi đến những năm 1930, người lớn tuổi trong giới bình dân còn gọi  vùng này của Bạc Liêu là hạt Ba Xuyên (bài vè Nọc Nạn : Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên, Bạc  Liêu chữ đặt, bình yên dân rày). Gọi như thế vì vùng này thời Tự Đức nằm trong địa phận  phủ Ba Xuyên rồi tách ra lập thành huyện Phong Thạnh do phủ trực tiếp kiếm nhiếp. Khu  vực này thoạt tiên được người Pháp cho nhập vào tỉnh Sóc Trăng, gồm phần lớn là đất giồng  tốt, cao ráo, nhà cửa sung túc với ruộng gò, rẫy, vườn nhãn, ruộng muối. Vùng Bạc Liêu này  là đất khai thác từ xưa.<br />
— Vùng mũi Cà Mau, tức là huyện Long Xuyên thời Tự Đức với rừng đước, rừng tràm,  phần lớn là đất thấp giống như khung cảnh phía nam vùng Rạch Giá. Vùng Cà Mau này  đáng nói hơn, vì là đất mới.<br />
Điểm khó khăn cho vùng Cà Mau về mặt hành chánh là sự liên lạc với tỉnh lỵ. Tham  biện Rạch Giá cho biết là phải dùng đường biển dọc theo vịnh Xiêm La. Nhập Cà Mau qua  Sóc Trăng thuận lợi hơn, vì Cà Mau đến chợ Sóc Trăng tương đối gần. Nhưng đó là nhìn  trên bản đồ mà suy luận thôi. Tham biện Sóc Trăng đưa ý kiến vào tháng 12/1869 rằng từ Cà Mau qua tỉnh lỵ Sóc Trăng đường liên lạc quá khó khăn vào mùa nắng : nhiều đoạn  đường phải dùng trâu mà kéo ghe qua vùng lầy. Mùa mưa thì từ Cà Mau đến Sóc Trăng đi  và về tốn 6 ngày, mùa nắng thì lại tốn đến 10 ngày.<br />
Thật vậy, trên bản đồ ta thấy nhiều con rạch tuy có thật nhưng lại cong queo và quá  cạn. Mùa mưa thì nước nổi nhưng không đủ sâu để ghe thuyền lui tới dễ dàng. Muốn di  chuyển, từ lâu đời rồi, dân địa phương dùng xuồng nhỏ mà chống bằng sào hoặc dùng trâu để kéo cộ hay kéo ghe. Qua mỗi mùa mưa, cỏ và bụi lùm ở hai bên bờ rạch cứ mọc cao hơn  trước, che khuất lối đi.<br />
Nhiều vùng đất ở Cà Mau thuộc vào loại khó định nghĩa : có thể nói là một thứ đất  lỏng bỏng hoặc là một thứ nước đặc sệt.<br />
Hai năm sau, tham biện Rạch Giá cho biết : lúc trước vì có quyết định giải tán tỉnh  Rạch Giá (Rạch Giá nhập qua tỉnh Long Xuyên) nên đành cắt vùng Cà Mau nhập qua Sóc Trăng. Nay đã duy trì tỉnh Rạch Giá thì nên cho Cà Mau trở về Rạch Giá như cũ để cho số  dân Rạch Giá thêm đông đảo hơn :<br />
Rạch Giá và Cà Mau nhập lại, được 100 làng.<br />
Sóc Trăng và Cà Mau nhập lại, được 203 làng.<br />
ý kiến nhập trở lại Rạch Giá được cấp trên nghe theo vì tham biện Rạch Giá là Benoist là tay có uy tín, tàn ác với dân bổn xứ. Ông ta sợ mất thuế phong ngạn (sáp và mật), mất  thuế bến (đánh vào tào buồm Hải Nam) và đưa ý kiến là đường liên lạc từ Cà Mau đến Rạch  Giá không xa cho lắm !<br />
Sau rốt, tỉnh Bạc Liêu thành hình lấy tên là Bạc Liêu vì ngay chợ của tỉnh lỵ có con  rạch Bạc Liêu (có giả thuyết cho rằng do Poanh Lieu mà ra, tức là nơi có đạo quân người  Lào trú đóng thời xưa).<br />
Lý do chánh để lập tỉnh Bạc Liêu do Thống đốc Nam kỳ nêu ra cho Tổng trưởng Thuộc  địa Pháp là vấn đề an ninh, sự khuấy rối ngấm ngầm của Thiên Địa Hội. Giám đốc Nội vu trình bày với Hội đồng quản hạt ngày 28/8/1882 : nếu cái đầu của Thiên Địa Hội ở Chợ Lớn  thì thân hình của Thiên Địa Hội ở Bạc Liêu.<br />
Ngoài ra, dưới mắt người Pháp, Cà Mau Bạc Liêu là nơi bấy lâu chưa được ổn định  đúng mức : nhiều kẻ bất lương từ bên Tàu, từ các tỉnh lân cận tụ họp lại, lập sào huyệt.<br />
Tham biện đầu tiên của tỉnh Bạc Liêu là Lamothe de Carrier báo cáo tổng quát vào  năm 1882 :<br />
— Trong hiện tại, Bạc Liêu chưa ra gì nhưng trong tương lai sẽ nhanh chóng trở nên  thành phố lớn nhứt của Nam kỳ, sau Sài Gòn. Chỉ cần đào một con kinh nối liền Bạc Liêu  xuống Cà Mau và cất một cây cầu nối liền hai bên bờ rạch Bạc Liêu. Cây cầu này giúp cho  6000 người qua lại mua bán mỗi ngày.<br />
Theo báo cáo trên thì giữa Bạc Liêu và Cà Mau là đồng cỏ bao la che kín chân trời,  không một bóng cây cao, cỏ mọc dày, rễ bám vào bùn. Mùa nắng, cỏ vẫn không chết. Mùa  mưa nước ngập, cỏ lên cao đến một mét rưỡi. Trong đồng cỏ, ai muốn đi hướng nào thì đi, muỗi mòng vô số kể. Mùa mưa, xuồng nhỏ tha hồ di chuyển nhưng ghe to thì phải đi theo  con đường con queo hơn, gọi là “đường láng”. Đường này đầy cỏ, khi di chuyển phải có người  phát cỏ ngã rạp xuống, cào sang một bên rồi đẩy ghe trên khoảng đất vừa dọn trống trải ấy.  Nếu gặp nơi cỏ quá rậm rạp, ghe chở nặng chỉ di chuyển một ngày có một cây số. Viên tham biện đề nghị cho đào con kinh Bạc Liêu Cà Mau rồi lấy đất đào ấy mà đắp đường lộ xe. Đồng  thời, ông ta cho biết là dân số không quá ít oi nếu kiểm tra lại kỹ lưỡng hơn. Riêng về người Huê kiều ở phía Bạc Liêu trước kia khai 1900 người nay lại khai thêm 3000 người nữa cộng lại 4900 người, chưa kể một số Huê kiều làm bạn chèo ghe hoặc ẩn náu ở ruộng muối.<br />
Cũng trong năm 1882, dân bộ trong tỉnh phỏng chừng 2500 người (có thể là 30000) tức là bằng số dân ở tỉnh Tây Ninh, cao hơn số dân Rạch Giá.<br />
Diện tích toàn tỉnh là 810.000 mẫu tây, canh tác chừng 14.761 mẫu. Tổng số thuế dự thâu năm 1882 là 36.183 đồng, trong đó tiền thâu to nhứt là thuế thân của Huê kiều, kế đến là thuế điền 6.585 đồng, đến thuế thân của người việt 4.792 đồng.<br />
Chợ Bạc Liêu nằm trên địa phận làng Vĩnh Hương. Vùng ngoại ô ăn qua các làng Vĩnh Hinh, An Trạch, Tân Hưng (năm 1890, nhập lại gọi là làng Vĩnh Lợi, hương chức các làng An Trạch và Tân Hưng kêu nài vì trong tên Vĩnh Lợi không có dấu vết tên làng của họ, đề  nghị quan trên sửa Vĩnh Lợi ra làng Tứ Hòa, nhưng không được chấp thuận). Từ năm 1873,  đất làng Vĩnh Hương đã đem ra đấu giá với giá một cắc hai xu một thước vuông. Năm 1880,  khai trong bộ ở chợ Bạc Liêu là 2.757 người nhưng năm 1882 là 6000 người.<br />
Việc thành lập tỉnh Bạc Liêu gây khó khăn cho ngân sách Nam kỳ, năm 1882, phỏng  định tốn kém chừng 45.000 đồng để xây cất dinh thự, công sở, cộng thêm chừng 8.000 đồng  lương bổng cho nhân viên. Thuế phỏng định chắc chắn sẽ thâu được là 35.000 đồng nhưng  nếu thiếu tiền cứ dùng bàn ghế cũ từ tòa Bố Sóc Trăng gởi tặng. Và còn dự thu thêm một số  tiền phạt những người nào theo Thiên Địa Hội.<br />
Thoạt tiên, nhà lồng chợ cất bằng lá. Năm 1885, làng Vĩnh Hương xin cất chợ lợi ngói, hy vọng rằng tiền góp chợ sẽ tăng gấp đôi và xin vay trước của nhà nước 6100 đồng để xây  cất, làng sẽ trả lại cho nhà nước cả vốn lẫn lời trong vòng 12 năm. Năm 1892, tham biện bắt  buộc những nhà lá ở chợ phải dỡ bỏ để cất lại phố ngói có lầu.<br />
<strong><span style="color:#990000;">Tiến triển của việc cai trị<br />
</span></strong>Bộ máy hành chánh khá chặt chẽ vừa thiết lập làm cho người Huê kiều và người Minh  Hương bực bội vì họ đã quen với quy chế tự trị tương đối rộng rãi hồi thời đàng cựu. Họ xem  vùng Bạc Liêu như đất riêng của họ. Ngoài ra, còn nhiều người từ Rạch Giá đổ xuống, đa số là người lãnh bằng cấp của quân khởi nghĩa để chuẩn bị âm thầm dấy binh giữa vùng Rạch  Giá và Châu Đốc, nhưng cuộc này không xảy ra được.<br />
Năm 1885, lập được 5 trường tổng với 326 học sinh ghi tên, đa số đều vắng mặt khi bắt  đầu mùa ruộng hoặc đau ốm vì bịnh rét rừng, tất cả đều là trường lợp lá, thiếu bàn ghế,  nhiều trường không có sách gì cho học trò học ngoại trừ tờ Gia Định báo, tức là Công báo do làng phát cho.<br />
Con Đường Láng tức là đường kéo ghe từ Bạc Liêu qua Cà Mau vẫn còn sử dụng vì  chưa đào kinh được. Nhà nước giúp đỡ người đi ghe bằng cách cắm nọc làm dấu hai bên  đường, mỗi năm hai lần, cắm vào lúc đầu mùa và lúc dứt mùa mưa. Kinh Mương Điều nối  Rạch Đầm qua sông Gành Hào đào gần xong nhờ bắt dân làm xâu, chỉ còn lại 480 thước  chót.<br />
Trong mùa 1884—1885, ghe chở ra khỏi tỉnh 174.693 tạ lúa và 79.349 tạ muối. Việc  khẩn đất thì đang tiến hành, dân ở miền trên đến, tha hồ khai khẩn để mong được làm điền  chủ nhỏ ở vùng đất sình lầy, vô chủ. Về đất đai, năm 1885, chưa phân khoảnh để làm bằng  khoán được, ngoại trừ tổng Thạnh Hưng và tổng Thạnh Hòa.<br />
Quận Cà Mau còn nguyên vẹn, chưa đo đạc. Nhờ điều tra lại nên chủ tỉnh biết thêm về  vùng Cà Mau : dân không giàu nhưng ai nấy đều đủ ăn, có chùa, có đình làng, có nhà ngói.  Nhưng đi về phía mũi Cà Mau thì chạy tàu nhiều tiếng đồng hồ mà không gặp một căn chòi  nào cả. Nghề đóng đáy, làm tôm khô bán cho ghe Hải Nam càng phát triển. Chiếu Cà Mau  được giá, nhiều người bỏ nghề ruộng để dệt chiếu và vô rừng khai thác mật ong, sáp. Mùa  mưa, đường vận tải dễ dàng, họ đốn cây mà bán lậu qua Sóc Trăng hoặc lên chợ Bạc Liêu.<br />
Theo sự phỏng định lạc quan của chủ tỉnh Caffort thì trong vòng hai năm tới, Bạc Liêu  sẽ là vùng giàu có, chỉ cần cho người từ Bắc kỳ vào canh tác với kỹ thuật cổ truyền là đủ  làm cho huê lợi tăng lên gấp mười. Tỉnh Bạc Liêu phía giáp Sóc Trăng là nơi Huê kiều và  người Cao Miên đông đúc, ruộng tốt, dân chúng thích nói tiếng Triều Châu. Riêng về quận  Cà Mau, người Việt đông hơn, gần như là thuần túy, chỉ trừ hai làng có sốc Miên mà thôi.<br />
Năm 1887, Lamothe de Carrier trở lại Bạc Liêu làm chủ tỉnh và nhận định rằng tình  hình thay đổi khả quan so với nhiệm kỳ trước của ông ta. Việc kiểm tra cho biết ở Bạc Liêu  sau người Việt thì đông đảo nhứt là người Cao Miên, kế đến người Minh Hương gốc Triều  Châu. Trong 2.500 Huê kiều, người Triều Châu chiếm đến 2000. ở tổng Thạnh Hưng, nhiều  gia đình chỉ nói toàn tiếng Triều Châu và các ông hương chức hội tề không biết nói tiếng  Việt. Nạn Thiên Địa Hội, ăm trộm trâu, ăn trộm ghe, nhứt là buôn lậu á phiện còn đầy dẫy.  Dân hút thêm á phiện nhưng nhà nước bán ra ít hơn năm trước :<br />
— Năm 1884, nhà nước bán ra 56.000 đồng.<br />
— Năm 1886, nhà nước bán ra dưới 40.000 đồng vì nạn á phiện lậu thuế.<br />
Viên chủ tỉnh này lại báo động : điền chủ trong tỉnh mượn của Đông Dương ngân hàng  trên 35.000 đồng để làm mùa, nhưng có lẽ họ thua cờ bạc hết rồi. Đề nghị cho dân ngoài bắc  vào, cắp đất cho họ. Năm 1882, phỏng định 36.000 dân, nay được hơn 50.000. Đang làm  đường nối qua Sóc Trăng, đường ở chợ Bạc Liêu đã tráng đá.<br />
Để kiểm soát vùng đất rộng, giao thông khó khăn và dân số phức tạp, thực dân đã cố ý đưa về Bạc Liêu và Cà Mau một số công thần với tác phong kiêu binh và hách dịch. Phủ  Đức, từng góp công dẹp loạn lúc trước ở Mỹ Tho đến làm mưa làm gió ở Cà Mau. Cai mã tà  tên là Cang, người đã trực tiếp bắt Thủ khoa Huân ở Chợ Gạo được về Bạc Liêu làm chức  phó quản mã tà. Lính tập hữu công đã từng viễn chinh ở Bắc kỳ, dẹp loạn ở Cao Miên cũng  trở về Bạc Liêu làm chức quan trọng.<br />
Một viên thông ngôn từng trấn đóng, cướp giựt, ăn hối lộ ở Hạ Lào đã về tận Bạc Liêu  rồi mà chủ nợ ở Hạ Lào vẫn năn nỉ xin nhà nước can thiệp vì số nợ quá nhiều. Lại còn viên  chức Pháp chuyên ăn hối lộ, làm ở sở “Tào cáo” (Thương chánh) đã từng có thành tích xấu ở  tỉnh khác. Nhà nước chọn người “đáng tin cậy” để làm hương chức làng nhưng bọn này lại  xài thâm công quỹ, đánh bài và hút á phiện, đến mức chủ tỉnh nổi giận đề nghị với Thống  đốc Nam kỳ đày họ ra Côn đảo để làm gương.<br />
Vụ phủ Đức ở Cà Mau là điển hình nhứt. Năm 1897, chủ tỉnh Bạc Liêu nhận định Cà Mau là quận xa xôi và nghèo nàn nên không cần đưa một phó tham biện đến cai trị, vả lại  cơ sở quận lỵ thiếu tiện nghi. Phủ Đức đổi tới Cà Mau rồi gặp rắc rối với một công chức  Pháp làm nhân viên Công chánh. Tên bồi của viên chức này ra chợ mua đồ, cứ theo thói  quen là nửa mua nửa giựt, dân trong chợ phản đối, tên bồi đánh luôn người thầu góp chợ rồi  chưởi luôn phủ Đức. Tên bồi này bị bắt, chủ tỉnh giải hắn ta lên Khám lớn Sài Gòn để rồi  hắn được tha tội. Viên chức Pháp hồi nghi phủ Đức đã yêu cầu bắt giam người bồi, nên trả thù bằng cách công khai tố cáo phủ Đức là kẻ tiểu tốt vô danh, không biết nói tiếng Pháp mà đòi cai trị Cà Mau với những luật lệ theo quy chế thổ trước, tức là muốn giam ai thì cứ giam. Theo viên chức Pháp này thì chợ Cà Mau là nơi hỗn loạn, dân chúng mở sòng bạc  ngay ở ngoài đường, phủ Đức thì tưởng mình nhiều oai quyền như thời đàng cựu, tha hồ ăn hối lộ, chợ phố thì chẳng lo chỉnh trang, đến mức không còn tìm đâu một quán cà—phê, một  tiệm tạp hóa cho ra hồn !<br />
Một số thơ rơi gởi đến Thống đốc Nam kỳ để tố cáo phủ Đức (đây là do viên chức Pháp xúi dục, hay dân chúng thừa cơ ra tay tranh đấu ?). Những khoản tố cáo giúp ta thấy lối cai  trị thời ấy, ở nơi xa mặt trời :<br />
— Phủ Đức cho cất nhà hầu mới (nhà hầu tức là dinh quận) rồi bắt buộc cai tổng, các  ông bang Huê kiều và hương chức làng dâng lễ, gồm sáp ong, bốn tấm hoành phi (mỗi tấm  đáng giá 20 đồng). Ngoài ra còn một số bạc mặt.<br />
— Gọi người Huê kiều và hương chức làng tới nhà hầu để đánh bài với ông ta, để ông ta  lấy xâu. Nếu thua thì ông ta xin luôn.<br />
— Cho chứa cờ bạc trong xóm, me và bài tây (bài cào), xâu một ngày một đem năm  đồng.<br />
— Mỗi người dân phải chuộc công sưu nhỏ (tức là phần làm xâu cho tỉnh) là 2 ngày,  theo quy định 2 ngày này là 5 cắc, nhưng phủ Đức bắt buộc dân phải đóng 1 đồng bạc, năm cắc dư bỏ túi.<br />
— Ngày Chánh Chung (lễ 14/7 của Pháp) lại chứa cờ bạc sau nhà, ông ta lấy xâu 15  đồng một ngày, 4 ngày là 60 đồng.<br />
— Trong vòng một năm mà phủ Đức tổ chức kỵ cơm cho ông bà cở năm sáu lần. Mỗi lần  như thế, làng phải đi 4 nang sáp và 4 đồng, làng nghèo thì 2 nang (quận Cà Mau gồm 30 làng cả thảy).<br />
— Đem về quận hai ghe hát (hát bội), bắt buộc các làng phải mướn hát bao giàn một  ngày một đêm là 10 đồng, con của phủ Đức làm kép hát, đến từng nhà mà mượn tiền mỗi  nhà một đồng.<br />
— Phủ Đức lục lạo thùng thơ trước khi cho gởi, vì vậy các đơn tố cáo đều bị xem trước.<br />
— Mỗi tháng phủ Đức chở sáp đem về xứ một lần, mỗi lần chở hai thùng đầy, thùng dài  1 thước rưỡi, cao 1 thước.<br />
Lại còn đơn tố cáo phủ Đức có thành tích xấu hồi trấn nhậm ở Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu. Chủ tỉnh Bạc Liêu binh vực phủ Đức, cho là vu khống (phải chăng vì có ăn hối lộ  của phủ Đức) nhưng chủ tỉnh cũng nhượng bộ, yêu cầu cấp trên cho một người Pháp tới  thay thế vì phủ Đức đã quá 60 tuổi rồi.<br />
<strong><span style="color:#990000;">Vài nét về tình hình năm 1902 trở về sau</span></strong><br />
Thiên Địa Hội được tổ chức lan tràn khắp Bạc Liêu khiến người Pháp báo động. Một số  đông người Việt và Hoa kiều gia nhập, ăn thề với nhau nhưng rốt cuộc dường như Hội chỉ còn hoạt động trong phạm vi cứu tế, vài người lại lợi dụng hệ thống bí mật của Hội để buôn  bán á phiện lậu thuế.<br />
Tuy nhiên, còn nhiều cán bộ trung kiên của Thiên Địa Hội biết kiên nhẫn chờ thời để  phối hợp hành động với toàn Nam kỳ vào năm 1913. ở Cà Mau vào khoảng năm 1910, ông  hội đồng Trần Đắc Danh và ông Lâm Mẫn Huệ hoạt động mạnh, bị tù. Thực dân cứ xét bắt,  phạt tiền kẻ vô tội mặc dầu chẳng tìm được bằng cớ nào chứng tỏ người Huê kiều ở Bạc Liêu  theo đuổi mục đích chính trị chống Pháp. Thực dân cũng cố gắng kiểm soát hàng ngũ lính  mã tà và hương chức làng. Những người Việt quá hăng hái thì lén trốn lên vùng Thất Sơn,  gia nhập những nhóm Thiên Địa Hội mang tánh chất Việt Nam hơn, nhằm mục đích đánh  đổ thực dân.<br />
Phong trào tranh đấu đáng kể của đồng bào Bạc Liêu, Cà Mau là việc chống làm xâu.  Con đường từ chợ Bạc Liêu nối xuống Cà Mau đã thành hình nhưng nhiều nơi cần phải đắp  cao lên, khó khăn nhứt là trải đá. Nhà nước không giao cho nhà thầu vì quá tốn kém. Thay  vào đó, bắt dân đốt đất ruộng cho chín rồi đập nát đem trải mặt đường, xài tạm thay cho đá.<br />
Thực dân bấy lâu chỉ chú ý tu bổ con lộ ăn từ Bạc Liêu qua phía Sóc Trăng ; theo hệ thống giao thông thời ấy thì công văn, thư từ đưa từ Bạc Liêu đến Sóc Trăng, để rồi từ Sóc  Trăng ra Đại Ngãi (Vàm Tấn, bờ Hậu giang) đến đây mới dùng tàu thủy đưa về Sài Gòn.<br />
Làm xong con lộ Bạc Liêu, Cà Mau là kiểm soát thêm dân, thâu thêm thuế, lúa gạo  đưa về tỉnh lỵ nhanh hơn. Và ở hai bên bờ lộ, đất hoang sẽ có người tới khẩn, nhà nước tha  hồ bán đấu giá.<br />
Lộ xe làm từng khúc, ngang tổng nào thì dân tổng ấy làm xâu, kinh đào cũng vậy.  Thoạt tiên khi có lịnh thì một số đông người đi làm lấy lệ để rồi phản đối ra mặt.<br />
Nhà nước bắt buộc mỗi người đắp lộ 14 mét bề dài, bề cao 5 tấc và mỗi người đốt đất 7  thước khối, hầm chín.<br />
ở làng Vĩnh Mỹ, hương chức làng bắt mỗi người dân xâu đắp đến 28 thước lộ và cung cấp 7 thước khối đất.<br />
Làng Hòa Bình và làng Vĩnh Mỹ trở thành trung tâm tranh đấu. Ngày 15/4/1902, dân làng Vĩnh Mỹ làm đơn trình bày là họ chỉ đồng ý làm trọn 2 ngày công sưu theo luật định  mà thôi. Còn việc đốt hầm để trãi đường thì “chúng tôi không biết làm chi mà đốt đủ để trả  cho nhà nước, nay chúng tôi đành ở tù” ; 58 người ký tên dưới lá đơn.<br />
Hương chức làng đánh trống ở công sở gọi dân tập họp đi làm xâu, 32 người đến và ra mặt chống đối. Hương chức làng hăm he. Họ đưa yêu sách : sẵn sàng làm xâu cho nhà nước  5 ngày, nhưng việc đốt đất thì không.<br />
Ngày 15, tại làng Hòa Bình thì không ai chịu đi cả. Viên phó tổng đánh trống thì 39  người tới công sở bảo rằng họ cương quyết không chịu làm xâu. Một số khác không thèm tựu  lại công sở, hỏi thì họ trả lời rằng sợ bị trả thù, vì bọn chống đối hăm he đốt nhà rồi giết  những ai đi làm. Viên phó tổng yêu cầu chủ tỉnh phạt bọn chống đối mỗi đứa 8 ngày tù và 10 đồng tiền vạ.<br />
Ông Hội đồng quản hạt (thuộc đơn vị Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu) là Hồ  Bảo Toàn trình bày với Thống đốc Nam kỳ :<br />
— Theo luật định, mỗi người dân chỉ phải làm 2 ngày công sưu nhỏ (phần địa hạt) mà  thôi. Nhiều người đã chuộc công sưu, chịu đóng 2 ngày là 5 cắc cọng vào tiền thuế thân rồi. Nay bắt họ đi làm xâu thì nhà nước phải trả lại 5 cắc ấy cho họ.<br />
— Việc đắp lộ và hầm đất vượt quá khả năng của người dân vì tốn nhiều công để đào  đất, đốt đất, đập đất cho nhỏ, chở đến lộ rồi trải ra với mớ tro đã hầm (tro than củi). Tóm  lại, chủ tỉnh Bạc Liêu đã “quá sốt sắng”.<br />
Hội đồng quản hạt can thiệp chỉ vì dân 2 làng nói trên gồm 150 người đứng đơn kêu  nài gởi thẳng đến Thống đốc Nam kỳ, một việc làm táo bạo lúc bấy giờ vì họ dám trực tiếp  chống viên chủ tỉnh Pháp là Chabrier. Dân đưa ra lý lẽ :<br />
— Làm xâu chỉ có 2 ngày theo luật mà nay nhà nước lại bắt hầm đất đắp lộ, làm 2 tháng chưa chắc rồi. Hơn nữa, muốn đốt cho xong 7 thước khối đất, dân phải xuất tiền túi ra mà mua củi.<br />
— Năm ngoái (1901), nhà nước đã bắt làm xâu mỗi người 2 tháng (mà theo luật định  thì chỉ có 2 ngày) để đào kinh Bạc Liêu, Cà Mau mà chẳng thấy nhà nước trả thêm đồng bạc  nào.<br />
— Làng Hòa Bình là nơi thiếu củi để hầm đất, hầm xong phải chở 10 cây số mới tới lộ xe.<br />
— Cai tổng và hương chức làng đòi hối lộ, ai lo lót 15 đồng thì khỏi làm xâu, người  nghèo phải đi làm vì không tiền lo.<br />
Ngày 18/4/1902, dân trong 3 làng kéo nhau đến trước cửa tòa Bố. Họ bị viên phó tổng  và bọn lính mã tà đàn áp, đánh đuổi.<br />
Dân làng gởi liên tiếp 3 lá đơn đến Thống đốc Nam kỳ để tố cáo : “Vả chăng quan Chánh bố là quan trong địa hạt mà hiệp với tổng mà khắc khổ dân tình lắm”, dưới đơn có 83  người ký. Rốt cuộc, chủ tỉnh là Chabrier bị Thống đốc rầy rà vì việc làm xâu đã vượt mức  luật định và xa thực tế, từ rày về sau “phải tránh những việc tương tự”.<br />
Việc đắp đường cứ tiếp tục. Chủ tỉnh nhượng bộ, hạ mức 7 thước khối đất hầm còn 2  thước khối và khoe khoang rằng mỗi ngày đã huy động từ 10.000 đến 12.000 dân xâu đắp  lộ ; theo ông ta thì việc làm xâu quá luật định cũng đã từng xảy ra ở tỉnh Sóc Trăng. Và ở  Bạc Liêu chỉ có hai làng là phàn nàn mà thôi.<br />
Chưa xong việc đắp lộ, nhà nước lại thúc đẩy việc đào kinh Bạc Liêu, Cà Mau : dân  làm xâu được nhà nước phát cho rượu đế, vì là “thức uống hợp vệ sinh”.<br />
Việc làm xâu đã từng là tai nạn lớn cho dân ở Cà Mau từ khi người Pháp mới đến :  năm 1877, phủ Hòa bắt dân 3 tổng ở Cà Mau (Long Thủy, Quảng Long, Quảng Xuyên) đào  kinh Bạch Ngưu nối qua phía nam Rạch Giá, đánh đập dân ; năm 1881, tự ý cho dân mướn  thủy lợi trong kinh này nhân dịp bắt dân xâu lần thứ nhì.<br />
Năm 1895, mùa màng thất bát quá mức tưởng tượng : Bạc Liêu và Sóc Trăng chỉ còn  1/10 hoa màu, mưa quá nhiều rồi gặp đại hạn. Vì mức thâu hoạch chỉ còn 1/10 nên Hội đồng  quản hạt đề nghị với Thống đốc Nam kỳ miễn thuế điền ở Bạc Liêu năm 1896 cho 46.000  mẫu ruộng, huê lợi sút kém chỉ còn đủ nuôi sống dân trong tỉnh là 46.498 người. Trong số  này, có 11.484 dân bộ được bớt thuế thân để tiếp tục làm xâu đào kinh Bạc Liêu, Cà Mau.  Năm ấy đào được 46 cây số (con kinh dự định đào dài 72 cây số). Cuối năm 1895, cai tổng Thạnh Hưng báo động, làm đơn xin miễn thuế với Thống đốc Nam kỳ : “Bây giờ dân không  biết đi đâu hết vì nội tổng tôi không có lúa, nó đi kiếm ăn đỡ đói”.<br />
Đất ruộng nói chung thì tập trung về phía Đông giáp qua Sóc Trăng, nơi đã có người  làm chủ từ lâu. Dân mới đến lập nghiệp chỉ còn vùng đất gần biển hoặc đất quá thấp phía mũi Cà Mau. Năm 1902, vài người khẩn đất lại phá sản, trả lại cho nhà nước vì đất không  huê lợi, không sao đóng thuế được. Người nọ khẩn 160 mẫu ở Tân Hưng, thiếu thuế rồi bị bỏ tù, hương chức làng dán yết thị, rao bán đất ấy để bù tiền thuế nhưng chẳng ai thèm mua.<br />
Làng Tân Thuận phía Cà Mau khai với quan trên : “đất đồng không có, làm đất ráng  (tức là sình lầy có ráng mọc) theo mé sông, nước mặn tràn vô làm hư lúa, nước không tràn  khi nào mưa muộn”. ở Tân Duyệt, trừ số đất cao ráo có người khẩn từ xưa thì “dân nó làm  ruộng đất rẫy là đất dừa nước, chà là và ráng ở gần biển”, đa số đất ở gần biển vùng mũi Cà Mau đều là “nê địa ủng tắt”. Theo giá trị thường, một mẫu đất tốt ở Mỹ Tho, Gò Công trị giá  từ 200 đồng đến 300 đồng trong khi đất gọi là đốt ở vùng Cà Mau trị giá không hơn 100  đồng.<br />
Nhờ quy chế mỗi người được khẩn 10 mẫu (gọi là đất công nghiệp) nên dân tứ xứ luôn  cả những người đã thất bại ở Rạch Giá trong đợt khai thác đầu tiên đều rủ nhau đến Cà Mau. Nói chung thì đất hoang ở tỉnh Bạc Liêu quá thấp, có chân nước mặn, ba bốn năm đầu  khó thâu huê lợi.<br />
Mức trưởng thành của Bạc Liêu, Cà Mau khi chuyển mình góp phần lớn vào vựa lúa  miền Nam, có thể đánh dấu vào khoảng 1914, khi nhà nước cho nghiên cứu đào kinh Quan Lộ, nối liền Phụng Hiệp xuống Cà Mau (gọi Quan Lộ vì kinh này khởi đầu từ rạch Quan Lộ). Nhờ đó mà trong tương lai gần, lúa gạo vùng Bạc Liêu, Cà Mau được chở về Sài Gòn  theo đường thủy, ngang qua Rạch Giá, Cần Thơ rồi Trà Ôn, Vĩnh Long (Mân Thít)&#8230;<br />
Năm 1927, người Pháp chỉ làm chủ ở Bạc Liêu chừng 30.000 mẫu. Bạc Liêu tiến sau  các tỉnh khác, nhưng theo tốc độ nhanh.<br />
Năm 1893, bán ra 316.000 tạ gạo.<br />
Năm 1921, bán ra 2.733.330 tạ.<br />
Năm 1927, diện tích canh tác lúa gạo của Bạc Liêu đứng hạng nhì ở Nam kỳ, chỉ sau  Rạch Giá. Nhưng Bạc Liêu còn thêm nguồn lợi than đước, ruộng muối, nhứt là rừng tràm và hải sản. Đến năm 1927, đất ruộng đã chiếm 34 % diện tích của toàn tỉnh Bạc Liêu và chiếm  49 % diện tích của toàn tỉnh Rạch Giá.<br />
Trong thực tế, với trình độ kỹ thuật và cơ cấu xã hội kinh tế thời ấy, khó mà khai thác nhiều hơn.<br />
ở Bạc Liêu vào năm 1927, nhiều làng rộng 20.000 mẫu tây, to hơn một tỉnh bực trung ở  Nam kỳ. Đứng đầu là làng Khánh An rộng đến 140.000 mẫu tây. Tuy nhiên, ta không nên  có ảo tưởng là dễ tạo nên ruộng lúa phì nhiêu : đây là rừng tràm nê địa, dân khẩn hoang  đến ở tuy gan lì nhưng rốt cuộc phải ra đi vì chỉ thâu được huê lợi duy nhất là đốn củi lậu  thuế, bán từng xuồng nhỏ mà đổi gạo ăn ngày qua ngày. Một vài giồng đất cao thì đã có chủ  từ thời Gia Long tẩu quốc rồi.</p>
<p>(<em>Xem tiếp Chương II-5</em>)</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/chevietnam.wordpress.com/164/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/chevietnam.wordpress.com/164/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/chevietnam.wordpress.com/164/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/chevietnam.wordpress.com/164/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/chevietnam.wordpress.com/164/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/chevietnam.wordpress.com/164/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/chevietnam.wordpress.com/164/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/chevietnam.wordpress.com/164/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/chevietnam.wordpress.com/164/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/chevietnam.wordpress.com/164/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/chevietnam.wordpress.com/164/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/chevietnam.wordpress.com/164/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/chevietnam.wordpress.com/164/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/chevietnam.wordpress.com/164/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=164&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ch%c6%b0%c6%a1ng-ii-4-vung-b%e1%ba%a1c-lieu-ca-mau-xa-xoi-va-ph%e1%bb%a9c-t%e1%ba%a1p/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/bccd66a218a0b2086db33dbc931d297c?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">chevietnam</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Lịch sử khẩn hoang miền Nam(Sơn Nam): Chương II-3:  Vùng Rạch Giá đất rộng người thưa</title>
		<link>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ch%c6%b0%c6%a1ng-ii-3-vung-r%e1%ba%a1ch-gia-d%e1%ba%a5t-r%e1%bb%99ng-ng%c6%b0%e1%bb%9di-th%c6%b0a/</link>
		<comments>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ch%c6%b0%c6%a1ng-ii-3-vung-r%e1%ba%a1ch-gia-d%e1%ba%a5t-r%e1%bb%99ng-ng%c6%b0%e1%bb%9di-th%c6%b0a/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 07 Jul 2009 17:01:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>chevietnam</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử khẩn hoang miền Nam - Sơn Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://chevietnam.wordpress.com/?p=162</guid>
		<description><![CDATA[Rạch Giá là hậu bối khá rộng của bờ biển vịnh Xiêm La. Bờ biển từ Rạch Giá (vàm  sông Cái Lớn) ăn về phía Nam là khu rừng sác với cây mắm, cây giá, cây cóc, loại cây tạp  không đem huê lợi gì đáng kể, trừ huê lợi sáp và mật ong, hoặc [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=162&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Rạch Giá là hậu bối khá rộng của bờ biển vịnh Xiêm La. Bờ biển từ Rạch Giá (vàm  sông Cái Lớn) ăn về phía Nam là khu rừng sác với cây mắm, cây giá, cây cóc, loại cây tạp  không đem huê lợi gì đáng kể, trừ huê lợi sáp và mật ong, hoặc cua, ba khía sống nhun nhúc  trong bãi bùn (khu vực của cây đước chỉ ở về phía cực Nam tận mũi Cà Mau). Hậu bối tức là sau lưng, giáp vào rừng sác. Có thể nói đất Rạch Giá là rừng tràm minh mông, nhiều phèn  và thấp; xa bờ biển hàng đôi chục cây số ngàn vẫn còn là rừng tràm cầm thủy (trầm thủy).  Nổi danh nhứt là U Minh Thượng và U Minh Hạ. U Minh Thượng là rừng chồi, có từng lõm  “đất cháy” (than bùn) nằm bên tả ngạn sông Cái Lớn. U Minh Hạ là rừng tràm tốt và mọc dày, dọc ven biển chạy dài tới Cà Mau. Đất Rạch Giá khi người Pháp đến hãy còn nhiều cọp,  khỉ, sấu, heo rừng, huê lợi chánh vẫn là mật và sáp (nhờ bông cây tràm, cây giá). Ngoài ra còn cây tràm (làm củi, cột nhà), lá dừa nước (để lợp nhà), cá đồng và cá biển. Đáng chú ý là voi thường tới lui cánh đồng nối liền với Cần Thơ mà ăn lau sậy.<br />
Hai con sông đáng kể là Cái Bé và Cái Lớn từ đất thấp phía Đông chảy ra vịnh Xiêm  La, hiệp lại ở một vàm khá rộng. Hai con sông này chia ra nhiều nhánh nhóc. Ngọn sông  Cái Bé ăn qua rạch Cần Thơ, về bờ Hậu giang. Sông Cái Lớn ăn xuống Ba Xuyên, thuộc Sóc  Trăng hoặc xuống phía chợ Cà Mau nhưng là những đường liên lạc nhỏ bé, vào mùa nắng có  nhiều chặng cạn và hẹp, đầy cỏ. Dân ở vùng Rạch Giá, trước khi đào kinh xáng, phần lớn  sống nhờ nước mưa, trừ trường hợp chợ Rạch Giá hứng nước ngọt từ kinh Thoại Hà (đào từ cuối đời Gia Long) nối qua Hậu giang. Giếng có thể đào trên mấy giồng cao ráo, chắc thịt bên bờ sông. Vùng ven biển vịnh Xiêm La định cư được là nhờ nước suối chở từ Hòn Tre.  Bên bờ Cái Lớn, Cái Bé và các phụ lưu, rải rác nhiều giồng, nhiều gò, nơi người Miên đến  lập từng sốc : những ốc đảo hoang vắng, chung quanh là rừng che kín chân trời. Muỗi mòng,  rắn và vô số chim cò tha hồ nẩy nở.<br />
Trước đời Gia Long, dân chúng đã chọn lựa vài gò cao lập được bảy xã theo sông Cái Bé  và chợ Rạch Giá (tổng Kiên Định), bốn xã theo sông Cái Lớn (tổng Thanh Giang). Nhưng  dân số người Miên và diện tích ruộng đất do họ canh tác từ xưa vẫn đáng kể tuy không có con số chánh thức. ít ra họ cũng dư khả năng tự túc về lúa gạo. ở Rạch Giá, người Miên  đứng vào hàng đầu (Rạch Giá : 80.000 người, Trà Vinh : 80.000, Sóc Trăng : 50.000, Châu Đốc : 30.000, Bạch Liêu : 23.000).<br />
Vĩnh Long mất, Hà Tiên lại mất, thực dân chiếm huyện Kiên Giang không tốn một  phát đạn. Viên tham biện đầu tiên là Luro. Paulin Vial đến Rạch Giá thanh tra nhưng năm  sau Nguyễn Trung Trực đánh một trận thần tình, giết gần trọn người Pháp vừa lính vừa  viên chức ở tỉnh lỵ này (16/6/1868).<br />
Dạo ấy, Rạch Giá là hải cảng tấp nập, tàu buồm Hải Nam tới mua bán luân lưu giữa  khu vực Cao Miên (thương cảng Kampot), Xiêm (Vọng Các), Tân Gia Ba và Nam Dương.  Nhà cửa san sát ở hai bờ rạch sát vàm biển. Thoạt tiên, hạt Rạch Giá bao gồm luôn trọn mũi Cà Mau, tức là huyện Kiên Giang và huyện Long Xuyên thời Tự Đức. Sông rạch nhỏ chằng chịt, tháng nắng dùng không được, chỉ thuận lợi cho ghe xuồng cỡ nhỏ. Nhiều con  đường mòn dành riêng cho dân địa phương sử dụng ở nơi đi bộ không được đi xuồng không  xong; đó là đường cộ, dùng cộ có trâu kéo (không bánh xe, kiểu cộ trượt tuyết ở Bắc Ñu). Mãi  đến năm 1879, vùng Rạch Giá còn trong vòng thám hiểm của thực dân, bản đồ chưa được  chính xác, nhiều con rạch dân chúng sử dụng được nhưng chưa ghi, lại còn vị trí nhiều xóm  nhỏ ẩn lánh ở ngọn rạch của bọn người đốn củi lậu thuế hoặc ăn ong (lấy sáp và mật). Bọn  thợ rừng sử dụng những con đường quanh co để chở củi lậu thuế. Việc cai trị ở thôn quê xa  tỉnh lỵ chưa thành nền nếp. Theo báo cáo của tham biện thì năm 1879, tỉnh này tuyệt nhiên  chưa có địa bộ, tất cả đất trong tỉnh đều được xem như là công điền. Hương chức làng kê khai diện tích tổng quát, chịu thuế rồi gán ép lại cho dân. Vài người tự nhận là chủ của phần đất đang canh tác, vì chính họ khai phá hoặc do cha mẹ để lại. Trường hợp làng Vĩnh  Lộc (vùng Ngan Dừa, còn gọi là Ngan Gừa) : hương chức làng chịu thuế điền là 406 quan để  rồi bắt buộc dân gồm đa số là Cao Miên phải đóng gấp đôi gấp ba. Hương chức cứ ở không  mà hưởng, đến độ dân địa phương phẫn nộ, đòi tản cư luôn qua Sóc Trăng nếu họ không  được phép lập một làng riêng.<br />
Đầu năm 1880, tham biện chủ tỉnh làm tờ trình về tình hình thuế khóa và dự án thâu như sau (Rạch Giá và Cà Mau) :<br />
— Thuế điền ănm 1879 : 11.068 quan, tính trên tổng số đất ruộng và rẫy là 2.847 mẫu.<br />
Dân đinh gồm người Việt và Cao Miên : 2744 người (2.010 Việt và 734 Miên).<br />
Mấy giồng chung quanh chợ Rạch Giá trồng xoài, vì lâu năm nên hóa xoài rừng. Người  Huê kiều và người Minh Hương làm rẫy rau cải, đất ngoại ô cũng như tại chợ đều không có  bộ sổ chi cả.<br />
Thuế kiểm lâm thất thâu, dân chúng lén đốn cây tràm trong rừng rồi theo đường  quanh nẻo tắt mà chở qua Sóc Trăng thay vì đi ngang qua trạm kiểm soát.<br />
Nguồn lợi lớn nhứt của ngân sách vẫn là thuế phong ngạn (đấu giá từng lô rừng cho  dân khai thác sáp, mật) : năm 1879 đã thâu : 29.546 quan (trong khi thuế điền chỉ có 11.068  quan).<br />
Nguồn lợi thứ yếu là đấu thầu sân chim : năm 1879 đã thâu : 25.000 quan.<br />
Tóm lại, năm 1880, Rạch Giá không được chánh phủ Nam kỳ chú ý nhiều. Riêng về  sân chim thì các viên tỉnh trưởng xem như là “kỳ quan”. Tuy nhiên, những nguồn lợi sáp  mập cùng là sân chim giảm bớt trong những năm sau, dân phá rừng lần hồi để bán cây. Cây  tràm tuy không là danh mộc nhưng làm cột nhà rất tốt, bán qua các tỉnh lân cận. Sân chim  mỗi lần khai thác là giết cả trăm ngàn con vừa lớn vừa nhỏ để lấy lông kết quạt.<br />
Trong khi ấy ở một tỉnh xưa như tỉnh Sa Đéc (tức huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang đời  Tự Đức, thuộc trấn Vĩnh Thanh đời Gia Long) dân số và bộ điền đã khá rành mạch :<br />
Chúng ta thử so sánh tạm.<br />
Diện tích ruộng vườn và rẫy, trong bộ sổ của Pháp mới lập :<br />
Rạch Giá 2.2847 mẫu<br />
Sa Đéc 53.386<br />
Dân đinh ở Rạch Giá, Cà Mau 2.744 người<br />
Sa Đéc 128.902 người<br />
Vì là tỉnh xưa, ở Sa Đéc nhiều vùng đông đúc, mật độ cao đến 241 người mỗi cây số  vuông, đất bị cắt manh mún theo chế độ tiểu điền chủ, những sở đất dưới 5 mẫu chiếm 4/10  của tổng số đất khai thác. Và 6/10 của đất khai thác là đất thổ cư và vườn tược.<br />
Sáu năm sau, năm 1886, tình hình tỉnh Rạch Giá bắt đầu khả quan hơn. Báo cáo của  tham biện ngày 8/8/1886 nêu vài chi tiết :<br />
— Trong 7 người dân, tỷ lệ là 4 người Cao Miên, 3 người Việt.<br />
— Biến cố ở Kinh thành Huế (vụ Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi 1885) chẳng gây  xúc động gì rõ rệt trong dân gian;<br />
— Đường bộ quá ít, dân chúng ao ước đường thủy phát triển thêm. Mọi việc xê dịch đều  dùng đường thủy.<br />
— Dân ra chợ mua bán thường dùng đường biển cho nhanh hơn. ở vùng Cái Lớn (Mũi  Gảnh) nạn chìm ghe thường xảy ra.<br />
— Năm 1883, đã bắt dân xâu đào con kinh, gọi là kinh Ông Hiển, để đi từ sông Cái Bé, từ rạch Tà Niên ra chợ mà khỏi vượt biển. Kinh này tiếp tục đào đến năm 1886. Đường liên lạc từ Rạch Giá đến Châu Đốc gần như không có, dân chúng dùng xuồng nhỏ, theo đường  quanh len lỏi giữa rừng tràm.<br />
— Đào xong con kinh từ Cạnh Đền ăn xuống Cà Mau (kinh Bạch Ngưu), dùng dân xâu  làng Vĩnh Lộc.<br />
— Con lộ chiến lược quan trọng nhứt trong tỉnh chạy từ chợ Rạch Giá vô Minh Lương  (khoảng 15 cây số). Minh Lương làm xóm sung túc từ lâu đời, gồm đa số người Miên. Lộ này  vạch sẵn hồi xưa, nay tu bổ lại để đem thơ từ, chạy ngựa.<br />
— Trường học tại tỉnh lỵ lợp lá, ngưng dạy từ mấy năm qua đang bắt đầu hoạt động trở<br />
— Năm 1885, trong toàn tỉnh có 6 trường tổng, trường ở Minh Lương không đem lại kết  quả vì thiếu giáo viên.<br />
— Dân bộ chịu thuế năm 1883 là 8.000 người, năm 1886 là 10.000 người. Kết quả này  thâu được là nhờ lập bộ kỹ lưỡng hơn trước.<br />
— Bộ điền năm 1883 : 8000 mẫu; năm 1886 : 10000 mẫu.<br />
Đất ruộng khó kiểm soát vì dân làm ruộng không đều, hễ thất mùa thì họ dời chỗ.  Nhiều vùng đất 3 năm mới có làm một mùa ruộng.<br />
Tại chợ, từ 4 năm qua đã lập một lò gạch nhưng xấu về phẩm chất. Vì chưa cấp bằng  khoán thổ cư nên chẳng ai dám xây nhà gói, sợ sau này bị đuổi.<br />
— Việc mua bán xáo trộn vì giá tiền kẽm bị sụt. Tiền điếu (bằng đồng phiếu) lại khó  xài, nhà nước phát ra khi dân lãnh ngân phiếu, nhưng dân đem tiền điếu đóng trở lại cho  “công xi” khi mua á phiện và rượu.<br />
Tóm lại, tỉnh Rạch Giá (gồm luôn Cà Mau) là miếng mồi khó nuốt so với các tỉnh miền  Tiền giang như Sa Đéc, Mỹ Tho, Vĩnh Long hoặc Long Xuyên. Huê lợi, thuế khóa quá thấp  kém. Các viên tham biện không rành về hành chánh, những bản phúc trình chánh thức gởi  về cho Giám đốc Nội vụ về hình thức cũng như nội dung gần như là thơ riêng gởi cho bạn,  viết tháu, báo cáo đại khái vài nét, nhận xét tùy hứng, không thứ tự.<br />
Trong thực tế, muốn báo cáo kỹ lưỡng cũng không được vì tỉnh này vừa khi mới thành  lập đã thiếu người hợp tác; các tỉnh Tiền giang dầu sao đi nữa cũng thừa một số người lịch  lãm biết chữ nho hoặc chữ quốc ngữ, am hiểu địa phương. Sau cuộc đánh úp đồn chợ Rạch  Giá vào năm 1868, người Pháp nghi kỵ tất cả người Việt vì đa số lính mã tà, đến viên quản mã tà cũng đều làm nội ứng. Thực dân không muốn xài người Việt ở Rạch Giá và nhân dịp  tu chỉnh lại bộ máy cai trị, chúng cố ý dùng người Miên để trị người Việt, cổ xů chia rẽ. Vài  người hữu công được nâng lên làm huyện, bấy giờ đóng vai phụ tá của tham biện để cai trị, đi điều tra miền quê. Đây là những người kém văn hóa, háo sát, ham danh vọng. Những  người Miên hoặc Miên lai Tàu này đều lấy tên họ như người Việt :<br />
— Phó quản mã tà người Miên tên là Cao Thiên gọi nôm na là phó quản Thiên làm phủ,  lập công sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực bằng cách điềm chỉ, bắt giết. Năm 1873,  nghỉ việc vì già (60 tuổi), Pháp cho chức phó quản là để tưởng lệ công lao, chẳng có năng lực  chuyên môn gì cả.<br />
— Huyện Xiêu được làm huyện sau khi Nguyễn Trung Trực rút khỏi Rạch Giá, kiêu  hãnh tới mức dám tố cáo chuyện xấu của tham biện Rạch Giá lên quan trên. Tám tháng sau  khi nhận chức thì bị Pháp cách chức.<br />
— Huyện Trần Lương Xuân, cũng người Miên được tin cậy cho trấn nhậm vùng Minh  Lương, khu vực đông dân và phì nhiêu. Tự xưng trong công văn “Kiên Giang huyện, Tri  huyện Trần Lương Xuân”, được giữ một khẩu súng lục, 2 khẩu súng hai lòng, 1 khẩu súng 1 lòng, 4 cây giáo, 1 khẩu súng Le Faucheux.<br />
lại.<br />
— Trịnh Lục Y, người Miên, từng được cựu trào phong chức cai tổng, cư ngụ vùng áp lục  (Rạch Tìa, Thủy Liễu) rồi theo Pháp. Sau thời gian làm cai tổng dài dẵng là 48 năm, thấm  mệt xin nghỉ, được huy chương bạc hạng nhứt.<br />
— Cai tổng Hà Mỹ Phiến (tên ngoài là Phến) người Tàu lai Miên làm vua một cõi ở tổng  Kiên Hảo, chữ nghĩa kém, được sắm 4 cây mác thông cho bọn hộ vệ khi đi hầu quan vì đường sá còn rừng rậm (con và cháu đều làm cai tổng nối tiếp đến năm 1945).<br />
— Cai tổng Trần Quang Huy (con của cai tổng Trần Quang Sô) cũng người Miên, làm  phó tổng Kiên Hảo. Cai tổng Sô tận tụy với thực dân từ buổi đầu, bị nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực giết. Sau đó, Pháp ban chức phó tổng cho Huy là nghĩ tới công lao của cha. Ngày trước, Pháp cho tổng Sô hai cây súng, súng này giao lại cho Huy.<br />
Người Việt Nam duy nhứt được Pháp tin cậy ban chức cai tổng là Nguyễn Văn Nguơn,  coi tổng Kiên Định, ngụ ở Tân Hội, một làng đông dân khi Pháp đến và có công lớn là báo tin trước cho tên tham biện Rạch Giá về việc Nguyễn Trung Trực sắp tấn công nhưng tên  tham biện không tin lời (vì oán xã Nguơn nên nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực đã giết  lây một số người công giáo ở Tân Hội, xóm của Nguơn cư ngụ). Cai tổng Nguơn làm chúa một vùng, được cấp cho 6 khẩu súng, đặc biệt là 1 khẩu thần công mà quân sĩ của Nguyễn Trung Trực bỏ rơi lại.<br />
Với bọn cộng sự viên như thế, các tham biện ở giai đoạn đầu tỏ ra chán nản. Chung  quanh chợ, ngoài vài xóm đông đúc là rừng rậm, họ không muốn đi thanh tra. Mãi đến năm  1901, viên bếp trạm (đi thơ từ công văn, ngạch bếp) còn kêu nài để xin được giữ cây súng vì vùng Ngan Dừa (làng Vĩnh Lộc) là nơi nguy hiểm, khó di chuyển, đi trát cho làng nọ làng kia thì đường đi rừng bụi vắng vẻ quá, “có nhiều lần tôi gặp cọp nó làm dữ với tôi, thì tôi  cũng nhờ có cây súng tôi bắn nó chết, có khi nó ra phá xóm làng thì người ta tới kêu tôi cùng  đi cứu giúp mà bắn cho đặng bình an trong xóm”.<br />
Vì không thấy có huê lợi dồi dào về thuế má trong tương lai gần nên vào khoảng 1889,  hạt Rạch Giá bị sáp nhập vào hạt Long Xuyên cho đỡ tốn kém về mặt bố trí cơ sở hành  chánh cùng là lương bổng nhân viên. Rạch Giá lúc bấy giờ trên con dấu chánh thức là “Kiên  Giang huyện” của tỉnh Long Xuyên, còn con dấu của tham biện Long Xuyên ghi  “Arrondissement de Long Xuyên” chính giữa là “Long Xuyên, Rạch Giá”.<br />
Nhưng đôi năm sau, Rạch Giá tách trở lại làm một tỉnh như trước, chánh phủ đang trù liệu kế hoạch khai thác quy mô vùng Hậu giang với ngân sách của chánh quốc cho mượn :  đào kinh nối liền từ vịnh Xiêm La lên Sài Gòn.<br />
<strong><span style="color:#990000;">Chỉnh đốn tỉnh lỵ Rạch Giá và các vùng phụ cận</span></strong><br />
Chợ Rạch Giá là cơ sở tốt với giồng cao ráo sát bờ biển, lại còn nhiều giồng đất phì nhiêu vùng phụ cận. Quy chế khẩn đất đặt ra rành mạch, các tỉnh miền Tiền giang không  còn đất tốt vô chủ khiến nhiều người đổ xô về Rạch Giá là nơi dễ làm ăn, đặc biệt là dân từ Long Xuyên đến. Tháng 10/1895, chủ tỉnh báo cáo về Thống đốc Nam kỳ với ý kiến của Hội  đồng địa hạt đưa nhiều đề nghị :<br />
— Từ vài năm qua dân số gia tăng gấp đôi.<br />
— Diện tích canh tác tăng hơn 10 lần.<br />
— Đề nghị vét kinh Rạch Giá, Long Xuyên (Thoại Hà) để tàu Lục tỉnh từ Sài Gòn đến  chợ Rạch Giá ít nhứt là 3 lần trong mỗi tuần như các tỉnh khác. Bấy lâu, Rạch Giá và Hà Tiên không có chuyến nào trong tuần (tức là khoảng 10 ngày mới có một chuyến).<br />
— Bảo vệ bờ biển Rạch Giá đừng cho lở, bằng cách cẩn đá mà chận sóng biển. Đồng  thời, xây một con đê bằng đá chạy ra ngoài biển để vào mùa hạn tàu bè có thể cất hàng hóa (nhưng không thực hiện được).<br />
Bấy lâu đường giao thông từ Rạch Giá lên Sài Gòn khó khăn vì kinh Thoại Hà quá  cạn, nhứt là vào mùa hạn. Hành khách từ Sài Gòn đến Rạch Giá dùng xe lửa Sài Gòn, Mỹ Tho, rồi đi tàu Lục tỉnh từ Mỹ Tho đến Long Xuyên. Từ Long Xuyên, dùng ghe mà chèo  chống qua Rạch Giá.<br />
Để thiết kế tỉnh lỵ, năm 1896, 4 xã Vĩnh Lạc, Vĩnh Hòa (Huề), Vân Tập, Thanh Lương  nhập lại gọi là làng Vĩnh Thanh Vân. Đến năm 1908 mới đặt tên đường sá lại chợ và năm 1910, đưa dự án dùng đèn thắp bằng “ga” ở đường phố.<br />
Tàu buồm Hải Nam ra vào cửa Rạch Giá tấp nập. Vào tháng gió chướng (gió mùa từ  Đông Bắc), nhiều khi 20 chiếc cặp bến một lượt. Ty Thương chánh hoạt động với quyền hạn  không phân định rõ rệt vì cho rằng chỉ chịu sự chỉ huy từ Sài Gòn mà thôi, không can hệ gì  đến nhà cầm quyền ở tỉnh. Năm 1887, viên chức Thương chánh xét bắt Hoa kiều ở chợ, tha  hồ làm tiền vì quả thật các tàu buôn Hải Nam vào bến chở theo á phiện lậu thuế để bán lén theo hệ thống riêng cho các tỉnh miền Tây là nơi tập trung người Huê kiều khá giả. Người  Huê kiều thì ăn chịu với viên chức địa phương. Ngoài ra, viên chức Thương chánh (bấy giờ  gọi là Công—xi) lại còn bắt buộc người làm nước mắm ở hòn Sơn Rái, thuộc tỉnh Rạch Giá phải đóng thuế nhập cảng, lấy cớ trong nước có mắm muối, xem mấy người làm nước mắm  như đã chở muối lậu thuế. Mấy bang Huê kiều yêu cầu đừng đánh thuế quá nặng những  hàng hóa chở từ bên Xiêm vào chợ Rạch Giá, nhưng không được chấp thuận. Bấy giờ, tàu  Hải Nam chở vào nhiều nhứt là vải, từ Xiêm hoặc từ Tân Gia Ba, đặc biệt có loại vải thông dụng (gọi là vải Xiêm, vải tám Hạ, tức là từ Hạ Châu đem đến). Mặc nhiên, hàng hóa xuất  xứ từ Anh quốc lại cạnh tranh với hàng hóa Pháp ! Mấy viên cai tổng đồng thanh phản đối  việc tra xét của mấy ông tây “Công—xi”, khi đồng bào đến chợ theo đường biển phải đi ngang qua Thương cảng. Năm 1886, hải quân Pháp ra tận hònCổ Tron (Poulo Dama) để thám  hiểm nhưng ngoài ấy chẳng có nguồn lợi gì về kinh tế.<br />
Việc bán gạo từ hải cảng Rạch Giá đã có từ đời Mạc Cửu do người Huê kiều đảm trách độc quyền. Dịch vụ xay lúa tổ chức theo kỹ thuật cổ truyền, dùng loại cối to, mỗi cối có bốn  người cầm giàng xay, hai người sàng, một người quạt, một người giần tấm.<br />
Năm 1884, chợ có 6 trại xay lúa, sử dụng gần 40 cối to. Khi tàu Hải Nam gần đến để  ăn gạo, trại hoạt động suốt ngày đêm, dùng toàn sức người. Dọc theo bờ rạch gần mé biển,  người Huê kiều cất khi dự trữ hàng hóa. Tàu Hải Nam đến mua nhiều nhứt là gạo, chiếu,  tiền kẽm, nước mắm, cá khô, mắm ruốc cà ròn (bao bằng vàng), mật, sáp. Họ chở đến tô  chén, bài tứ sắc, vải bô, giấy tiền vàng bạc, mền, thuốc Bắc, pháo, nhang, trái cây khô.<br />
Lần hồi, thương cảng bớt hoạt động. Gạo xay máy từ Sài Gòn chở qua Hương Cảng  bằng tàu máy ít tốn sở phí hơn là gạo xay bằng sức người, chở bằng ghe buồm ở Rạch Giá.<br />
Về đường sá trong tỉnh, mãi đến năm 1907 chỉ thấy vài khúc lộ dở dang. Theo sáng  kiến của tham biện, con lộ từ chợ Rạch Giá đến Hòn Đất thành hình, bắt dân làm xâu,  đường trải đá ong Biên Hòa và trải đất hầm (đất ruộng đốt cho chín rồi đập ra từng cục  nhỏ). Dụng ý của bọn Pháp ở địa phương là đắp đường theo mé biển ăn tới Hòn Đất nơi chúng chọn làm căn cứ nghỉ mát ; từ trên Hòn nhìn ra vịnh Xiêm La, khung cảnh khá thơ  mộng. Điều bất lợi là con lộ này chạy ngang vùng còn rừng tràm, người Miên sống rải rác. Trong tương lai, nhà nước hy vọng là nối lên Hòn Chông thuộc Hà Tiên. Nhưng công tác này  trở thành tốn kém vô ích, khí hậu Hòn Đất không tốt cho lắm, đất hai bên lộ quá xấu, mở  đường mà chẳng ích lợi gì cho việc canh tác ! Bọn Pháp ở địa phương cố duy trì kế hoạch, lấy  lý do là để tới lui giữ an ninh đồng thời làm bờ đê chận nước biển. Lộ bị dẹp bỏ vì rốt cuộc ai cũng nhìn nhận là lãng phí (lộ hãy còn di tích sát theo bờ biển, song song với con lộ Rạch  Giá, Hà Tiên đắp xa biển hơn lúc sau này).<br />
Con lộ thứ nhì là nền móng của lộ Rạch Giá, Cần Thơ. Năm 1907, nối liền tới Minh Lương (khoảng 15 km), trải đá ong và đất hầm. Có kế hoạch nối luôn tới Gò Quao rồi Long Mỹ. Mãi đến năm 1914, lộ Rạch Giá qua Cần Thơ mới tiếp tục khởi công.<br />
Việc chia ra quận (huyện) trở thành cấp bách, tham biện Rạch Giá nêu lý do là dân số  gia tăng, nhiều người từ tỉnh khác đến làm ăn nên khó kiểm soát, diện tích của tỉnh lại quá  rộng.<br />
Vùng ở giáp ranh Cần Thơ và giáp ranh Bạc Liêu, Sóc Trăng cần mỗi nơi một ông phủ  hoặc ông huyện để coi sóc, ngoài ra, cần một quan huyện ở Châu Thành. Năm 1898, tham  biện Rạch Giá nhắc lại ý kiến nên lập một phân khu hành chánh ở ngọn Cái Lớn (nhằm đề  phòng trộm cướp) hoặc lập ở làng Long Mỹ một quận mới. Nhưng cấp trên bác bỏ cho là tốn  thêm tiền xây cất cơ sở hành chánh, mướn thơ ký, mã tà ; nếu tỉnh quá rộng, tham biện chủ tỉnh cứ đi thanh tra bằng tàu máy là đủ rồi. Bấy giờ, việc khẩn hoang chỉ mới xúc tiến, thuế má chưa thâu nhiều. Nhưng đến năm 1907, quận Long Mỹ thành lập ở ngọn sông Cái Lớn,  phía giáp ranh với Cần Thơ. Chủ quận đầu tiên là Maurel nắm nhiều quyền hạn quan trọng. Quận Gò Quao thành lập, trên con dấu ghi mấy chữ nho “Đại Hà huyện” (tức là huyện lập ở sông Cái Lớn), quận Giồng Riềng ghi là Tiểu Hà huyện (sông Cái Bé), quận  Châu Thành tại chợ thì thêm mấy chữ nho “Kiên Giang phủ”.<br />
Việc phân chia ra tổng cũng chưa hợp lý và gây nhiều phiền phức : riêng tổng Thanh  Bình, năm 1907, rộng đến 250.000 mẫu tây (trong khi tỉnh Bến Tre chỉ có 164.000 mẫu,  tỉnh Gò Công 62.698 mẫu diện tích vào năm 1922), ăn từ vịnh Xiêm La đến ranh Sóc Trăng.  Riêng làng Đông Thái (thuộc về tổng này) dài cỡ 30 cây số từ rạch Thứ Năm đến rạch  Mương Đào, lý do chánh là đất quá rộng, dân ít, còn nhiều rừng, xóm này xa cách xóm kia. Bấy giờ, cai tổng tha hồ xử kiện theo ý thích, xã trưởng thì không thèm đi “hầu việc” quan trên, viện lý do là biển động, đi sợ ghe chìm hoặc nộp thuế thì sợ bị ăn cướp dọc đường.<br />
Đại khái, Rạch Giá là tỉnh chậm phát triển về đường sá, dân trí kém mở mang, thua  xa các tỉnh miền Tiền giang hoặc gần Sài Gòn nơi mà nhà nước thực dân đã chú ý thiết kế từ trước năm 1900. Mãi đến 1910, 1911 hương chức làng ở Rạch Giá mới bắt đầu có con dấu  bằng đồng để đóng vào công văn.<br />
<strong><span style="color:#990000;">Những rắc rối đầu tiên trong việc khẩn đất<br />
</span></strong>Chủ tỉnh Rạch Giá báo cáo cho Thống đốc Nam kỳ ngày 17/3/1898 :<br />
— Trên nguyên tắc, mỗi làng phải có địa bộ và điền bộ. Nhưng ở Rạch Giá trước năm  1891 không nơi nào có địa bộ. Một số hương chức làng tự ý lập địa bộ, vẽ bản đồ chia ra từng sở đất, ghi tên chủ đất nhưng thường là ghi tên “ma”, ai đến xin khẩn thì bảo là hết đất,  nếu muốn thì làng sẽ đứng làm trung gian mua lại giùm cho. Hương chức làng tự ý sửa chữa, sang tên các sở đất, hậu quả là địa bộ ở làng trên nguyên tắc là bản phụ, lại không giống với địa bộ (bản chánh) nạp ở tỉnh.<br />
— Ai muốn sao lục địa bộ (có giá trị như bằng khoán đất) thì làng đòi ăn hối lộ rồi mới  chịu sao.<br />
— Chủ tỉnh nhắc lại nguyên tắc : mọi sửa đổi về ranh giới hoặc tên người chủ sở đất đều  phải được phép của chủ tỉnh (theo nghị định 6/3/1891, chủ tỉnh là người quản thủ địa bộ).<br />
— Để cứu vãn tình thế, chủ tỉnh Rạch Giá yêu cầu Thống đốc cho thành lập một ủy ban  gồm một chủ tỉnh từ tỉnh khác đến làm chủ tịch, một viên kinh lý (họa đồ) cũng là cai tổng  và hương chức sở tại để tu chỉnh, lập địa bộ mới cho tỉnh.<br />
— Không làm được việc ấy thì dân ở tỉnh khác không xuống Rạch Giá đông đảo như trước nữa. Trong hiện tại, đa số người chiếm giữ đất để canh tác không có bằng khoán hợp  pháp, còn những người tranh chấp thì chẳng có giấy tờ gì để chứng minh.<br />
— Không lập được địa bộ thì dân làng chỉ làm công cho thiểu số người có thế lực hưởng  huê lợi.<br />
Nhiều vụ tranh chấp xảy ra.<br />
Dân khẩn hoang thoạt tiên tin rằng nhà nước cho phép họ làm ruộng trước rồi sẽ khai  báo để hợp thức hóa về sau, với điều kiện khẩn không quá 10 mẫu (gọi là đất công nghiệp).  Làm sao người dân hiểu rành cách thức làm đơn và dám ra tỉnh lỵ để hầu quan chủ tỉnh ?  Đường xa, lắm khi hơn 70 cây số, ra chợ lại không biết thưa bẩm với ai. Vài người hiểu luật  lệ đã chịu khó chạy chọt, tìm cách giựt đất.<br />
ở làng Vĩnh Hưng, năm 1904, một viên thông ngôn tòa án đang ăn lương lớn lại xin  nghỉ việc để tranh cử chức cai tổng, chưa đắc cử là cho vợ đứng đơn xin khẩn chồng lên mấy  sở đất mà người khác đã ruồng phá thành khoảnh từ trước. Vai trò của cai tổng khá quan trọng khi lập địa bộ cấp đất, vì là một ủy viên. Năm 1903 chủ tỉnh rất áy náy vì tình trạng  chiếm đất, do thiểu số nhiều uy thế và rành luật lệ. ở làng Lộc Ninh, nhiều sở đất có rừng tràm tốt hoặc có người đang canh tác lại bị kẻ lạ mặt làm đơn xin trưng khẩn. Chủ tỉnh ra lịnh cho cai tổng Thanh Bình cứ ghi tên những người thật sự đang canh tác và cho họ được  ưu tiên vào bộ.<br />
Theo thủ tục bấy giờ, hễ vô đơn xin tạm khẩn thì mặc nhiên được cấp cho một biên lai. Với tấm biên lai có chữ ký của chủ tỉnh, bọn gian hùng cứ đến địa phương mà tranh cản, tự nhận là sở hữu chủ, với diện tích rộng hơn. Ai năn nỉ thì họ bán tấm biên lai với giá cao, bảo đó là tờ bằng khoán chánh thức.<br />
Khi hay tin kinh xáng Xà No sắp đào nối liền qua Rạch Giá, nhiều ông hội đồng, cai  tổng, thân hào đã vội làm đơn xin khẩn, căn cứ vào bản đồ con kinh mà họ biết trước. Luôn  luôn họ dành phía mặt tiền, giáp với bờ kinh. Chủ tỉnh bác những đơn ấy không phải vì thương dân, chẳng qua là muốn dành cho bạn bè, hoặc cho kẻ nào dám dâng tiền bạc hối lộ.<br />
Có người vội cho rằng Pháp bày ra việc cử Hội đồng quản hạt, địa hạt, cai tổng chỉ là để mua chuộc một số người Việt háo danh mà thôi. Thật ra, những chức vụ ấy đem lại nhiều  ưu thế trong việc khẩn đất. Nhờ chức vụ mà giao thiệp dễ dàng nên họ biết kế hoạch đào  kinh qua phần đất nào, khi cho trưng khẩn thì họ vô đơn trước. Lại còn trường hợp nếu cho  ai trưng khẩn với diện tích lớn thì họ được hỏi ý kiến. Chủ tỉnh sẵn sàng cho họ quyền ưu  tiên trưng khẩn để bù lại việc họ làm ngơ cho chủ tỉnh chi tiêu phí phạm ngân sách địa phương, hoặc tăng thuế, hoặc xuất công qű tu bổ công sở&#8230; Họ vận động với quan trên, lo  lót tiền bạc để xin phép sắm súng cho bằng được, nhằm mục đích uy hiếp tinh thần dân  chúng khi cần chiếm đất. Khẩn đất cũng là cơ hội cho vài tên đầu cơ, mị dân, gây uy tín cá nhân để ứng cử chức nghị viên Nam kỳ. Vào năm 1912, ký giả thực dân hạng nặng là J. Adrien Marx đến quận Gò Quao để hướng dẫn kẻ bị mất đất làm đơn tố cáo điền chủ và quan chủ quận về tội ăn hối lộ, lấn hiếp dân : 12 người Miên đã khẩn được 108 mẫu từ năm  1907—1908, vô bộ ở làng rồi, thế mà điền chủ lại mướn tay em chừng 70 người đến đánh đập, tịch thâu nông cụ lúc họ đang canh tác. Lại còn bọn kinh lý (họa đồ) Pháp thừa cơ hội và cậy  quyền thế để giựt đất một cách hợp pháp. Năm 1913, ấp Thành Lợi (sau này trở thành làng  Ninh Thạnh Lợi, phần đất cũ của làng Lộc Ninh) được thành lập do 3 người xin khẩn nhưng  ba năm sau, một viên kinh lý người Pháp đến trưng khẩn bao trùm lên và bắt buộc 3 người  nọ phải làm tờ mướn đất như là tá điền. Rốt cuộc theo sự phân xử của chủ tỉnh, 3 người này  thất kiện, mỗi người chỉ còn giữ được 10 mẫu đất công nghiệp, còn bao nhiêu đất dư ra đã  thành thuộc rồi thì phải giao cho viên kinh lý. ở tỉnh lỵ Rạch Giá, có người chuyên sống  bằng nghề trung gian để lo hối lộ. Năm 1916, người nọ xin khẩn 2.000 mẫu ở làng Vĩnh  Bình, nhờ kẻ trung gian đút lót trước 2000 đồng cho chủ tỉnh, xong việc sẽ đưa thêm tiền.  Chủ tỉnh trình việc ấy lên Thống đốc Nam kỳ và bảo rằng phần đất ấy chắc chắn có người  đang khai thác từ lâu. Chủ tỉnh tố cáo, vì số tiền lo hối lộ quá ít hay vì thanh liêm ?<br />
Để làm điền chủ lớn, nhiều người dùng nhiều chiến thuật khác nhau :<br />
— Họ làm đơn với chủ tỉnh, lo lót, ra mặt công khai chiếm đất. Rồi khi tới địa phương,  họ chịu bồi thường chút ít cho người đã khai khẩn từ trước ; hoặc mua lại với giả rẻ lúc  người dân cô thế đang tuyệt vọng thấy mình chẳng bao giờ đủ khôn lanh và đủ tiền bạc để  kêu nài hoặc lo hối lộ.<br />
— Họ không bao giờ đứng tên khẩn đất trong đợt đầu, tránh mọi việc tranh chấp vụn  vặt có vẻ vũ phu và bất lương. Họ đem tiền tới nơi (tiền này thường là tiền vay) để mua đất  trong những năm ruộng thất mùa. Hoặc họ chuyên sống bằng nghề cho vay nặng lời, hoặc chứa cờ bạc để lần hồi bắt con nợ phải bán đất cho họ mà trừ nợ. Họ công khai đưa con nợ ra tòa, với giấy tờ hợp pháp về hình thức : người dân quê dốt chữ khi túng thiếu vì đau ốm, vì  thua cờ bạc đã ký tên, điểm chỉ vào sau khi nghe đọc qua loa nội dung tờ giấy nợ chứa đựng  nhiều cạm bẩy ngặt nghèo.<br />
Kẻ quyền thế thường vận động với các quan lại cao cấp, chịu tốn kém về tiệc tùng để  được khẩn không tiền theo quy chế mà nhà nước dành cho người hữu công : Tổng đốc  Phương hưởng theo quy chế này 2.223 mẫu ở các làng Hỏa Lựu, Hòa Hưng, Vĩnh Hòa Hưng ; Trần Chánh Chiến (sau này cổ húy cho phong trào Duy Tân ở Nam kỳ) khẩn hơn  1000 mẫu ; một nho sĩ họ Trần ở Rạch Giá cũng nhờ Tổng đốc Phương điền chủ ở Trà Vinh  khẩn trong địa phận Rạch Giá trên 1400 mẫu.<br />
<strong><span style="color:#990000;">Những nguồn lợi thiên nhiên</span></strong><br />
Trước khi trở thành ruộng, rừng tràm là nguồn lợi thiên nhiên đáng kể. Vào đời Gia  Long, vùng Rạch Giá được chú ý nhờ sáp ong và cá tôm. Làng Vĩnh Hòa, làng Đông Yên ở  hữu ngạn sông Cái Lớn thành hình từ lâu nhờ nguồn lợi sân chim (sử chép là Điểu đình),  những khu rừng mà hằng năm loại chàng bè, lông ô (còn gọi già sói, marabout) tụ họp về  làm ổ, sanh sôi nẩy nở hàng chục vạn con, thợ rừng đến sân (nơi chim tụ họp) bao vây và giết sống để nhổ lông bó lại đem bán cho tàu buôn Hải Nam. Thuở ấy người Việt cũng như người Tàu đều ao ước có cây quạt kết bằng lông chim, với đứa tiểu đồng đứng hầu quạt phe  phẩy, tiêu biểu cho nếp sống phong lưu. Thuế điểu đình vẫn duy trì, nhà nước thực dân cho  đấu thầu nhưng giá thầu ngày càng thấp, dân giết quá nhiều không chừa chim con. Gặp khi  giông tố bất thường, chim kéo đến khu rừng khác, người thầu không được quyền truy nã theo để khai thác. Người trúng thầu thường là Huê kiều. Họ có hệ thống tiêu thụ ở nước  ngoài : giá thầu là 21.000 quan (1879), 20.000 quan (1880). Việc thầu sân chim có lúc bị bãi bỏ hoặc ngăn cấm. Năm 1908 cho khai thác trở lại. Những năm chót, nhà nước hương chức  làng thầu với giá tượng trưng. Năm 1912, một hội viên của Phòng Canh nông Nam kỳ (cũng  là tay khai thác đất đai nổi tiếng ở Hậu giang) lên tiếng xin nhà nước cấm khai thác sân  chim vì thuế thâu vào chẳng bao nhiêu mà gây tai hại lớn. Theo bài toán của ông ta, chim có đến hàng trăm ngàn con bị giết mỗi năm, mỗin gày một con chim già sói (marabout) ăn  đến 20 con chuột, mất chim thì hàng triệu chuột tha hồ sinh sôi nẩy nở. Đây chỉ là bài toán không tưởng mà thôi.<br />
Mật, sáp ong, cá tôm là nguồn lợi lớn và lâu dài hơn. Khi mới chiếm vùng Hậu giang,  đặc biệt là vùng Rạch Giá, những huê lợi này đều do nhà nước giao lại với giá thầu tượng  trưng cho các ông cai tổng, xem như là hình thức mua chuộc rất có hiệu quả. Các ông cai  tổng cứ chia ra từng sở nhỏ, giao cho bọn tay sai thân tín thầu lại với giá cao. Kế đến là giai đoạn giao cho hương chức làng thầu với giá phỏng định. Năm 1895, hương chức làng thâu lợi quá nhiều đến mức dám hiến lại cho ngân sách tỉnh phân nửa số lời mà họ thu được  (2785 đồng).<br />
Sáp là nguồn lợi làm cho xứ Rạch Giá nổi danh (người Miên gọi là vùng Kramuôn—Sor  tức là xứ sáp trắng) vì thời xưa ổ ong bám vào cây tràm, lâu ngày rụng xuống rồi trôi trên sông, không người vớt. Thời Tự Đức (và có lẽ trước hơn), quan lại địa phương chia rừng tràm ra từng “ngan” tức là từng lô nhỏ, lấy những con rạch thiên nhiên làm ranh giới. Nay hãy  còn dùng làm địa danh. Ngan Trâu, Ngan Dừa, Ngan Rít, Ngan Vọp. Nghề ăn ong gọi là “ăn  ngan”, lô rừng đem đấu thầu gọi là sở phong ngạn (phong là ong, ngạn là bờ ranh). Phong  ngạn tập trung ở những làng nhiều rừng tràm, năm 1905, làng Vĩnh Lộc có tới 19 sở, làng Sóc Sơn 13 sở. Làng Đông Thái có 4 sở to chạy theo địa phận làng, dài cỡ ba mươi cây số.<br />
Chủ tỉnh Rạch Giá thảo ra điều kiện sách nhằm dành ưu tiên cho người khẩn đất làm  ruộng. Điều 2 ghi rõ : “Rừng thì lần lần có người khai phá làm ruộng vì việc canh nông có lợi  hơn, nên sự đấu giá này (đấu giá phong ngạn) không buộc 3 năm, buộc một năm mà thôi.  Nhưng mà chủ ngan phải thưa cho nhà nước biết trước ngày 15/1 kế đó”.<br />
Nghề khai thác phong ngạn lần hồi trở nên khó khăn vì gặp sự tranh chấp của người  làm đơn khẩn ruộng. Thoạt tiên, chủ đất xem khu rừng tràm là của mình, tha hồ đốn cây để  lấy huê lợi đầu tiên. Hoặc dân làng cứ đốn cây, phá rừng. Báo cáo của làng Mỹ Lâm ngày  12/12/1911 cho biết : Năm nay bị thất mùa màng, dân nghèo nàn quá, không có phương thế chi mà làm ăn. Chúng nó cứ việc hạ tràm tươi mà cưa làm củi bán đổi gạo ăn (Hồ sơ Miel et  Cire). Diện tích rừng để khai thác ong mật bị thu hẹp vì thỉnh thoảng rừng cháy, ong bỏ ổ đi  nơi khác.<br />
Nhưng lý do chánh khiến cho nghề phong ngạn suy đồi là trận bão lụt năm Thìn  (1904) khiến đa số rừng tràm bị ngã sập, rễ tràm vì ăn bám trên vùng đất sình lầy nên chịu  đựng không nổi. Tràm ngã xuống, sau này khi cày cấy hễ gặp là đào lên đem về chụm bếp, gọi là tràm lụt (bão lụt). Đối với ngân sách làng và ngân sách tỉnh, đây là sự hao hụt đáng  kể. Để bù vào số thuế phong ngạn, chủ tỉnh Rạch Giá giải quyết bằng cách bắt buộc dân  phải chịu thêm một thứ thuế phụ trội, cộng thêm với thuế thân mà dân phải đóng. ở làng  Mỹ Lâm, trước kia ngân sách dồi dào nhờ thuế phong ngạn, nhưng vì dân bộ quá ít nên khi  chia ra thì mỗi đầu người phải gánh đến bốn đồng.<br />
Sáp là sản phẩm qů, theo lệ xưa và mãi đến khi người Pháp đến, đó là món dùng để lo  hối lộ thông dụng nhứt (gọi khôi hài là “đút sáp”).<br />
Thủy lợi, theo nghĩa là huê lợi cá tôm ở sông rạch được chú ý từ thời xưa. Người Pháp  lúc ban đầu cũng dùng chánh sách mua chuộc cai tổng và hương chức làng bằng cách cho họ  mua lại (tức là thầu) với giả phỏng định.<br />
Rừng tràm phát triển ở nơi đất thấp, vào mùa mưa thì nước ngập tràn. Rừng ở Rạch  Giá và luôn cả rừng tràm ở Hà Tiên, Châu Đốc, Cà Mau có thể so sánh với vùng Biển Hồ ở  Cao Miên về phương diện sinh hoạt của cá tôm. Nước mưa dâng lên, cá lên rừng mà sanh  đẻ, di chuyển. Rừng rậm với con lăng quăng do trứng muỗi nở ra là thức ăn lý tưởng của cá. Khi mùa nắng vừa bắt đầu, gió chướng thổi thì cá biết là nước sắp cạn, từng bầy tìm cách ra sông, xuống rạch để khỏi chết khô. Bởi vậy, rạch ở rừng tràm là nơi tập trung cá; loại cá đồng đắt giá như cá lóc, cá trê chở đem bán nơi xa được, không chết dọc đường.<br />
Dân địa phương từ lâu đã biết các đào đìa. ở vùng cỏ hoang hoặc giữa rừng tràm, cá rút xuống đìa mà sống. Và khi đã quen thói, hằng năm cá lên rừng vào mùa mưa, trở về  rạch, về đìa khi mùa nắng bắt đầu. Nhiều đìa cá của dân làng đào sẵn trong rừng hoang lại  trở thành đìa của điền chủ vì phần đất ấy đã bị trưng khẩn. Đìa đào ở trong rừng thì nhiều  cá nhưng khó đem cá về, lắm khi phải gánh cá hàng năm bảy cây số, nếu đìa ít cá thì bỏ luôn chẳng ai thèm tát (đìa ở xa trong rừng gọi là đìa U Minh theo nghĩa là ở nơi u u minh  minh, tối tăm như địa ngục, mặc dầu không nằm trong vùng U Minh).<br />
Nhà nước bày lệ đấu thầu để thâu thuế nhiều hơn, mỗi lần đấu cho phép khai thác  trong ba năm. Điều kiện sách ghi rõ là sự “ích lợi của nông nghiệp phải trọng hơn các điều  khác” nhưng trong thực tế, việc đấu thủy lợi làm giàu cho một số trung gian. Họ chia ra từng phần nhỏ rồi cho mướn lại với giá cao gấp đôi hoặc gấp ba. Để bắt hết cá, kỹ thuật hữu hiệu nhất là xây rọ với đăng sậy, tùy theo hình thể con rạch mà lựa chọn kiểu rọ thích hợp.  Nhiều cuộc tranh chấp xảy ra, người đấu thủy lợi nếu có thế lực thì cứ phá đập giữ nước  (của kẻ khác đang làm ruộng) để cá trên ruộng chạy xuống rạch, gây nạn lúa háp vì ruộng  bị cạn quá sớm. Hoặc người khai thác thủy lợi làm cản trở lưu thông, ngăn cản không cho  câu cá khiến người địa phương ăn uống khổ cực, thiếu cá làm mắm dự trữ để làm mùa.  Nhiều làng đã xin quan trên bỏ việc cho thầu thủy lợi để dân làng tự do bắt cá mà ăn.  Nhưng khoản dự thâu ngân sách về thủy lợi hằng năm không thể bỏ được, quan trên  thường giải quyết bằng cách bắt buộc mỗi đầu dân đóng thêm năm cắc hoặc một đồng để bù  trừ lại.<br />
Chủ đất có thế lực thường ngang nhiên đắp đập ở ngọn rạch, không cho cá xuống khiến  người xây rọ chịu thất thâu.<br />
Dân Châu Đốc xuống Rạch Giá dạy nghề xây rọ. Dân Gò Công tới vàm biển sông Cái  Lớn phổ biến việc đóng đáy (trước năm 1912).<br />
<strong><span style="color:#990000;">Việc thành lập làng mới<br />
</span></strong>Người nhiều vốn để mộ dân đi khẩn hoang mà dám bảo đảm sẽ đóng đầy đủ thuế thì được nhà nước chấp thuận cho lập làng mới. Đây là nguyên tắc từ thời vua chúa nhà Nguyễn mà thực dân cho áp dụng trở lại để thâu thêm thuế điền và thuế thân. Năm 1894,  việc thành lập làng Vĩnh Hưng cho thấy sự xuất hiện của bọn cường hào mới. Vùng đất này  ở phía nam tỉnh Rạch Giá, giáp ranh Sóc Trăng. Hai người giành nhau lập làng, cả hai đều  là bá hộ nổi danh thời bấy giờ, tuy là người Việt nhưng gốc Hoa kiều.<br />
— Phan Hộ Biết (tục danh là bá hộ Bì) ở Bạc Liêu xin lập làng mới. Dân do ông ta quy tụ sẽ lần hồi đóng thuế cho nhà nước. Ông ta đã xuất tiền túi ra xây cất xong một nhà việc (công sở làng) trị giá 200 đồng.<br />
— Bành Trấn thì đưa kế hoạch đào kinh do chính ông xuất vốn, mướn nhân công. Lại  cam kết rằng sau khi được chấp thuận lập làng thì sẽ có 150 dân công do ông quy tụ, đóng  thuế ngay (thuế này do chính ông xuất ra cho dân mượn trước). Và tuy đất chưa thâu hoạch  huê lợi, ông sẵn sàng chịu thuế điền 1500 mẫu, đóng ngay cho nhà nước. Nếu nhà nước chịu  cho đứng tên làm chủ 1000 mẫu đất thì ông ta hứa bảo đảm đóng thuế cho 300 người trong  những năm tới. Theo lời trong đơn, vùng này còn nhiều voi và trộm cướp, lập làng thì đất  trở thành tốt, thú rừng và bọn bất lương không còn lai vãng. Kế hoạch của Bành Trấn được  Thống đốc Nam kỳ chấp thuận vì Bành Trấn vào đơn trước hơn Phan Hộ Biết. Nhưng lý do  vẫn là vì Bành Trấn chịu đóng thuế ngay, làng Vĩnh Hưng trở thành một tiểu quốc của  Bành Trấn, ông ta bèn bắt buộc bọn tá điền trả lại tiền thuế thân đã ứng trước, rồi cho vay nặng lời. Rốt cuộc tất cả dân trong làng trở thành tá điền, chẳng ai làm chủ mảnh đất lớn  nhỏ nào cả. Đến năm 1911, nhà nước mới can thiệp vì lập làng như vậy là thất nhân tâm, có lợi cho cá nhân đứng lập làng nhưng hại cho nhà nước.<br />
Bởi vậy, khi cho lập làng Ninh Quới vào năm 1913, viên phó tham biện đặc trách quận  Long Mỹ đã tổng kết kinh nghiệm và nhận định về việc bầu cự các hương chức hội tề :<br />
— Trong ban hội tề, chức vụ xã trởng là quan trọng hơn hết, viên chức này giữ mộc ký (triện) của làng. Xã trưởng lựa người thân tín, cho làm chức hương xã, rồi đến chức hương  thân, hương hào. Những chức vụ còn lại thì do xã trưởng nêu điều kiện, ai muốn làm thì cứ thương thuyết, lo hối lộ cho ông ta. Đây là tình trạng lập làng mà không có bầu cử về hình  thức.<br />
— Nếu bày ra hình thức bầu cử, chỉ một thiểu số điền chủ được ứng cử và có quyền bầu  mà thôi. Dân làng không được tham khảo ý kiến. Và dân chỉ muốn cuộc bầu cử diễn ra thật  nhanh, ai làm cũng được, để họ biết ai là người nhận tiền thuế mà họ phải đóng.<br />
— Khi lập làng mới, công việc đầu tiên của hương chức là bắt buộc dân phải ký giấy nợ,  trả lại cho họ những sở phí lập làng (tiền mua bộ sổ, tiền mua tặng phẩm để hối lộ cho quan  trên). Dân không dám cãi lịnh vì họ được khai khẩn vài mảnh đất nhỏ.<br />
Bởi vậy, theo ý kiến của Marcel Roché (phó tham biện đặc trách quận Long Mỹ) thì  nên lưu ý việc sắp đặt hương chức hội tề ở làng mới lập : nếu xã trưởng và hương cả thuộc  một phe với nhau thì nhà nước nên cho người thuộc về phe khác (lẽ dĩ nhiên hai phe này  đều tham nhũng) làm những chức vụ còn lại trong ban hội tề, để khi hai phe nói xấu, tố cáo  nhau thì nhà nước có lợi là biết được sự thật. Nếu chỉ một phe cường hào nắm trọn một ban  hội tề thì dân càng khổ. Cũng theo ý kiến viên phó tham biện này, những người đứng ra sáng lập làng thường đem lá đơn được chấp thuận ấy về địa phương mà dằn mặt dân, rồi bắt đầu lên “ngai vàng mà thống trị như vua chúa”.<br />
Trường hợp một làng khác ở quận Long Mỹ, có viên chức cho 17 người Miên đến khẩn  đất. Họ lo bắt cá, đốn củi, sau bão lụt năm Thìn, cây rừng ngã xuống mới bắt đầu làm  ruộng. Khi đất dọn xong thì mới hay rằng viên chức nói trên đã làm đơn xin khẩn chồng lên  phần đất ấy từ trước, có biên lai. Cũng may là vụ này được giải quyết êm đẹp, dành ưu tiên  cho người Miên vì họ chịu cực khai phá từ trước.<br />
Trường hợp làng quá rộng như làng Đông Thái dài 30 cây số, dân đến cư ngụ lần hồi,  khi đủ số thì những ấp ở xa trở thành làng mới, tách ra lập thêm ba làng là Đông Hưng,  Đông Hòa và Đông Thạnh từ năm 1914.<br />
Lắm khi vì muốn kiểm soát an ninh ở mấy ấp hẻo lánh, nhà nước chấp thuận cho tạm  lập một làng mới. trong giai đoạn sơ khởi, lúc quan kinh lý chưa đến phân ranh thì hương  chức không được thâu thuế, chỉ được xử kiện những vụ nhỏ và sắp đặt dân canh phòng mà thôi : làng Thạnh Lợi tách ra khỏi làng Thạnh Hưng tháng 11/1912.<br />
ở những làng quá đông người Miên, hương chức hội tề có thể ký tên bằng chữ Miên và điều kiện để làm hương chức không cần là phải biết chữ quốc ngữ. Quan trọng nhứt là chức  xã trưởng, chỉ dành cho người hằng sản để có thể bồi thường cho nhà nước trong trường hợp  làm sổ sách sai lạc hoặc gian lận thuế, lấy tiền công nho để cho vay nợ riêng, hoặc cờ bạc  thua. Người biện làng (thơ ký, nhân viên riêng của xã trưởng) lãnh trách nhiệm viết lách,  thảo đơn từ, phúc bẩm báo cáo.<br />
Việc lựa chọn vài người háo danh và khờ khạo để làm hương chức lắm khi là dụng ỳ của những tay có thế lực để dễ dàng thao túng. Tệ đoan lớn ở mấy làng xa quận lỵ là nạn cờ  bạc, chứa chấp bọn trộm cướp do hương chức làng chủ mưu và chia phần. Nhiều ông điền  chủ không thèm vào ban hội tề, khi cần thế lực thì dựa vào quan trên hoặc đứng ngoài, sắp  xếp tay em của họ vào làm hội tề là đủ rồi.<br />
Trong những làng mà đất đai đều do người Pháp làm chủ, về mặt hình thức thì người  Việt Nam vẫn cai trị lẫn nhau nhưng hương chức chỉ là tay sai. Khôi hài nhứt là những báo  cáo của làng gởi lên cấp trên : nếu là trên lãnh thổ của điền Tây thì phải có chữ ký của chủ  điền hoặc của người quản lý thì mới có giá trị. Người “chủ điền Tây” có quyền thị thực chữ ký hoặc xác nhận sự kiện trong công văn của làng. Trong điền của Pháp, việc cử hương chức  hội tề (chỉ định thì đúng hơn) không theo tiêu chuẩn là có hằng sản vì tìm đâu ra một người  có hằng sản ! Năm 1911, vào tháng 9, hương chức làng báo cáo khi chủ quận ra lịnh cử một  người thay thế cho vị hương chủ vừa chết : “Ông A. Isidore mới lập làng, dân làng là người  nghèo nàn và các nơi tới mướn đất làm ruộng cấy, lúa tốt thì nó ở, lúa xấu thì nó trốn đi, dân không có vườn đất tại làng. Xin đình lại tháng Décembre nhằm mùa lúa trổ, làng xét  lại lúa ai tốt là người khá trong làng và lựa người xứng đáng làng mới dám cử”.<br />
<strong><span style="color:#990000;">Vài nét lớn về điền của Pháp</span></strong><br />
Cần nhớ là bấy giờ ở Nam kỳ, danh từ đồn điền không được xài tới vì gợi ý nghĩ không  tốt, trùng hợp với những đồn điền thời đàng cựu mà Pháp chánh thức giải tán (dân đồn điền  thường là dân làm loạn khi người Pháp mới đến). Gọi là điền, kèm theo tên của người chủ,  thí dụ như điền ông La—bách (Labaste) hoặc tên tục như điền ông Kho (Gressier), hoặc khôi  hài hơn : điền Tây Mập, điền Tây Tàu (tên này có tàu riêng để chở lúa) hoặc điền Tây Đầu  Đỏ (tóc đỏ). Nếu là của công ty thì gọi là điền hãng. Người làm chủ đất thì gọi là điền chủ  (gọi “địa chủ” nghe không thanh tao, theo lối nói lái của người miền Nam). Chủ ruộng là  người canh tác trên đất mướn của người khác. Tá điền là người mướn đất làm ruộng (không  gọi là dân cày, vì dân chúng bấy giờ cho là trâu mới cày, người đâu phải trâu mà cày).<br />
Thoạt tiên, nhà nước định hễ người Pháp hoặc người Việt có quốc tịch Pháp khai thác trên mười mẫu thì được hoàn toàn miễn thuế trong 5 năm liền; đến năm thứ 6 là bắt đầu  đóng 1/5 số thuế, cứ như vậy đến năm thứ 10 là đóng trọn. Nghị định ngày 4/1/1894 sửa đổi  lại không miễn thuế 5 năm đầu, ngay trong năm đầu đóng số 1/5 thuế, đến năm thứ 5 là đóng trọn. Nghị định 13/4/1909 cho phép những người Pháp có trên 80 tá điền và khai thác một diện tích ít nhứt là 400 mẫu được quyền lập riêng một làng mới, nếu chủ điền yêu cầu,  dân trong điền được hưởng quy chế “dân điền Tây”.<br />
Với nhiều ưu đãi vừa kể, thực dân Pháp tha hồ làm mưa làm gió. Trước khi có nghị  định trên, từ năm 1906 ở Rạch Giá đã xảy ra một vụ lập làng mới lấy tên là Vĩnh Báu, trên  địa phận của làng Vĩnh Viễn. Chủ điền là trạng sư Doutre cho người quản lý (gọi nôm na là cặp—rằn) đem 70 dân đến lãnh thổ vừa được phép trưng khẩn để lập làng mới. Hương chức  hội tề địa phương can thiệp vì chưa có lịnh chánh thức của quan trên. Người quản lý này  (người Việt) cứ ra lịnh tiếp tục cất công sở mới và xúi dục tá điền cầm dao rượt chém hương  chức làng sở tại !<br />
Thực dân khuyến khích cho người ở xa cũng khẩn đất, trường hợp Nam tước Rothiacob  cư ngụ ở Ba Lê làm đơn xin khẩn ở Vị Thủy (Rạch Giá) phần đất 1357 mẫu, vào năm 1911  vì nghe tin sắp đào kinh ở vùng này, nhưng chỉ được cấp 642 mẫu để rồi không nhận lãnh.  Phần đất tốt này lại được dân địa phương canh tác mà không làm đơn trước vì họ tưởng là  vô chủ. Hai người Pháp là Duval và Guéry (đã có đất ở Cần Thơ) lấn qua đó 80 mẫu, đến  năm 1911, tên Labaste xin trưng khẩn (Labaste nổi tiếng là lãnh chúa với những phần đất  ở Sóc Trăng).<br />
Vài người Pháp lanh lợi và thực tế đã khéo lợi dụng sự ưu đãi để giựt đất của dân hoặc giựt tiền trợ cấp của chánh phủ thuộc địa, điển hình là L. Bélugeaud, kinh lý hữu thệ. Năm  1911, ông ta trưng khẩn 500 mẫu đất ở làng Hưng Điền (Mộc Hòa), xin trợ cấp cho 500 đồng  để thí nghiệm cơ giới hóa nông nghiệp theo một kiểu máy do chính ông ta sáng chế và ráp tại chỗ. Đến nông trại, ông ta nhờ tham biện, nhờ hương chức làng giúp mướn cu—li, mướn  trâu và cất chòi. Khi lãnh tiền, ông ta cho bọn cu—li cày bừa rồi lại báo cáo từng đợt để  hưởng thêm trợ cấp, sau rốt, ông ta bỏ căn chòi xơ xác nọ, bỏ mấy bộ phận sắt vụn đầy sét,  giựt luôn tiền mướn trâu và mướn cu—li. Đến mùa, ông ta hưởng phần hoa lợi do bọn cu—li  canh tác theo lối cổ truyền chừng 30 mẫu. Năm 1913, Bélugeaud đến Rạch Giá mở văn  phòng lãnh đo đạc ruộng đất, bấy giờ muốn có bằng khoán thì phải có bản đồ do chuyên viên  được chánh phủ thừa nhận lập ra. Dịp tốt để Bélugeaud đòi tiền thêm, cao hơn giá mà nhà nước quy định. Và sau khi đo xong, chủ đất phải lo hối lộ thêm 500 đồng thì mới có bản sao  của bản đồ. Trước đó, năm 1909, ông ta tìm cách giao thiệp với các người giàu có ở Rạch Giá,  nhận tiền rồi bảo là để vận động giùm với quan trên, ai muốn khẩn đất to thì cứ đưa nhiều  tiền. Dân địa phương tin lời, vì ông ta là người Pháp. Năm 1913, thấy phần đất giữa làng Lộc Ninh và làng Vĩnh Bình đã có dân khai thác từ lâu nhưng chưa được cấp phát chính thức, ông ta làm đơn xin khẩn 1000 mẫu, với dụng ý bắt buộc dân đang canh tác phải nạp  địa tô cho ông ta.<br />
Một tay khác là Beauville—Eynaud, làm chức còm—mi ở Rạch Giá đã quá chú trọng vào  việc khẩn đất. Khi thấy nhà nước soạn kế hoạch đào kinh xáng giữa Rạch Ngan Dừa và  Cạnh Đền, ông ta xin trưng khẩn 1300 mẫu, khẩn xong, lại khai là mất mùa và không thèm  đóng thuế !<br />
Nhiều người Pháp nhờ bạn bè đứng tên giùm để khẩn thêm đất, hoặc có những viên  chức Pháp không thích canh tác nhưng cứ khẩn để bán lại cho người Việt. Lại còn trường  hợp tên Ernest Outrey (sau này là Thống đốc Nam kỳ) lợi dụng danh nghĩa là nghị viên của Nam kỳ can thiệp với chủ tỉnh để cho bạn bè ông ta được khẩn đất, nói đúng hơn là chiếm  phần đất mà dân quê đã khai phá từ buổi đầu.<br />
<strong><span style="color:#990000;">Đời sống trong điền Tây</span></strong><br />
Điền của người Pháp là một tiểu quốc, người tá điền của điền Tây hưởng quy chế đặc biệt về thuế thân. Họ được chủ đất bảo lãnh, dùng “giấy đỏ” “(carte díengagé, in trên giấy  cứng màu đỏ), thuế thân đóng một đồng bạc thôi, trong khi dân ở thôn xóm làm lụng cho  chủ điền Việt Nam phải đóng cỡ 5 đồng. Họ chỉ đóng thuế chánh, khỏi những thuế phụ trội,  khỏi làm xâu, khỏi đóng tiền canh gác. Để đề phòng trường hợp họ trốn, loại giấy đỏ này  phải được chủ đất hoặc người thay mặt ký tên xác nhận, cứ 3 tháng gia hạn một lần, ai ra khỏi điền mà không có giấy phép đặc biệt của chủ thì bị bắt, xem như chưa đóng giấy thuế thân.<br />
Kẻ ở điền Tây phải làm giấy giao kèo “ở mướn cố công với chủ”, tùy theo điền mà giá cả khác nhau ; mượn tiền, mượn lúa với số lời khá cao nhưng trong giao kèo thì ghi thấp. Người làm ruộng nhiều thì được vay nhiều, tùy theo sự tiến triển của mùa màng mà chủ đất  lần hồi cho họ vay thêm.<br />
Điền tây là nơi chứa chấp đủ thứ tội ác : cờ bạc, hút á phiện lậu, đặt rượu lậu thuế.  Hương chức làng, lính mã tà, nhân viên thương chánh khó bề đột nhập để tra xét nếu không  được phép của người chủ điền Tây. Trong những điền lớn, chủ đất thường vắng mặt quanh  năm, việc quản lý giao cho hai ba người Pháp gọi là “surveillant agricole” được phép mang  súng, lắm khi họ là người Pháp dốt nát (lính sơn—đá nghỉ dài hạn hoặc đã giải ngũ). Lại còn  những cặp—rằn bổn xứ chuyên nghề tuần tra với cây cù ngoéo, có thể đánh đập dân chẳng  khác nào mấy ông hương quản, cai tổng. Điền Tây còn là nơi chứa chấp trộm cướp ; bọn này  hành nghề ở địa phương khác rồi trở về ẩn náu, làm ruộng cho có hình thức. Đôi khi, điền  Tây lại vô tình thâu nhận những chánh trị phạm, những tay phiến loạn bị tập nã từ các  tỉnh miền Tiền giang.<br />
Mùa lúa chín thì chung quanh điền Tây việc canh phòng bố trí nghiêm nhặt như một  cơ sở quân sự. Bọn cặp—rằn đánh mỏ canh tuần ghe xuồng di chuyển gần điền phải bị tra  xét phiền phức. Mục đích là đề phòng bọn tá điền “lưu” lúa ra ngoài bán trước lấy tiền xài riêng, rồi khi chủ điền tới đong, tá điền nói gạt rằng ruộng thất mùa. Người trong điền  muốn chở lúa đem bán nơi khác hoặc cho bà con thì phải xin giấy chứng nhận là đã đóng đủ  địa tô rồi.<br />
Nơi trạm kiểm soát, bọn cặp—rằn treo lá cờ to làm hiệu, tùy sở thích của chủ điền mà cờ này màu đỏ hay màu trắng (bởi vậy dân địa phương căn cứ vào màu cờ mà gọi là điền  Tây Cờ đỏ, điền Tây Cờ trắng&#8230;).<br />
Về mặt trị dân, vài tên chủ điền Tây hoặc cặp—rằng tỏ ra đầy đủ bản lĩnh, thí dụ như họ dám hòa mình với dân Việt : ăn mắm, uống rượu đế, ăn thịt chó, cỡi trâu kình (trâu đua).  Có tay còn gian hùng hơn, rước thày về để làm lễ tống ôn, tống gió, ăn lễ hạ điền, tụng kinh  cầu cho quốc thái dân an với dụng ý cầm giữ dân và phát triển mê tín, óc xôi thịt. Hoặc là ông Tây chủ điền già nua lại mặc áo dài xanh, đội khăn đóng “cúc cung bái” khi cúng đình  thần, với chức vụ là đại hương cả.<br />
Bọn chủ điền Pháp là thế lực khá mạnh, thường đưa ra nhiều yêu sách với chánh phủ  thuộc địa như đòi tham gia Hội đồng địa hạt để bàn bạc hằng năm về giá biểu thuế khóa  trong tỉnh. Trong một bài báo, J. Delpit đòi được miễn thuế “bách thân phụ trội” đánh vào  thuế điền vì thuế này do chủ tỉnh đặt ra, tham khảo với Hội đồng địa hạt An Nam chớ chủ  điền Pháp không được hỏi ý kiến. J. Delpit bảo rằng thuế ấy chỉ dành cho người Việt đóng  mà thôi. Nhà nước thực dân nhận định rằng nếu đưa người Pháp vào Hội đồng địa hạt thì quá đáng : đa số điền chủ Pháp không cư ngụ tại địa phương thì làm sao họ đại diện cho  dân trong hạt được ? Vả lại, đa số điền chủ Pháp đều là công chức hoặc chức sắc của công giáo.<br />
Delphit khoe khoang rằng chủ điền Pháp đã góp công lớn vào việc xây dựng thuộc địa Nam kỳ : Trong vòng 40 năm, họ đã khai khẩn đến 247.417 mẫu (do 300 người chủ đất), cao  hơn diện tích mà suốt 15 thế kỷ qua người Miên và người Việt đã khai khẩn (215.578 mẫu,  năm 1868), chưa kể đến 85.000 mẫu đất trồng cao su. Bên cạnh người Pháp, dân Việt đã  khai khẩn từ 215.578 mẫu năm 1868 đến mức 1.291.358 mẫu vào khoảng năm 1912.<br />
Vào năm 1912, cũng theo con số mà J. Delpit trưng dẫn, Rạch Giá là tỉnh mà người  Pháp có nhiều ruộng đất nhứt : 12.304 mẫu đã canh tác cộng với 26.121 mẫu đang trên đà  khai phá, sắp có huê lợi.<br />
Đứng nhì là Sóc Trăng với 11.246 mẫu đã canh tác của người Pháp và 4.308 mẫu khác đang trên đà khai khẩn thêm. Hạng ba là Cần Thơ với 8.127 mẫu đã khai thác cộng thêm  với 21.931 mẫu đang trên đà khai thác của người Pháp. Tỉnh Rạch Giá cũng đứng đầu về số  người Pháp làm điền chủ : 23 người, (trong số này có 11 vị chức sắc công giáo).<br />
Sống trong điền của Tây hay điền của người Việt sướng hơn ? Câu hỏi này là cái vòng lẩn quẩn : nếu gặp năm thất mùa thì đâu cũng là cực khổ. Chủ đất nào cũng đưa giá biểu địa tô tùy hứng, gom góp ít nhứt là 80 % tổng số lúa thâu hoạch vì ở đâu cũng cho vay nặng  lời, công khai hoặc trá hình.<br />
<strong><span style="color:#990000;">Cuộc tranh đấu của giới đại điền chủ<br />
</span></strong>Từng lớp đại điền chủ bổn xứ thành hình nhờ khẩn đất nhiều và đất tốt, nhứt là phần  đất có nước ngọt từ Hậu giang dẫn qua nhờ kinh đào. Đặc biệt ở phía sông Cái Bé, một mẫu  đất trị giá bằng năm, bảy hoặc mười mẫu ở phía Cái Lớn, nơi nước mặn. Kinh đào biến  nhiều vùng thành ra phì nhiêu, dễ sinh sống, nước ngọt mãn năm. Điền chủ vay nợ để khẩn  đất. Trong vài năm đầu, nếu gặp gió thuận mưa hòa thì lấy vốn được. Hễ thấy đất tốt, tá  điền ít chịu dời chỗ. Đất tốt dầu thất mùa vẫn thu hoạch tương đương hoặc cao hơn nơi đất  xấu vào những năm trung bình.<br />
Trận bão lụt năm Thìn (1904) gây thiệt hại nặng nề cho mùa màng ở Rạch Giá (bấy  lâu, ta chỉ biết rằng thiệt hại to lớn là ở Mỹ Tho, Gò Công mà thôi). Chủ điền lo ngại vì không kiếm ra tiền để đóng thuế điền. Mặt khác, số vốn khá to mà họ đưa cho tá điền vay  lại bị mất luôn. Một số tá điền ngang nhiên bỏ đất, dời qua vùng khác, trong trường hợp  chánh đáng mà điền chủ không có lý lẽ để truy tố được.<br />
Tại Rạch Giá, năm Thìn (1904) xảy ra hai trận bão lớn : 1/5 và 3/11. Năm sau (1905) lại thêm lụt rồi nắng hạn bất ngờ.<br />
Trong điền của Gilbert Trần Chánh Chiếu, mức tổn thất được kê khai như sau với nhà nước :<br />
— Đất ruộng ở làng Thạnh Hòa (Tràm Chẹt nhỏ) 1000 mẫu bị ngập suốt hai tháng liên  tiếp, rồi trận giông ngày 2/11/1904 làm sập nhà cất cho tá điền ở, lẫm lúa bị tốc nóc. Đất khẩn ở phía Hòa Hưng gồm 200 mẫu, hư trọn. Trong hiện tại, cần cấp dưỡng cho 200 tá  điền sống lây lất.<br />
— Từ bốn năm trước, lúa trong lẫm gom từ 20 tới 25 ngàn giạ lúa, năm 1904 chỉ còn  thâu được từ 1000 đến 1500 giạ. Sự lỗ lã ước lượng là 15000 đồng. Xin nhà nước cho vay trợ  cấp, để tiếp tục khai thác.<br />
Đơn kêu nài gởi lên. Chủ tỉnh cho cai tổng tới điều tra, thấy phần đất ở Thạnh Hòa của  Trần Chánh Chiếu trước kia có 125 gia đình tá điền thì nay 42 gia đình đã đào tẩu, còn lại  83 gia đình. Nhà cất cho tá điền ở gồm 93 cái, cộng là 232 căn đã bị sập hết 72 cái, tức là 177 căn. Năm 1904, đất này canh tác 645 mẫu.<br />
Riêng về phần đất ở Hòa Hưng gồm 14 người tá điền, còn lại 3, trốn hết 11. Nên nhớ là ở Rạch Giá chỉ làm ruộng mỗi năm một mùa, người cai quản ruộng đất của ông Chiếu trình  bày trong đơn : “Thiệt tội nghiệp, trong dân tá điền ai ai cũng đều nghèo khổ, đói khát, rách  rưới, ở ruộng thì nhờ ruộng, một năm làm ruộng có một lần, trông đợi có bấy nhiêu song  chẳng đặng, bây giờ phải đợi qua năm khác, lâu không biết bao xa mà nói cho cùng”. Và  hiện tại, dân chỉ biết hy vọng cấy lúa ván ăn đỡ, kiếm chút ít mạ hồi mùa rồi còn sót lại, chặt bớt rễ mạ mà cấy tạm khi nước giựt xuống.<br />
Một linh mục ở họ đạo Trà Lồng gởi thơ lên chủ tỉnh xin miễn thuế, cho biết : vì đường  giao thông khó khăn nên trong điền lúa hạ giá quá thấp dân không bán được, trong khi  những sản phẩm cần thiết thì mua với giá gần gấp đôi ngày thường.<br />
Phong trào tranh đấu chống thuế điền nổi lên, khi chủ tỉnh Rạch Giá hăm he truy tố  vài người chủ điền ra tòa và mặt khác, gởi trát đòi từng người để thúc hối, cảnh cáo. Nhưng  chủ tỉnh cho riêng Thống đốc Nam kỳ biết là không thể nào đòi được số thuế điền trong tỉnh  còn thiếu lại là trên 135.000 đồng. Lại báo tin rằng điền chủ lớn đang xúi giục điền chủ nhỏ đừng đóng thuế điền năm 1905 rồi theo đà ấy, không đóng thuế luôn qua năm 1906.<br />
Tòa án Rạch Giá đã xử làm gương hai vị điền chủ thiếu thuế. Lúc đầu, hương chức  làng mời tới công sở, họ không thèm tới gặp. Ra trước tòa, họ tỏ thái độ ngạo mạn hơn. Khi  được hỏi tại sao mà không tới gặp hương chức làng, họ nói thẳng là “chỉ vì họ không muốn  đóng thuế, và chẳng có ai được quyền bắt buộc họ đóng”, nếu nhà nước đem phát mãi đất  của họ, nhứt định là chẳng ai dám mua (ngụ ý là nếu mua thì sẽ bị họ trả thù). Chủ tỉnh  Rạch Giá còn đưa ra đề nghị nên chia những tổng có diện tích quá rộng ra làm đôi, để có  thêm cai tổng đi thúc thuế. Đồng thời, cương quyết phạt tù kẻ thiếu thuế, đem đất họ ra phát mãi, dán yết thị ở những làng lân cận để người giàu ở tỉnh khác đến đấu giá.<br />
Để đối phó lại, 81 người “điền chủ lớn” ở Rạch Giá đồng ký tên vào đơn, trình cho chủ  tỉnh để xin tha thuế năm 1905, đứng đầu là hai ông Trần Chánh và Huỳnh Thiện Kế (đơn  ngày 29/4/1906) với lập luận sắc bén :<br />
— Muốn trở thành điền (tức là canh tác) một mẫu đất, phải nuôi tá điền 20 giạ lúa và vài ba đồng bạc là tối thiểu.<br />
— Năm rồi (năm Thìn, 1904) chủ điền phải vay bạc của nhà băng Đông Dương mà nuôi  nhân điền (tá điền).<br />
— Như hạt Sa Đéc là chỗ điền thổ đã khai mở lâu năm thành khoảnh mà nhà nước còn  chuẩn cho các chủ điền đóng thuế hạng nhứt sụt hạng nhì, hạng nhì sụt hạng ba, còn hạng  ba thì tha thuế trọn, huống chi là hạt Rạch Giá là hạt mới khai mở không đặng 10 năm, và  phần nhiều trong số điền thổ khai phá không đặng 4 năm nay.<br />
— Nhà nước đã hứa miễn thuế cho điền chủ nghèo, còn với điền chủ lớn thì đợi lúa thóc  gặt rồi, cho đóng 1/3. Nay xin tha trọn thuế, vì đất ruộng ở phía sông Cái Bé thất bát 7/10,  nước vừa giựt xuống là bị nắng hạn.<br />
— Yêu cầu nhà nước áp dụng luật Gia Long về tỷ lệ miễn thuế, luật này được nhà nước  Lang Sa phê ưng và cho thi hành từ năm 1871 : theo đó hễ ruộng thất mùa 1/10, không giảm thuế; ruộng thất 2/10, giảm 1/10; khi thất mùa đến mức 8/10 hoặc hơn nữa thì miễn  trọn thuế.<br />
Kết quả là Thống đốc Nam kỳ chịu miễn thuế cho những ai chưa đóng thuế năm 1904  mà thôi (tức là cho mùa gặt cuối năm 1903). Còn về hậu quả của bão lụt năm Thìn thì đóng  y như cũ. Nhưng điền chủ ở Rạch Giá chưa chịu thua. Họ loan tin rằng nhà nước đã hoàn toàn miễn thuế, khiến cho một số điền chủ bấy lâu rụt rè lại hăng hái lên không thèm đóng.<br />
Theo đề nghị của chủ tỉnh, Thống đốc Nam kỳ cách chức viên cai tổng và phó tổng tổng  Kiên Tường (cả hai đều là người Miên) về tội phao tin thất thiệt là hoàn toàn miễn thuế.  Thật ra, nhà nước chỉ chấp nhận miễn phần thuế quản hạt (budget local) mà thôi, chớ vẫn  thâu trọn phần địa hạt và bách phân phụ trội.<br />
Thống đốc lại cho một viên chủ tỉnh nhiều năng lực là Albert Lorin nghiên cứu vấn đề.  Lorin phúc trình rằng Rạch Giá có 6 tổng, mỗi tổng đều quá rộng nên khó theo sát từng  điền chủ để làm áp lực. Trong vòng hai năm mà ở Rạch Giá lại thay đổi 4 lần chủ tỉnh nên  chánh sách không được liên tục. Theo ý kiến của Lorin, chỉ nên giảm thuế cho chủ điền nhỏ,  chớ chủ điền lớn thì vẫn còn dư tiền để mua đất, khẩn đất thêm : Hiện tại, ở tòa Bố Rạch  Giá còn đến 439 đơn xin khẩn một diện tích là 14.031 mẫu, chứng tỏ điền chủ bốn xứ hãy  còn hăng hái trong việc làm ăn.<br />
Năm 1911, tỉnh Rạch Giá trải qua một cơn mất mùa trầm trọng, nhà nước đành cứu  xét miễn thuế, tuy miễn ít nhưng những ai lì lợm thì cũng bỏ luôn.<br />
Cuộc tranh đấu trên đã bộc lộ một sự thật khách quan : vào năm 1905, giai từng điền  chủ đã thành hình, có tinh thần chống Pháp nhứt là vào những năm kế tiếp khi đa số điền  chủ lớn ở Nam kỳ đều hưởng ứng cuộc Minh Tân (phong trào Duy Tân) do Bùi Chi Nhuận  và Trần Chánh Chiếu điều khiển, ủng hộ ông Phan Bội Châu và ông Cường Để. Điền chủ  trong nước thấy rõ là thực dân pháp ngăn cản không cho họ tiến xa hơn để họ tự do kinh  doanh, trở thành những chủ xưởng, những thương gia như ở bên Nhựt. Thực dân Pháp, thương gia Huê kiều (nắm độc quyền về mua bán, thao túng giá lúa gạo). ấn kiều cho vay  đều là những chướng ngại mà họ muốn san bằng.<br />
Còn vài chi tiết cần ghi nhớ về vai trò của giới điền chủ, không riêng gì cho tỉnh Rạch  Giá :<br />
— Mua nhiều trâu bò từ Cao Miên đem về (từ tỉnh Tà—Keo) nhờ đó mà việc cày cấy  thêm phát triển. Mua sắm nhiều ghe độc mộc từ sông Lớn (Cao Miên, Lào) giúp phương tiện  vận tải.<br />
— Thích sống xa hoa theo lối Pháp, tiêu thụ rất nhiều hàng hóa nhập cảng, nhất là rượu Tây.<br />
— Vào những năm lúa có giá và giá lúa được vững (1928, 1929 luôn cả năm 1930), mức sống lên cao tột bực, điền chủ bực trung ở Hậu giang dư sức cho con qua Pháp du học, có gia đình đi cả hai ba người, học siêng năng thì thành bác sĩ; ăn chơi thì trở thành “công tử”.<br />
— Một số không nhỏ điền chủ ở Rạch Giá là người Minh Hương hoặc Huê kiều. Người  Huê kiều nếu làm điền chủ thì bị đồng hóa, trở thành Việt Nam trong vài năm (khăn đóng  áo dài khi làm hương chức hội tề, cúng đình). Riêng người Huê kiều ở chợ chuyên nghề buôn  bán thì giữ nếp sống riêng.<br />
<strong><span style="color:#990000;">Về đời sống của tá điền</span></strong><br />
Tá điền chẳng có quyền tham dự sinh hoạt chính trị nào cả. Hương ấp, phó quản (gọi  là hương chức nhỏ) do hương chức hội tề chỉ định. Hương chức làng thì do bọn hương chức  chọn lựa lẫn nhau, giới thiệu bà con vây cánh, sau đó được cai tổng và chủ quận chuẩn y.  Cai tổng và phó tổng, ban biện được cử do một số thừa sai (người thay mặt); tùy theo số dân  bộ mà mỗi làng được gởi nhiều hay ít, đổ đồng 50 dân bộ có một người. Các vị thừa sai thay mặt cho dân phải là hương chức làng (trừ xã trưởng, hương thân, hương hào), phó xã hoặc  điền chủ. Hội đồng canh nông, hội đồng địa hạt hoặc hội đồng quản hạt là chuyện riêng của một số hương chức làng và điền chủ đi bầu. Tóm lại, người dân nghèo chẳng bao giờ được đi  bầu cử ai cả.<br />
Hai gánh nặng cho tá điền là thuế thân và xâu (sưu). Thuế thân thời Pháp thuộc được  quy định đồng đều (trừ những năm sau cùng của chế độ thực dân, chia ra người có hằng sản  và người không có hằng sản). Thuế chánh chỉ là mọt đồng bạc nhưng dân phải đóng thêm  một số tiền gọi là bách phân phụ trội cho ngân sách. Số bách phân này thay đổi tùy theo  năm để cho ngân sách được quân bình chi tiêu. Ngoài ra mỗi người phải chịu năm ngày làm  xâu, có thể chuộc bằng tiền, lại còn phụ thâu về thủy lợi, về rừng.<br />
Nếu là dân ở xa tới, chưa vào bộ thì đóng thêm một số tiền gọi là thuế dân ngụ. Tính  trung bình vào những năm đầu thế kỷ, thuế thân cọng thêm các khoản linh tinh vừa kể là 5 đồng, làng này đóng nhẹ nhưng làng kia lại đóng nặng. Nên nhớ là lúc bấy giờ lúa bán vài cắc một giạ, một đứa trẻ chăn trâu suốt năm chỉ được khoảng 10 đồng thôi. Có làng lại đặt  ra thuế nóc gia hoặc quy định tiền chuộc công sưu (đóng tiền để khỏi đi làm sưu) với giá quá  cao, thí dụ trường hợp làng Vĩnh Hòa Hưng, tổng cộng là 8 đồng 3 xu về thuế thân, năm  1914.<br />
Số đông tá điền không đóng nổi thuế thân hoặc không muốn đóng vì suốt năm họ  không có việc gì để đi ra khỏi làng. Thỉnh thoảng lính mã tà vào làng xét hỏi, dân lậu thuế (gọi là trốn xâu lậu thuế) chạy trốn ngoài ruộng hoặc vô rừng mà ẩn náu. Bị bắt về tội thiếu  thuế thân là 5 ngày tù với 15 quan phạt vạ. Khi mản tù phải đóng thuế, ai không tiền thì  làm cu—li cho nhà nước tại chợ lấy tiền mà bù vào.<br />
Người nào trốn thuế quá lâu mà muốn vô bộ thì hương chức giải quyết bằng cách ăn hối lộ rồi cấp cho một giấy thuế thân mà làng đã xin cho người khác (nhưng người ấy đã  trốn, bỏ làng). Trường hợp thay đổi tên họ như thế thường xảy ra. Gặp năm mất mùa hễ  không đóng nổi thuế thân và không trả được địa tô cho chủ điền thì cứ trốn qua xứ khác mà  làm ruộng lưu động, để rồi tiếp tục dời chỗ (gọi nôm na là làm ruộng dạo, làm ruộng hàng  xáo).<br />
Ngao ngán nhứt cho người dân là việc làm xâu. Trong những năm cần đào kinh hoặc đắp đường, nhà nước trưng dụng quá thời hạn 5 ngày mà luật đã định. Cai tổng và hương  chức lợi dụng để bắt nạt tống tiền, ai muốn ở nhà thì lo hối lộ. Mãn hạn thì người làm xâu  được về nhưng hương chức thường bắt buộc làm thêm vài ngày (trường hợp làm đường lộ  Rạch Giá, Hòn đất năm 1905). Năm 1911, khi bày việc đào kinh từ rạch Cái Su đến rạch  Thứ Nhứt, dân phải làm đến 20 ngày, tự túc đem theo ky, cuốc, xuổng, gạo, nhà nước không  cấp phát gì cả. Trong vài trường hợp nhà nước có cấp phát tượng trưng bằng tiền mặt.  Người ở gần sông, đặc biệt là ở phía sông Cái Lớn hoặc Cái Bé tiếp giáp qua Cần Thơ lại  phải làm xâu vớt lục bình, đề phòng sông rạch bị chận nghẹt, ghe thuyền khó qua lại. Thời  thực dân hễ gom dân làm xâu, trong văn kiện làng công khai gọi là “đuổi dân xâu ra nhà việc”. Khi phóng lộ hoặc tiếp tay với nhân viên Công chánh đắp lộ, dân phải làm cu—li với  giá rẻ, nhiều người bỏ trốn.<br />
Người Miên khổ cực hơn người Việt. Trong những địa phương người Miên quá đông,  hương chức làng đa số là người Miên. Họ bị cai trị hteo lối phong kiến đặc sệt. Khi bị đòi tới  làng, tới quận là họ sợ bị tù. Khi cần hợp thức hóa đất ruộng mà họ dày công khai phá, họ  lại vắng mặt. Họ ít khi dám đòi hỏi quyền lợi chánh đáng, thà chịu thua thiệt mà được ở  nhà.<br />
Thực dân Pháp khinh thường người Miên ra mặt. Trừ một số ít người mang họ (Sơn,  Thạch&#8230;) do ông bà truyền lại từ đời Tự Đức, hoặc lai Tàu (họ Trần, họ Lý nhưng không có chữ lót) thì tất cả đều không họ. Trong bộ sổ, cứ gọi tên này tên kia (Danh), đàn bà thì gọi là Thị.<br />
Trong công tác khẩn hoang, người Miên góp công lao đáng kể. Họ làm công hoặc làm tá  điền cho người Việt, dầm mưa dãi nắng rất dẻo dai, sở trường của họ là chèo ghe, đốn tràm,  đào mương, tát đìa bắt cá. Đàn bà Miên giỏi về cấy và gặt lúa, gặt cấy rất kỹ lưỡng và vén  khéo tuy chậm chạp. Gia đình Miên nào nghèo thì khó tả : ngủ nóp, hoặc ngủ trần với bếp  un, ở nơi muỗi mòng mà nhiều đứa trẻ từ khi lọt lòng đến tuổi mười hai mười ba vẫn ở trần  ở truồng, không biết áo quần là gì, ăn uống quá đạm bạc. Vài người đã mất đất vì ham cờ bạc, quá cao hứng lúc uống rượu say nên sẵn sàng điềm chỉ vào bất cứ giấy nợ hoặc giấy bán đất. Về thuế thân thì mười người trốn hết bảy tám.<br />
Đặc biệt là ở Rạch Giá, người Huê kiều lại tích cực khẩn hoang với sở trường là làm rẫy ở đất giồng ven sông Cái Lớn và Cái Bé (những giồng này gọi là thanh lang). Họ có mặt  tại xứ Rạch Giá từ đời Mạc Cửu nhưng con cháu số người cố cựu ấy đã trở thành Việt Nam  từ lâu đời rồi. Đợt người sang cư trú khi Pháp đến gồm đa số là người Triều Châu. Theo  bảng kê khai vào tháng giêng năm 1906, tỉnh Rạch Giá có :<br />
Quảng Đông 266 người<br />
Hẹ (Akas) 17 người<br />
Hải Nam 331 người<br />
Phước Kiến 108 người<br />
Triều Châu 876 người<br />
Người Triều Châu làm rẫy cư ngụ thành xóm đông đúc, siêng năng không ai bì kịp, ăn ít, làm việc thì nhiều, bất chấp giờ giấc. Khóm (thơm) ở Tắc Cậu, khoai lang ở Ngả Ba Đình,  khoai lang ở Trà Bang (Long Mỹ), ổi ở Bến Nhứt một dạo nổi danh toàn cõi Hậu giang. Đa  số nghèo khó, không được quyền làm thừa sai để bầu cử ông Bang vì muốn làm thừa sai thì  phải có hằng sản, đứng bộ điền hoặc đóng thuế môn bài. Họ cưới vợ Việt, gặp năm rẫy thất  mùa, đời sống nói chung là cơ cực vì còn phải trả tiền mướn đất rẫy.<br />
Thuế thân của Hoa kiều cao gấp ba lần thuế của người Việt. Người nào làm ăn khá,  còn sức khoẻ thì Bang trưởng đứng ra bảo đảm đóng thuế giùm, sau này trả lại. Nhưng gặp  trường hợp quá nghèo, đau yếu thì chẳng ai dám bảo lãnh giùm cả. Thiếu thuế nhiều năm  liên tiếp, theo luật là bị trục xuất về Trung Hoa. Người thiếu thuế 4 năm nếu bị bắt thì phải đóng 62 đồng, cộng thêm 30 đồng tiền phạt. Một số làm ăn thất bại, trốn xuống tàu buồm  Hải Nam mà đến xứ khác như qua Xiêm, Mã Lai, rủi bị trục xuất về Tàu thì xảy ra cảnh  chồng Bắc vợ Nam. Huê lợi về rẫy không được bền, sau năm bảy năm, họ trồng các loại  khác, kém huê lợi hơn vì đất lần lần mất chất màu mỡ. Người quá nghèo không còn bà con  bên Tàu thì cố gắng ở lại xóm rẫy. Trong trường hợp thiếu thuế, họ đành tự giam hãm trong  làng, lo hối lộ từng chập cho hương chức hội tề để khỏi bị bắt. Hoặc dời chỗ, cải trang như trường hợp của người mang tên là Trần Văn Sơn, 60 tuổi, người Triều Châu để búi tó, mặc quần áo như người Việt Nam bị bắt vào tháng chạp 1914 ở Gò Quao vì bị tình nghi là theo  Thiên Địa Hội. Ông này khai thật rằng qua Việt Nam hồi năm 38 tuổi, ở Bạc Liêu làm ăn 3  năm, ở Cần Thơ 8 năm, ở Cà Mau 3 năm, ở Rạch Giá từ 3 năm qua nhưng rốt cuộc làm ăn không khá, đành mua tấm giấy lão của người Việt tên Phạm Văn Lê. Vì sợ tung tích bại lộ  nên ông ẩn lánh ở sốc người miên.<br />
Về tình trạng của nông dân nghèo năm 1908, nhà cách mạng Trần Chánh Chiếu cũng  là điền chủ lớn ở Rạch Giá đã viết bài đăng trên tờ Lục Tỉnh Tân Văn số 42, tháng 9/1908  (hai tháng sau là ông bị bắt vì việc vận động Đông Du). Bài lấy hai câu thơ “Nhị ngoạt mại  tân ti. Ngũ ngoạt khiếu tân cốc” làm nhan đề.<br />
Người Nhiếp di Trung làm bài thơ Mảng Nông có câu thơ rằng : tháng hai bán tơ mới,  tháng năm bán lúa sớm, cắt thịt vá ghẻ nghĩa là đở ngặt vậy chớ khổ cũng hoàn khổ.<br />
Thương hại cho dân nghèo ra thân đi làm tá điền, vì trong tay không có nghề sản nên  mới chui đụt đỡ giấc, nói tiếng làm ruộng chớ kỳ trung đi kiếm ăn cho qua ngày tháng. Làm ruộng gì mà mãn nhứt đại không có dư một hột lúa dính tay, lẽ thì ba năm làm mới có một  năm thiếu ăn, có đâu hụt trước thiếu sau, lúa gặt vừa rồi đã đi lãnh ruộng giao, lãnh công  cấy công phát.<br />
Một năm 12 tháng, làm ruộng thật sự có bốn năm tháng còn bảy tám thán dư linh làm  nghề chi ? Vì không có nghề trong tay nên mới rủ nhau đánh cờ chó, hoặc đi coi đánh cờ bạc, chà lết mòn quần rách áo.<br />
Thương ôi, dốt đặc hơn cá tôm, vụng về hơn trùng dế. Dân nước khác tiếc tới giờ tới phú  như tiền bạc, dân nước mình phí ngày tháng như nước trôi.<br />
Uổng thay, từ già tới trẻ, từ nam tới nữ đều luống những đêm ngày. Nghe ai cho vay thì  mừng hớn hở, hỏi rồi nào lo trông trả. Vì vô nghề nghiệp nên mới sanh tệ trong xứ như thế.  Làm người phải biết thương cái thể diện của mình.<br />
Kẻ thương quê hương phải hết sức giúp cho nền công nghệ thì có ngày trừ đặng việc  tình tệ mới bày tỏ trước đó.<br />
Hơn 20 năm sau, vài học giả Pháp nghiên cứu tình hình kinh tế, tình hình đất đai miền Nam, cách khẩn hoang ở Hậu giang, vấn đề cho vay, việc phân phối đất đai&#8230; rồi đưa  ra vài biện pháp “xây dựng”. Nhưng gẫm lại, việc nghiên cứu của họ chỉ là thương vay khóc mướn, không tiến bộ bằng bài báo trên. Vấn đề chánh là tá điền sống trong tình trạng bán thất nghiệp, ruộng một mùa, độc canh ; kỹ thuật thì không hơn thời vua Tự Đức, nếu không  nói là thời Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp.<br />
Bi thảm nhứt là năm mất mùa, bao nhiêu lúa phải gom lại để trả địa tô để rồi xuất  cảng, trong khi “những người mạnh khỏe, nếu tìm được công việc làm (làm mướn trong xóm)  cũng khó đủ tiền để mua gạo ăn trong ngày, vì giá lúa cứ tăng lên tại địa phương”.</p>
<p>(<em>Xem tiếp Chương II-4</em>)</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/chevietnam.wordpress.com/162/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/chevietnam.wordpress.com/162/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/chevietnam.wordpress.com/162/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/chevietnam.wordpress.com/162/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/chevietnam.wordpress.com/162/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/chevietnam.wordpress.com/162/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/chevietnam.wordpress.com/162/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/chevietnam.wordpress.com/162/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/chevietnam.wordpress.com/162/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/chevietnam.wordpress.com/162/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/chevietnam.wordpress.com/162/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/chevietnam.wordpress.com/162/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/chevietnam.wordpress.com/162/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/chevietnam.wordpress.com/162/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=chevietnam.wordpress.com&amp;blog=7885862&amp;post=162&amp;subd=chevietnam&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://chevietnam.wordpress.com/2009/07/08/ch%c6%b0%c6%a1ng-ii-3-vung-r%e1%ba%a1ch-gia-d%e1%ba%a5t-r%e1%bb%99ng-ng%c6%b0%e1%bb%9di-th%c6%b0a/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/bccd66a218a0b2086db33dbc931d297c?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">chevietnam</media:title>
		</media:content>
	</item>
	</channel>
</rss>
